CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ 1.1 SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA KẾ TOÁN QUẢN TRỊ 1.1 Khái niệm kế toán quản trị Kế toán là một ngành khoa học xã hội, chuyên ngành nghiên cứu các phương pháp phân loại, đo lường, ghi nhận, tổng hợp, hệ thống các hiện tượng kinh tế, tài chính liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp [4, 11]. Kế toán bao gồm 2 phân hệ: kế toán tài chính và kế toán quản trị. Nếu như ở một số quốc gia như Canada, Mỹ, kế toán quản trị đã trở thành một nghề với những tiêu chuẩn nghề nghiệp xác định (CMA), thì ở Việt Nam, thuật ngữ “Kế toán quản trị” mới chỉ được ghi nhận chính thức trong Luật Kế toán ban hành vào ngày 17/06/2003. Theo đó, kế toán quản trị được hiểu là “việc thu thập, xử lý và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán”.
Theo nhóm tác giả Atkinson, Banker, Kaplan và Mark Young, kế toán quản trị là “một sự cải tiến liên tục về hoạch định, thiết kế, đo lường và điều hành hệ thống thông tin tài chính và phi tài chính để hướng dẫn hoạt động quản trị, thúc đẩy cách cư xử và tạo nên các giá trị văn hóa cần thiết để đạt được chiến lược, chiến thuật và mục tiêu hoạt động của tổ chức” [12, 5]. Theo định nghĩa của Viện kế toán viên quản trị Hoa Kỳ, kế toán quản trị là “quá trình nhận diện, đo lường, phân tích, diễn giải và truyền đạt thông tin trong quá trình thực hiện các mục đích của tổ chức. Kế toán quản trị là một bộ phận thống nhất trong quá trình quản lý, và nhân viên kế toán quản trị là những đối tác chiến lược quan trọng trong đội ngũ quản lý của tổ chức” [3, 28]. Như vậy, tất cả các khái niệm trên đều tập trung vào việc xác định nội dung, mục đích của kế toán quản trị, phân định ranh giới giữa kế toán quản trị và kế toán tài chính.
Mục đích chủ yếu của kế toán quản trị là cung cấp thông tin cho các nhà quản trị trong nội bộ tổ chức để đánh giá, kiểm soát quá trình hoạt động. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2 Sự ra đời và phát triển của kế toán quản trị Quá trình tiến hoá của kế toán quản trị có thể mô tả bằng sơ đồ sau: Giai đoạn 1 – trước 1950, kế toán quản trị chủ yếu quan tâm vào việc xác định chi phí và kiểm soát tài chính, thông qua việc sử dụng các kỹ thuật dự toán và kế toán chi phí. Giai đoạn 2 – vào những năm 1965, sự quan tâm của kế toán quản trị đã chuyển vào việc cung cấp thông tin cho hoạt động lập kế hoạch và kiểm soát của nhà quản trị, thông qua việc sử dụng các kỹ thuật như phân tích quyết định và kế toán trách nhiệm. Giai đoạn 3 – vào những năm 1985, kế toán quản trị tập trung quan tâm vào việc làm giảm hao phí nguồn lực sử dụng trong các quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, thông qua việc sử dụng các kỹ thuật phân tích quá trình và tái cấu trúc hệ thống.
Giai đoạn 4 – vào những năm 1995, kế toán quản trị chuyển qua quan tâm vào việc tạo ra giá trị bằng cách sử dụng hiệu quả các nguồn lực, thông qua việc sử dụng các kỹ thuật đánh giá các yếu tố tạo nên giá trị khách hàng, giá trị cổ đông và đổi mới tổ chức. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 Như vậy, có thể thấy hiện nay kế toán quản trị ở các nước tiên tiến đã phát triển vượt xa khỏi hình thái ban đầu của nó là hệ thống dự toán ngân sách nhằm phục vụ cho việc kiểm soát chi phí. Kế toán quản trị ngày nay đã có những bước tiến rất xa trong những năm cuối thế kỷ 20 để trở thành một bộ phận không thể tách rời của quản trị doanh nghiệp. Kế toán quản trị hiện đại đã chuyển sang một hình thái mới, hình thái phát triển tầm nhìn chiến lược đi kèm với sự hỗ trợ mạnh mẽ của công nghệ thông tin.3 Mối liên hệ giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị Kế toán quản trị và kế toán tài chính là hai phân hệ của hệ thống kế toán trong một tổ chức, cả hai hệ thống kế toán có những điểm giống nhau như sau: - Cùng nghiên cứu và cung cấp thông tin kinh tế - tài chính gắn liền với các quan hệ kinh tế, pháp lý để quản lý, điều hành tổ chức.
- Cùng ghi nhận và thể hiện trách nhiệm, quyền lợi vật chất, pháp lý của tổ chức, nhà quản trị. - Cùng sử dụng thông tin đầu vào trên hệ thống thông tin kế toán căn bản. Tuy nhiên, kế toán quản trị có một số khác biệt so với kế toán tài chính: Đối tượng sử dụng thông tin: Đối tượng sử dụng thông tin khác nhau là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự khác nhau của kế toán quản trị và kế toán tài chính. Kế toán tài chính cung cấp thông tin kinh tế cho các cá nhân và các tổ chức bên ngoài đơn vị quan tâm đến tình hình hoạt động của đơn vị.
Kế toán quản trị cung cấp thông tin cho các nhà quản trị bên trong đơn vị trực tiếp điều hành hoạt động. Mục đích: Kế toán tài chính báo cáo về tình hình tài chính của đơn vị. Kế toán quản trị cung cấp thông tin cho các nhà quản trị nhằm kiểm soát tình hình hoạt động của đơn vị. Tính thời gian: Kế toán tài chính có tính lịch sử, hướng về quá khứ, ghi nhận những sự kiện đã xảy ra.
Mặc dù kế toán quản trị cũng ghi nhận những sự kiện đã xuất hiện, nhưng nó nhấn mạnh vào việc cung cấp thông tin cho các sự kiện tương lai để các nhà quản trị LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 lựa chọn các phương án, đề án dự trù (lập dự toán) và ra quyết định một cách nhạy bén. Ví dụ, nhà quản trị không những muốn biết về giá thành của sản phẩm mà còn muốn biết giá thành kế hoạch của sản phẩm để lập dự toán chi phí nguyên vật liệu và ra quyết định về giá… Tính pháp lệnh: Sổ sách, báo cáo của kế toán tài chính phải lập theo chế độ kế toán thống nhất, nếu không đúng sẽ không được công nhận, do đó kế toán tài chính có tính pháp lệnh. Tính chất của hoạt động kinh doanh, phương thức tổ chức và trình độ quản lý kinh doanh của từng bộ phận trong các đơn vị rất đa dạng và phong phú, do đó sổ sách và báo cáo của kế toán quản trị phải mở cho phù hợp để cung cấp thông tin phục vụ cho việc ra quyết định hợp lý. Vì vậy kế toán quản trị không có tính pháp lệnh.
Loại thông tin: Kế toán tài chính chỉ sử dụng thước đo giá trị, kế toán quản trị sử dụng cả ba loại thước đo: giá trị, hiện vật và thời gian lao động. Đặc điểm thông tin: Kế toán tài chính phản ánh những sự kiện xảy ra trong quá khứ và tuân thủ theo những nguyên tắc kế toán do đó thông tin kế toán tài chính đòi hỏi phản phản ánh một cách trung thực các sự kiện kinh tế đã diễn ra trong quá trình kinh doanh. Vì vậy, thông tin của kế toán tài chính mang tính khách quan, kiểm tra được, đáng tin cậy, nhất quán và chính xác. Kế toán quản trị cung cấp thông tin cho quyết định của nhà quản trị do đó thông tin của kế toán quản trị mang tính chủ quan, linh hoạt, kịp thời và phù hợp theo yêu cầu quản trị.
Phạm vi: Kế toán tài chính tập trung vào toàn bộ đơn vị, kế toán quản trị tập trung vào các bộ phận của đơn vị. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 13 KẾ TOÁN TÀI CHÍNH KẾ TOÁN QUẢN TRỊ Đối tượng Bên ngoài: cổ đông, tổ chức tín Bên trong: nhân viên, ban giám đốc, sử dụng dụng, cơ quan quản lý nhà nước. ban điều hành. Mục đích Báo cáo về tình hình tài chính trong Thông tin về các quyết định nội bộ quá khứ của đơn vị.
của nhà quản trị, kiểm soát tình hình hoạt động của đơn vị. Tính thời Mang tính lịch sử, quá khứ Hướng đến tương lai. gian Tính pháp Bắt buộc bởi luật định, theo các Không bắt buộc theo luật định, hệ lệnh nguyên tắc chung được chấp nhận. thống và thông tin được quy định bởi nhà quản trị để phục vụ cho chiến lược và nhu cầu hoạt động.
Loại thông Thể hiện thông tin bằng thước đo tài Thước đo tài chính, hiện vật, thời tin chính. gian lao động. Đặc điểm Khách quan, kiểm tra được, đáng tin Chủ quan, linh hoạt, kịp thời và phù thông tin cậy, nhất quán và chính xác. hợp theo yêu cầu quản trị.
Phạm vi Mang tính tổng thể, báo cáo tình Mang tính bộ phận, thông tin về các hình toàn bộ đơn vị. quyết định bộ phận trong đơn vị.1 Điểm khác biệt giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị Như đã nói, kế toán quản trị và kế toán tài chính là hai phân hệ của hệ thống kế toán, nội dung của hệ thống kế toán quản trị được lập bởi nhu cầu của hệ thống kế toán tài chính. Báo cáo của kế toán quản trị và kế toán tài chính đều sử dụng chung dữ liệu, đó là dữ liệu được ghi chép ban đầu của kế toán tài chính. Tuy nhiên, các tổ chức cần thiết kế lại dữ liệu để nhằm thoả mãn đầy đủ hơn nhu cầu của các đối tượng trong nội bộ đơn vị.
Ví dụ, tỷ suất sinh lời của công ty là dữ liệu cần thiết cho các nhà đầu tư, nhưng các nhà quản trị lại muốn biết tỷ suất sinh lời của từng loại sản phẩm. Chính vì vậy, hệ thống kế toán phải được thiết kế để có thể cung cấp số liệu về tổng lợi nhuận và lợi nhuận của từng loại sản phẩm. Đây chính là tính linh hoạt của hệ thống kế toán để có thể cung cấp các thông tin khác nhau cho các mục đích khác nhau. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2 TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TRONG CÁC TỔ CHỨC 1.1 Mục tiêu và nhiệm vụ của kế toán quản trị Kế toán quản trị có ba mục tiêu lớn: - Cung cấp thông tin cho việc định giá dịch vụ, sản phẩm nhằm tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp.
- Cung cấp thông tin cho việc hoạch định, kiểm soát, đánh giá và cải tiến liên tục. - Cung cấp thông tin cho việc ra quyết định.