Luận Văn Thạc Sĩ Về Tổ Chức Dạy Học Kiến Tạo Trong Môn Vật Lý 11 THPT

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu tổ chức dạy học kiến tạo quang hình học vật lí 11 với sự hỗ trợ của máy vi tính, nâng cao hiệu quả giảng dạy.

Trường đại học

Trường Trung Học Phổ Thông

Chuyên ngành

Vật Lý

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn
87
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TỔ CHỨC DẠY HỌC KIẾN TẠO VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA MVT

1.1. Lý thuyết kiến tạo trong dạy học

1.1.1. Khái niệm kiến tạo

1.1.2. Quan điểm về kiến tạo trong dạy học

1.1.3. Phân loại lý thuyết kiến tạo

1.1.4. Lý thuyết kiến tạo ngoại sinh

1.1.5. Lý thuyết kiến tạo nội sinh

1.1.6. Lý thuyết kiến tạo biện chứng

1.1.7. Một số mô hình dạy học kiến tạo

1.2. Ảnh hưởng của quan niệm của học sinh trong việc dạy học theo quan điểm kiến tạo

1.2.1. Khái niệm quan niệm của học sinh

1.2.2. Vai trò của quan niệm của học sinh đối với quá trình dạy học vật lí

1.2.3. Vai trò quan niệm riêng của người học đối với dạy học kiến tạo

1.3. Ưu và nhược điểm của dạy học theo lý thuyết kiến tạo

1.4. Sự hỗ trợ của MVT trong dạy học theo lý thuyết kiến tạo

1.4.1. Sử dụng MVT hỗ trợ giai đoạn làm bộc lộ quan niệm sẵn có của HS, tạo tình huống có vấn đề trong dạy học theo quan điểm kiến tạo

1.4.2. Sử dụng MVT hỗ trợ giai đoạn kiểm nghiệm, thảo luận giải quyết vấn đề trong dạy học theo quan điểm kiến tạo

1.4.3. Sử dụng MVT hỗ trợ giai đoạn điều chỉnh quan niệm cũ, hình thành kiến thức mới trong dạy học theo quan điểm kiến tạo

1.4.4. Sử dụng MVT hỗ trợ giai đoạn củng cố, vận dụng kiến thức mới trong dạy học theo quan điểm kiến tạo

1.4.5. Sử dụng MVT hỗ trợ giai đoạn đánh giá hoạt động dạy học

1.5. Cơ sở thực tiễn của việc tổ chức hoạt động dạy học phần “Quang hình học” Vật lí 11 THPT theo quan điểm kiến tạo với sự hỗ trợ của MVT

1.5.1. Thực trạng của việc sử dụng MVT và lý thuyết kiến tạo trong dạy học vật lí

1.5.2. Nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên

1.6. Kết luận chương 1

2. CHƯƠNG 2: VẬN DỤNG LÝ THUYẾT KIẾN TẠO TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC PHẦN “QUANG HÌNH HỌC” VẬT LÍ 11 THPT VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA MVT

2.1. Đặc điểm phần “Quang hình học” Vật lí 11 THPT

2.1.1. Đặc điểm chung

2.1.2. Sơ đồ cấu trúc logic nội dung phần “Quang hình học” Vật lí 11 THPT

2.2. Xây dựng tiến trình dạy học kiến tạo một số kiến thức phần “Quang hình học" Vật lí 11 THPT với sự hỗ trợ của MVT

2.2.1. Xây dựng thư viện hình ảnh, video, flash, phần mềm hỗ trợ dạy học một số kiến thức phần “Quang hình học” Vật lí 11 THPT với sự hỗ trợ của MVT

2.2.2. Quy trình xây dựng tiến trình dạy học kiến tạo một số kiến thức phần “Quang hình học” Vật lí 11 THPT với sự hỗ trợ của MVT

2.2.2.1. Xác định mục tiêu bài học
2.2.2.2. Xác định kiến thức cơ bản, nội dung trọng tâm của bài và sắp xếp theo một logic thích hợp
2.2.2.3. Xác định sự hỗ trợ của máy vi tính trong bài học
2.2.2.4. Xác định các hoạt động chủ yếu trong tiến trình dạy học

2.2.3. Tiến trình dạy học kiến tạo một số kiến thức phần “Quang hình học” Vật lí 11 THPT với sự hỗ trợ của MVT

2.2.4. Tổ chức hoạt động dạy học kiến tạo một số kiến thức phần “Quang hình học” Vật lí 11 THPT với sự hỗ trợ của MVT

2.3. Kết luận chương 2

3. CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM

3.1. Mục đích và nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm

3.1.1. Mục đích của thực nghiệm sư phạm

3.1.2. Nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm

3.2. Đối tượng và nội dung của thực nghiệm sư phạm

3.2.1. Đối tượng của thực nghiệm sư phạm

3.2.2. Nội dung thực nghiệm sư phạm

3.3. Phương pháp thực nghiệm sư phạm

3.3.1. Chọn mẫu thực nghiệm

3.3.2. Quan sát giờ học

3.3.3. Các bài kiểm tra

3.4. Kết quả thực nghiệm sư phạm

3.4.1. Đánh giá tiến trình dạy học

3.4.2. Đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm

3.4.3. Tính toán các số liệu

3.4.4. Kết quả tính toán

3.4.5. Kiểm định giả thuyết thống kê

3.5. Kết luận chương 3

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về Tổ Chức Dạy Học Kiến Tạo Vật Lý 11 THPT

Tổ chức dạy học kiến tạo trong môn Vật lý 11 THPT đang trở thành một xu hướng quan trọng trong giáo dục hiện đại. Phương pháp này không chỉ giúp học sinh phát triển tư duy mà còn khuyến khích sự sáng tạo và chủ động trong học tập. Việc áp dụng máy vi tính (MVT) vào quá trình dạy học kiến tạo mang lại nhiều lợi ích, từ việc tạo ra môi trường học tập tương tác đến việc hỗ trợ học sinh trong việc hình thành kiến thức mới.

1.1. Khái niệm và vai trò của dạy học kiến tạo

Dạy học kiến tạo là phương pháp giáo dục mà trong đó học sinh chủ động tham gia vào quá trình học tập. Phương pháp này giúp học sinh xây dựng kiến thức từ những hiểu biết sẵn có, từ đó phát triển tư duy phản biện và khả năng giải quyết vấn đề.

1.2. Lợi ích của việc sử dụng máy vi tính trong dạy học

Máy vi tính cung cấp nhiều công cụ hỗ trợ học tập, từ phần mềm mô phỏng đến tài liệu trực tuyến. Việc sử dụng MVT giúp học sinh dễ dàng tiếp cận thông tin và thực hiện các thí nghiệm ảo, từ đó nâng cao hiệu quả học tập.

II. Thách thức trong việc tổ chức dạy học kiến tạo Vật lý 11 THPT

Mặc dù dạy học kiến tạo mang lại nhiều lợi ích, nhưng vẫn tồn tại nhiều thách thức trong việc áp dụng phương pháp này. Các giáo viên thường gặp khó khăn trong việc thiết kế hoạt động học tập phù hợp và khai thác hiệu quả các công nghệ hỗ trợ.

2.1. Khó khăn trong việc thiết kế hoạt động học tập

Giáo viên cần có kỹ năng thiết kế hoạt động học tập phù hợp với từng đối tượng học sinh. Việc này đòi hỏi sự sáng tạo và hiểu biết sâu sắc về nội dung kiến thức cũng như phương pháp dạy học.

2.2. Thiếu hụt tài nguyên và công nghệ hỗ trợ

Nhiều trường học vẫn chưa có đủ trang thiết bị và phần mềm cần thiết để hỗ trợ dạy học kiến tạo. Điều này gây khó khăn cho giáo viên trong việc áp dụng MVT vào giảng dạy.

III. Phương pháp dạy học kiến tạo hiệu quả cho Vật lý 11 THPT

Để tổ chức dạy học kiến tạo hiệu quả, giáo viên cần áp dụng các phương pháp dạy học tích cực. Việc kết hợp giữa lý thuyết và thực hành sẽ giúp học sinh dễ dàng tiếp thu kiến thức.

3.1. Sử dụng phần mềm mô phỏng trong dạy học

Phần mềm mô phỏng giúp học sinh hình dung rõ hơn về các hiện tượng vật lý. Việc này không chỉ làm cho bài học trở nên sinh động mà còn giúp học sinh dễ dàng hiểu và áp dụng kiến thức vào thực tiễn.

3.2. Tổ chức thảo luận nhóm trong lớp học

Thảo luận nhóm khuyến khích học sinh chia sẻ ý kiến và quan điểm của mình. Điều này không chỉ giúp học sinh phát triển kỹ năng giao tiếp mà còn tạo ra môi trường học tập tích cực.

IV. Ứng dụng thực tiễn của dạy học kiến tạo Vật lý 11 THPT

Việc áp dụng dạy học kiến tạo trong môn Vật lý 11 THPT đã cho thấy nhiều kết quả tích cực. Học sinh không chỉ nắm vững kiến thức mà còn phát triển kỹ năng tư duy và giải quyết vấn đề.

4.1. Kết quả nghiên cứu từ thực nghiệm sư phạm

Nghiên cứu cho thấy học sinh tham gia vào các hoạt động dạy học kiến tạo có kết quả học tập cao hơn so với các phương pháp truyền thống. Điều này chứng tỏ tính hiệu quả của phương pháp dạy học này.

4.2. Phản hồi từ học sinh về phương pháp dạy học

Học sinh thường cảm thấy hứng thú hơn với các bài học khi được tham gia vào quá trình học tập chủ động. Phản hồi tích cực từ học sinh là động lực để giáo viên tiếp tục cải tiến phương pháp dạy học.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của dạy học kiến tạo Vật lý 11 THPT

Dạy học kiến tạo với sự hỗ trợ của máy vi tính đang mở ra nhiều cơ hội mới cho giáo dục Vật lý 11 THPT. Việc tiếp tục nghiên cứu và phát triển phương pháp này sẽ giúp nâng cao chất lượng giáo dục và đáp ứng nhu cầu học tập của học sinh.

5.1. Tương lai của dạy học kiến tạo trong giáo dục

Với sự phát triển không ngừng của công nghệ thông tin, dạy học kiến tạo sẽ ngày càng trở nên phổ biến. Giáo viên cần liên tục cập nhật kiến thức và kỹ năng để áp dụng hiệu quả phương pháp này.

5.2. Đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo

Cần có thêm nhiều nghiên cứu về việc áp dụng công nghệ mới trong dạy học kiến tạo. Điều này sẽ giúp giáo viên có thêm công cụ và phương pháp để nâng cao chất lượng dạy học.

23/07/2025
Luận văn thạc sĩ tổ chức dạy học kiến tạo phần quang hình học vật lí 11 thpt với sự hỗ trợ của máy vi tính

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TỔ CHỨC DẠY HỌC KIẾN TẠO VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA MVT 1. Lý thuyết kiến tạo trong dạy học 1. Khái niệm kiến tạo Theo Từ điển Tiếng Việt, “kiến tạo” là xây dựng nên. Như vậy, ở đây về mặt ngữ pháp thì kiến tạo là một động từ dùng để chỉ hoạt động của chủ thể tác động lên đối tượng nhằm thực hiện mục đích đề ra) [21].

Quan điểm về kiến tạo trong dạy học Từ nửa sau thế kỉ 19 cho đến nay đã xuất hiện ba lý thuyết học tập có ảnh hưởng đến cả việc nghiên cứu và thực hành giáo dục, đó là thuyết hành vi (Behaviorism), thuyết xử lý thông tin (Information Processing) và thuyết kiến tạo (Contructivism) [42]. Thuyết hành vi xem việc học là quá trình người học đạt được cặp hành động kích thích-đáp ứng. Thuyết xử lí thông tin xem bộ não con người hoạt động tương tự như một máy tính, do đó, học là quá trình tiếp nhận, lưu trữ và xử lí thông tin. Thuyết kiến tạo xem học tập là quá trình người học chủ động xây dựng nên những kiến thức và cách hiểu của riêng mình từ những kinh nghiệm đã có của bản thân.

Quan điểm này tương phản rõ nét với những quan điểm xem việc học là quá trình truyền thông tin thụ động từ người này đến người khác, trong đó học tập chủ yếu là sự thu nhận chứ không phải là sự xây dựng [41], [42], [45], [47]. Tuy cùng chung một tư tưởng cốt lõi này nhưng mỗi nhà nghiên cứu lại có một cách tiếp cận khác nhau về nhận thức luận. Brooks, “Quan điểm về kiến tạo trong dạy học khẳng định rằng học sinh cần phải tạo nên những hiểu biết về thế giới bằng cách tổng hợp những kinh nghiệm mới vào hệ thống những kinh nghiệm mà họ đã có trước đó. Học sinh thiết lập nên những quy luật thông qua sự phản hồi trong mối quan hệ tương tác với những chủ thể và ý tưởng…” [2], [4].

14 Theo quan điểm của Shell, người học tự xây dựng những cấu trúc trí tuệ cho riêng mình về những tài liệu học tập, lựa chọn những thông tin phù hợp, giải nghĩa thông tin dựa trên vốn kiến thức đã có và nhu cầu hiện tại, bổ sung thêm những kiến thức cần thiết để tìm ra ý nghĩa của những tài liệu mới [16]. Theo Fosnot, việc học theo phương diện kiến tạo được xem như một quá trình tự điều chỉnh mâu thuẩn của cuộc đấu tranh giữa những mô hình về thế giới mang tính cá nhân đang tồn tại và một sự thấu hiểu mới khác nó, xây dựng nên những biểu tượng hay những mô hình mới của thực tại, như là sự khám phá tạo ra ý nghĩa của con người với những công cụ và kí hiệu được phát triển về phương diện văn hóa, và sự đàm phán sâu hơn những ý nghĩa đó thông qua các hoạt động xã hội mang tính hợp tác, diễn thuyết và tranh luận [42]. Theo Mcbrien và Brandt, “Kiến tạo là một cách tiếp cận “dạy” dựa trên nghiên cứu về việc “học” với niềm tin rằng: tri thức được kiến tạo nên bởi mỗi cá nhân người học sẽ trở nên vững chắc hơn rất nhiều so với việc nó được nhận được từ người khác” [37].Briner, “Người học tạo nên kiến thức của bản thân bằng cách điều khiển nhữnh ý tưởng và cách tiếp cận dựa trên những kiến thức và kinh nghiệm đã có, áp dụng chúng vào những tình huống mới hợp thành tổng thể thống nhất giữa những kiến thức mới thu nhận được với những kiến thức đang tồn tại trong trí óc” [39]. Theo Kanselaar, De Jong, Andriessen & Goodyear: hàm ý của LTKT là việc người học được khuyến khích để xây dựng tri thức của riêng mình thay vì sao chép nó từ một nguồn đáng tin cậy nào đó như một cuốn sách hay một GV, trong những bối cảnh mang tính thực tế thay vì trong những bối cảnh chính thống và trừu tượng thường thấy trong SGK truyền thống, và hợp tác với những người khác thay vì tự mình hoạt động [46].

Sự thống nhất giữa tính tự chủ của người học và khía cạnh chính thể luận (tìm hiểu sự vật, hiện tượng trong một mối tương quan với tổng thể) đã đặt LTKT ở trong mối liên hệ giữa Tâm lí học và Triết học với vấn đề cơ bản là vai trò của nhận thức luận, bao gồm bản chất của tri thức và con người nhận thức bằng cách nào. Từ đó, Lerman, Kilpartrick, Von Glaserfeld và Wheatley đã xác định hai nguyên tắc cơ bản của nhận thức luận kiến tạo là [42]: 15  Tri thức không phải được tích lũy thụ động, mà là kết quả của sự nhận thức tích cực của mỗi người.  Nhận thức là một quá trình thích nghi để tổ chức và tạo ra ý nghĩa của kinh nghiệm mỗi người. Nó không phải là một quá trình diễn tả một biểu tượng chính xác của bản thể thực tại.

Như vậy có rất nhiều quan điểm về kiến tạo trong dạy học, có thể hiểu một cách tổng quát nhất “Kiến tạo” có nghĩa là xây dựng nên những kiến thức mới dựa trên cơ sở những quan niệm, kiến thức đã có. DHKT có nghĩa là giúp HS giải thích cái mới bằng cách đồng hóa với các phạm trù đã biết và điều ứng các cấu trúc tâm lí cũ cho phù hợp với thông tin mới. Như vậy, học tập có thể được tiến hành bằng cách dựa trên những kinh nghiệm sẵn có của người học để thiết lập những mối quan hệ giữa kinh nghiệm cũ và kiến thức mới. Trong DHKT, kiến thức mới có ý nghĩa quan trọng đối với HS khi được HS xây dựng trong quá trình phá bỏ hoặc thay đổi những quan niệm không phù hợp đã có.

Phân loại lý thuyết kiến tạo Với hai nguyên tắc cơ bản của LTKT, các nhà nghiên cứu đã có những cách tiếp cận khác nhau tạo ra tính phức tạp và đa dạng của LTKT, trong việc phân loại LTKT cũng xuất hiện rất nhiều quan điểm khác nhau.Kansellar chia LTKT ra hai bộ phận cơ bản là LTKT nhận thức (Cognitive Constructivism) nhấn mạnh đến khía cạnh cá nhân với đại diện là Piaget và LTKT văn hóa xã hội (Social-Cultural Constructivism) nhấn mạnh đến khía cạnh văn hóa xã hội với đại diện là Vygotski [46].Ernest phân chia LTKT trong dạy học thành hai loại cơ bản: LTKT cơ bản (Radical Constructivism) và LTKT xã hội (Social Constructivism) [2], [4]. Nhiều nhà nghiên cứu ngoài nước như P. Huber, và trong nước như Đào Thị Việt Anh [1], Nguyễn Quang Lạc [15], Lương Việt Thái [29] đã sử dụng cách phân chia của Moshman. Moshman xác định sự biến thiên của LTKT qua một miền liên tục với hai cực là LTKT ngoại sinh (Exogenous Constructivism) và LTKT nội sinh (Endogenous Constructivism), còn ở vị trí trung tâm là LTKT biện chứng (Dialectical Constructivism).

Lý thuyết kiến tạo ngoại sinh [38], [42], [48] 16 LTKT ngoại sinh nhấn mạnh bản chất bên ngoài của tri thức (Hình 1. Tri thức được xem là một sự tiếp thu và xây dựng lại thực tại bên ngoài. Việc học hay sự thu nhận tri thức là quá trình xây dựng chính xác những mô hình hay biểu tượng bên trong của những cấu trúc bên ngoài trong thế giới thực. Quan điểm này cho rằng “thực tại” có thể nhận thức được.

Quan điểm kiến tạo ngoại sinh xuất phát từ những nghiên cứu ban đầu về nhận thức, chủ yếu là chủ nghĩa khách quan (Objectivism) trong đó tri thức là một thực thể tồn tại độc lập với trí tuệ của con người; quan niệm về cấu trúc trí tuệ (Mental structures), thuyết xử lí thông tin với quan niệm bộ não người cũng lưu trữ và xử lí thông tin giống như máy vi tính. Mô hình dạy học theo lý thuyết kiến tạo ngoại sinh [42] Trong hình 1.1, hình chữ nhật có màu tối ở bên trái biểu diễn những bộ phận có thể nhận biết của thực tại sẽ được HS xây dựng. Tri thức này được GV chia thành những kỹ năng nhỏ rời rạc, sau đó truyền chúng cho HS. Việc dạy hay việc học được xem là thành công nếu sau khi sự truyền đạt kinh nghiệm này xảy ra, HS xây dựng trong tư duy được một biểu tượng chính xác của thực tại bên ngoài (hình chữ nhật có màu tối ở bên phải).

Có thể dễ dàng nhận thấy được tư tưởng về LTKT ngoại sinh ở những nhà nghiên cứu khoa học nhận thức ở giai đoạn đầu. Họ miêu tả việc học như là “một quá trình máy móc hay thụ động – sự thu nhận những hành vi mới, ít nhiều là cái đã 17 xảy đến đối với người học hơn là cái mà người học đã thực hiện hay đạt được” (Phillips & Soltis). Do xuất phát những quan điểm thụ động về việc học như thế, LTKT ngoại sinh chú ý đến sự phát triển các cấu trúc trí tuệ như một sự phản ứng đối với thế giới bên ngoài. Lý thuyết kiến tạo nội sinh [38], [42], [48] LTKT nội sinh nhấn mạnh đến bản chất bên trong của tri thức (Hình 1.

Tri thức được xây dựng từ những cấu trúc trí tuệ có trước chứ không phải từ những kinh nghiệm bên ngoài. Việc học hay sự thu nhận tri thức là sự xây dựng và tổ chức lại những cấu trúc tri thức cũ trong sự soi sáng của những tri thức mới. Vì thế, tri thức không phải là một biểu tượng chính xác của thực tại bên ngoài mà phải là một sự tập hợp của những quá trình và những cấu trúc được phối trí và liên kết lại bên trong để tạo ra hành vi thích nghi. Quan điểm này giả định rằng “thực tại” không thể nhận biết được.

LTKT nội sinh có liên quan nhiều đến học thuyết phát triển nhận thức của Piaget. Theo Piaget, sự phát triển nhận thức là kết quả của những thay đổi tính bất biến của những cấu trúc trí tuệ bên trong, được tạo ra bởi sự hợp nhất và mở rộng những mức độ phát triển nhận thức trước đó vào những mức độ nhận thức mới. Mô hình dạy học theo lý thuyết kiến tạo nội sinh [42] Trong hình 1.2, những cấu trúc tri thức mới được xây dựng từ những cấu trúc có sẵn tri thức có sẵn trong một mối quan hệ tuần hoàn. Những cấu trúc tri thức có sẵn được tổ chức lại nhờ các thay đổi thích nghi để trở thành những cấu trúc tri thức mới.

Những cấu trúc tri thức mới này chịu ảnh hưởng của kinh nghiệm của người học nhưng chúng không phải là kết quả trực tiếp và cũng không phải là một biểu 18 tượng chính xác của những kinh nghiệm này. Cần phải chú ý rằng, hình chữ nhật có màu tối đại diện cho thực tại bên ngoài biểu thị ở hình 1.1 không xuất hiện ở hình 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ