CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CÁCH TIẾP CẬN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1.1 Những quan điểm về vấn đề môi trường trong lịch sử giáo dục học Lịch sử giáo dục cho thấy đã có những quan điểm trái chiều về yếu tố môi trường. Nếu tục ngữ Việt Nam có câu: “Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài” hay “ gần mực thì đen, gần đèn thì sáng” thì Mạnh Tử, nhà giáo dục nổi tiếng Trung Hoa cổ đại (372-289 TCN) cũng khẳng định: “Nơi ở làm thay đổi tính nết, việc ăn uống làm thay đổi cơ thể. Nơi ở quan trọng lắm thay”.
Rõ ràng, quan niệm dân gian cũng như tư tưởng của nhiều nhà giáo dục từ xa xưa đã muốn nhấn mạnh đến “nơi ở”, hiểu theo nghĩa rộng là môi trường, hoàn cảnh có tác động, gần như quyết định đến việc hình thành nhân cách con người. [3,40] Cũng thế, theo thuyết duy cảm: Môi trường là yếu tố quyết định sự phát triển nhân cách, giáo dục là “vạn năng”. Thuyết này cho rằng trẻ em như “tờ giấy trắng”, môi trường và giáo dục tác động như thế nào thì trẻ phát triển như thế ấy. Đại diện cho quan điểm này là nhà giáo dục người Mỹ - John Locke, ông đã từng phát biểu rằng: “Trẻ em như một tờ giấy trắng và nhà giáo dục có thể viết vẽ bất cứ thứ gì lên đó”.
[4] Nhưng theo thuyết Sinh học hay thuyết Tiền định: Sự phát triển nhân cách do yếu tố di truyền quyết định, môi trường và giáo dục không có vai trò gì trong sự phát triển nhân cách. Đại diện cho quan điểm này là giai cấp tư sản trong thời kỳ đầu của cách mạng tư sản (thế kỷ XVI), họ cho rằng những đứa trẻ da đen hoặc những đứa trẻ xuất thân trong tầng lớp hạ lưu đều không có khả năng được giáo dục thành công. 10 Luan van Khi chủ nghĩa duy vật biện chứng ra đời (thế kỷ XIX) do Mác – Ănghen xây dựng, sau đó được Lê-nin phát triển đã chứng minh rằng: “Bẩm sinh di truyền, môi trường giáo dục, hoạt động của chủ thể, hợp lại thành một chỉnh thể và có tác động đồng bộ đến sự hình thành và phát triển nhân cách, trong đó: - Di truyền đóng vai trò cơ sở tiền đề. - Môi trường đóng vai trò điều kiện.
- Giáo dục đóng vai trò chủ đạo. - Hoạt động cá nhân đóng vai trò trực tiếp quyết định.2 Những quan điểm về vấn đề môi trường trong lịch sử xã hội học Nếu xét “môi trường sống” với góc nhìn “đô thị hóa”, thì chúng ta sẽ thấy tác động rất mạnh của môi trường lên cuộc sống con người được nhìn qua lăng kính của các lý thuyết xã hội. Sự xuất hiện của xã hội học đô thị châu Âu gắn liền với các công trình của hai nhà xã hội học Đức M. Trong một công trình nổi tiếng của mình, M.
Weber chứng minh rằng, cơ cấu xã hội học đô thị góp phần phát triển cá tính con người và do vậy, nó là công cụ cho những biến đổi xã hội lịch sử. Weber nêu đặc trưng của đô thị như một thiết chế xã hội thì G. Simmel lại phát hiện ra những khía cạnh tâm lý xã hội của đời sống đô thị, tính chất chức năng và phi biểu cảm của các tiếp xúc ở đô thị. Nét chung đối với cả hai ông là sự thừa nhận tính phi cá nhân (impersonal) của đời sống đô thị, sự quan liêu và các quá trình lí tính của thị trường là những yếu tố cơ bản của đời sống đô thị.
[6,18] Các nhà xã hội học kinh điển như Max Weber, Emile Durkheim và Henry Maine đã nhấn mạnh tới các chức năng mà các đô thị nắm giữ và các kiểu tổ chức của chúng. Weber cho rằng các đô thị có những chức năng kinh tế, pháp lí và bảo vệ (Weber, 1958). Cũng thế, đóng góp của Durkheim cho xã hội học đô thị có nhiều điểm giống những đóng góp của Weber. Luận điểm chủ chốt của Durkheim cho 11 Luan van rằng các xã hội có tính phức tạp cao được liên kết ở cấp độ chức năng và cấu trúc xã hội có thể được phản ánh trong những cách thức mà con người được phân bố trong không gian địa lí (Schnore, 1958).
[6,19] Maine (1870) cũng giống như Weber và Durkheim, nhìn nhận các đô thị như là những tổ chức chức năng. Nền tảng của tổ chức xã hội này là các khế ước xã hội giữa các thành viên của nó. Trong các xã hội đô thị, vị thế của một người với tư cách là thành viên của một gia đình không quan trọng như một mạng lưới các thỏa thuận và cam kết lẫn nhau. Các khế ước xã hội cho phép con người sống trong những không gian địa lí không mang tính dòng họ và tương tác với những người khác lạ mà đối với họ đó không phải là những cá nhân.
[6,19] Cho đến gần đây, một số nhà xã hội học đô thị với quan điểm “phản đô thị” vẫn tin rằng những điều kiện sống đô thị đã đưa tới những hệ quả tiêu cực đối với cá nhân. Oswald Spengler (1928) cho rằng khi các đô thị càng phát triển lớn lên thì người dân ở đây càng cảm thấy mình khác so với những người dân sống ở nông thôn. Càng về sau, các đô thị càng tách rời khỏi thiên nhiên với những của cải, quyền lực và lôgic của nó. Kết quả là, đô thị mất đi cái “linh hồn tự nhiên” của nó, suy thoái và rốt cục sẽ chết.
Georg Simmel (Wolf. 1950) nhìn thấy đô thị như một tác nhân của sự biển đổi tâm lí và xã hội. Ông cho rằng đời sống đô thị gây ra sự lệch chuẩn và các hành vi tội phạm, nhưng nó cho phép con người một cơ hội để phát triển tối đa những tiềm năng của họ và trở nên tự do. [6,19] Theo Simmel, vì một đô thị là quá lớn nên một người không thể kiểm soát và hiểu được toàn bộ nó một lúc.
Thứ hai, do tính phức tạp của nó, nên khi sống trong một đô thị con người phải vận dụng một năng lượng tâm lí lớn hơn so với khi họ sống ở nông thôn. Đièu này gây ra cho người dân đô thị sự quả tải đối với hệ thần kinh, nhưng họ lại đóng kín sự căng thẳng này và sau đó phản ứng lẫn nhau theo một cách phi biểu cảm, blasé (sự nhàm chán). Tính phi biểu cảm và sự đóng kín 12 Luan van này được Simmel xem như là những cách thức để giảm các kích thích thần kinh ở đô thị, song đó cũng là cách để tạo ra những điều kiện trong đó con người không nhận biết mình như một cá nhân mà chủ yếu chỉ như một phức hợp các vai trò bộ phận, rời rạc. Trong khi sự phức tạp của đô thị có thể tạo ra cho cá nhân sự tự do, nó cũng tạo ra cả sự thải loại, đưa họ ra bên lề xã hội (marginality).
[6,20] Đối với Simmel, đời sống đô thị là đầy tràn những sự không nhất quán. Chìa khóa của những tác động của đời sống đô thị chính là cá nhân. Nền văn hóa được định hướng một cách khách quan của các đô thị đã ép các cá nhân vào trong các loại hình khách thể hóa, làm nảy sinh các vấn đề của nhân cách. Trái lại, việc vun trồng một cảm nhận cá nhân có thể làm cho một người vượt qua được những áp lực của đời sống đô thị, sử dụng những ưu thế của sự đa dạng các lợi ích và các quan hệ đô thị, và nhờ đó, tạo ra “cái tôi” chủ quan, thực sự độc đáo.
Những người đặt nền móng cho truyền thống xã hội học đã xem xét việc tổ chức đời sống đô thị như là một khuôn mẫu khác hẳn về chất so với các khuôn mẫu điển hình ở nông thôn. Điều này được phản ảnh trong các luận điểm của Durkheim, Weber, Maine, Simmel và Spengler. Họ còn kì vọng rằng các hình thức tổ chức của đô thị sẽ sản sinh ra những phong cách sống khác biệt so với nông thôn; con người đô thị cũng sẽ có những kiểu cá tính độc đáo và tình trạng dễ bị chứng rối loạn tâm thần. Điều này được chỉ ra một cách rõ nhất trong công trình của Louis Wirth – “Đặc trưng đô thị như là một lối sống” (Urbanism as a way of life, 1938), trong đó ông cho rằng đời sống đô thị có ảnh hưởng tiêu cực tới cá nhân.
Điều quan trọng nhất trong quan niệm này là ở chỗ nhiều nhà xã hội học tiền bối đã quy trách nhiệm về các hành vi lệch chuẩn và mất trật tự thường thấy ở các đô thị, là do sự phức tạp và các mô hình tổ chức của các đô thị gây ra. [6,21] Nhiều triết lí tiêu cực về đô thị thế kỉ XIX đã sử dụng những lí lẽ để biện minh cho điều này. Các nước Tây Âu công nghiệp hóa và đô thị hóa nhanh đã phải đối mặt với nhiều vấn đề xã hội nghiêm trọng. Chẳng hạn, tỉ lệ tử vong ở đô thị cao 13 Luan van hơn ở nông thôn.
Các chất khí thải sulfur và than trong công nghiệp và sinh hoạt đã gây ra nạn ô nhiễm môi trường, gây tác hại nghiêm trọng tới sức khỏe người dân cũng như cảnh quan kiến trúc đô thị. Nước Mỹ phải đối mặt với các vấn đề của đô thị hóa nhanh ở thời điểm muộn hơn so với châu Âu, song những ảnh hưởng của nó tới điều kiện sống, môi trường, thể chất và tâm lí của người dân đô thị Mỹ cũng không kém phần tồi tệ. [6,20] Những luận điểm trên, sau này đã được phát triển trong trường phái sinh thái học nhân văn (hay sinh thái học đô thị) với các nhà xã hội tiêu biểu như: - Robert E. Park (1864-1944), ông coi xã hội như một cơ thể sống và ông vận dụng thuyết Đác-uyn xã hội để lý giải các hiện tượng xã hội của đô thị, sự khác biệt giữa các nhóm và quá trình đấu tranh giành giật không gian, nơi ở thuận lợi… - Louis Wirth (1857-1952), ông cho rằng 3 yếu tố: quy mô, mật độ, sự không thuần nhất về xã hội tạo ra khuôn mẫu riêng của đời sống đô thị… - Ernest Burgess (1886-1966), ông cho rằng sự phát triển của các công việc, công nghiệp, giải trí… là kết quả của quá trình cạnh tranh, nhằm giành giật vị trí tốt nhất trong thành phố.