CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TỔ CHỨC DẠY HỌC KIẾN TẠO VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA MVT 1. Lý thuyết kiến tạo trong dạy học 1. Khái niệm kiến tạo Theo Từ điển Tiếng Việt, “kiến tạo” là xây dựng nên. Như vậy, ở đây về mặt ngữ pháp thì kiến tạo là một động từ dùng để chỉ hoạt động của chủ thể tác động lên đối tượng nhằm thực hiện mục đích đề ra) [21].
Quan điểm về kiến tạo trong dạy học Từ nửa sau thế kỉ 19 cho đến nay đã xuất hiện ba lý thuyết học tập có ảnh hưởng đến cả việc nghiên cứu và thực hành giáo dục, đó là thuyết hành vi (Behaviorism), thuyết xử lý thông tin (Information Processing) và thuyết kiến tạo (Contructivism) [42]. Thuyết hành vi xem việc học là quá trình người học đạt được cặp hành động kích thích-đáp ứng. Thuyết xử lí thông tin xem bộ não con người hoạt động tương tự như một máy tính, do đó, học là quá trình tiếp nhận, lưu trữ và xử lí thông tin. Thuyết kiến tạo xem học tập là quá trình người học chủ động xây dựng nên những kiến thức và cách hiểu của riêng mình từ những kinh nghiệm đã có của bản thân.
Quan điểm này tương phản rõ nét với những quan điểm xem việc học là quá trình truyền thông tin thụ động từ người này đến người khác, trong đó học tập chủ yếu là sự thu nhận chứ không phải là sự xây dựng [41], [42], [45], [47]. Tuy cùng chung một tư tưởng cốt lõi này nhưng mỗi nhà nghiên cứu lại có một cách tiếp cận khác nhau về nhận thức luận. Brooks, “Quan điểm về kiến tạo trong dạy học khẳng định rằng học sinh cần phải tạo nên những hiểu biết về thế giới bằng cách tổng hợp những kinh nghiệm mới vào hệ thống những kinh nghiệm mà họ đã có trước đó. Học sinh thiết lập nên những quy luật thông qua sự phản hồi trong mối quan hệ tương tác với những chủ thể và ý tưởng…” [2], [4].
14 Theo quan điểm của Shell, người học tự xây dựng những cấu trúc trí tuệ cho riêng mình về những tài liệu học tập, lựa chọn những thông tin phù hợp, giải nghĩa thông tin dựa trên vốn kiến thức đã có và nhu cầu hiện tại, bổ sung thêm những kiến thức cần thiết để tìm ra ý nghĩa của những tài liệu mới [16]. Theo Fosnot, việc học theo phương diện kiến tạo được xem như một quá trình tự điều chỉnh mâu thuẩn của cuộc đấu tranh giữa những mô hình về thế giới mang tính cá nhân đang tồn tại và một sự thấu hiểu mới khác nó, xây dựng nên những biểu tượng hay những mô hình mới của thực tại, như là sự khám phá tạo ra ý nghĩa của con người với những công cụ và kí hiệu được phát triển về phương diện văn hóa, và sự đàm phán sâu hơn những ý nghĩa đó thông qua các hoạt động xã hội mang tính hợp tác, diễn thuyết và tranh luận [42]. Theo Mcbrien và Brandt, “Kiến tạo là một cách tiếp cận “dạy” dựa trên nghiên cứu về việc “học” với niềm tin rằng: tri thức được kiến tạo nên bởi mỗi cá nhân người học sẽ trở nên vững chắc hơn rất nhiều so với việc nó được nhận được từ người khác” [37].Briner, “Người học tạo nên kiến thức của bản thân bằng cách điều khiển nhữnh ý tưởng và cách tiếp cận dựa trên những kiến thức và kinh nghiệm đã có, áp dụng chúng vào những tình huống mới hợp thành tổng thể thống nhất giữa những kiến thức mới thu nhận được với những kiến thức đang tồn tại trong trí óc” [39]. Theo Kanselaar, De Jong, Andriessen & Goodyear: hàm ý của LTKT là việc người học được khuyến khích để xây dựng tri thức của riêng mình thay vì sao chép nó từ một nguồn đáng tin cậy nào đó như một cuốn sách hay một GV, trong những bối cảnh mang tính thực tế thay vì trong những bối cảnh chính thống và trừu tượng thường thấy trong SGK truyền thống, và hợp tác với những người khác thay vì tự mình hoạt động [46].
Sự thống nhất giữa tính tự chủ của người học và khía cạnh chính thể luận (tìm hiểu sự vật, hiện tượng trong một mối tương quan với tổng thể) đã đặt LTKT ở trong mối liên hệ giữa Tâm lí học và Triết học với vấn đề cơ bản là vai trò của nhận thức luận, bao gồm bản chất của tri thức và con người nhận thức bằng cách nào. Từ đó, Lerman, Kilpartrick, Von Glaserfeld và Wheatley đã xác định hai nguyên tắc cơ bản của nhận thức luận kiến tạo là [42]: 15 Tri thức không phải được tích lũy thụ động, mà là kết quả của sự nhận thức tích cực của mỗi người. Nhận thức là một quá trình thích nghi để tổ chức và tạo ra ý nghĩa của kinh nghiệm mỗi người. Nó không phải là một quá trình diễn tả một biểu tượng chính xác của bản thể thực tại.
Như vậy có rất nhiều quan điểm về kiến tạo trong dạy học, có thể hiểu một cách tổng quát nhất “Kiến tạo” có nghĩa là xây dựng nên những kiến thức mới dựa trên cơ sở những quan niệm, kiến thức đã có. DHKT có nghĩa là giúp HS giải thích cái mới bằng cách đồng hóa với các phạm trù đã biết và điều ứng các cấu trúc tâm lí cũ cho phù hợp với thông tin mới. Như vậy, học tập có thể được tiến hành bằng cách dựa trên những kinh nghiệm sẵn có của người học để thiết lập những mối quan hệ giữa kinh nghiệm cũ và kiến thức mới. Trong DHKT, kiến thức mới có ý nghĩa quan trọng đối với HS khi được HS xây dựng trong quá trình phá bỏ hoặc thay đổi những quan niệm không phù hợp đã có.
Phân loại lý thuyết kiến tạo Với hai nguyên tắc cơ bản của LTKT, các nhà nghiên cứu đã có những cách tiếp cận khác nhau tạo ra tính phức tạp và đa dạng của LTKT, trong việc phân loại LTKT cũng xuất hiện rất nhiều quan điểm khác nhau.Kansellar chia LTKT ra hai bộ phận cơ bản là LTKT nhận thức (Cognitive Constructivism) nhấn mạnh đến khía cạnh cá nhân với đại diện là Piaget và LTKT văn hóa xã hội (Social-Cultural Constructivism) nhấn mạnh đến khía cạnh văn hóa xã hội với đại diện là Vygotski [46].Ernest phân chia LTKT trong dạy học thành hai loại cơ bản: LTKT cơ bản (Radical Constructivism) và LTKT xã hội (Social Constructivism) [2], [4]. Nhiều nhà nghiên cứu ngoài nước như P. Huber, và trong nước như Đào Thị Việt Anh [1], Nguyễn Quang Lạc [15], Lương Việt Thái [29] đã sử dụng cách phân chia của Moshman. Moshman xác định sự biến thiên của LTKT qua một miền liên tục với hai cực là LTKT ngoại sinh (Exogenous Constructivism) và LTKT nội sinh (Endogenous Constructivism), còn ở vị trí trung tâm là LTKT biện chứng (Dialectical Constructivism).
Lý thuyết kiến tạo ngoại sinh [38], [42], [48] 16 LTKT ngoại sinh nhấn mạnh bản chất bên ngoài của tri thức (Hình 1. Tri thức được xem là một sự tiếp thu và xây dựng lại thực tại bên ngoài. Việc học hay sự thu nhận tri thức là quá trình xây dựng chính xác những mô hình hay biểu tượng bên trong của những cấu trúc bên ngoài trong thế giới thực. Quan điểm này cho rằng “thực tại” có thể nhận thức được.
Quan điểm kiến tạo ngoại sinh xuất phát từ những nghiên cứu ban đầu về nhận thức, chủ yếu là chủ nghĩa khách quan (Objectivism) trong đó tri thức là một thực thể tồn tại độc lập với trí tuệ của con người; quan niệm về cấu trúc trí tuệ (Mental structures), thuyết xử lí thông tin với quan niệm bộ não người cũng lưu trữ và xử lí thông tin giống như máy vi tính. Mô hình dạy học theo lý thuyết kiến tạo ngoại sinh [42] Trong hình 1.1, hình chữ nhật có màu tối ở bên trái biểu diễn những bộ phận có thể nhận biết của thực tại sẽ được HS xây dựng. Tri thức này được GV chia thành những kỹ năng nhỏ rời rạc, sau đó truyền chúng cho HS. Việc dạy hay việc học được xem là thành công nếu sau khi sự truyền đạt kinh nghiệm này xảy ra, HS xây dựng trong tư duy được một biểu tượng chính xác của thực tại bên ngoài (hình chữ nhật có màu tối ở bên phải).
Có thể dễ dàng nhận thấy được tư tưởng về LTKT ngoại sinh ở những nhà nghiên cứu khoa học nhận thức ở giai đoạn đầu. Họ miêu tả việc học như là “một quá trình máy móc hay thụ động – sự thu nhận những hành vi mới, ít nhiều là cái đã 17 xảy đến đối với người học hơn là cái mà người học đã thực hiện hay đạt được” (Phillips & Soltis). Do xuất phát những quan điểm thụ động về việc học như thế, LTKT ngoại sinh chú ý đến sự phát triển các cấu trúc trí tuệ như một sự phản ứng đối với thế giới bên ngoài. Lý thuyết kiến tạo nội sinh [38], [42], [48] LTKT nội sinh nhấn mạnh đến bản chất bên trong của tri thức (Hình 1.
Tri thức được xây dựng từ những cấu trúc trí tuệ có trước chứ không phải từ những kinh nghiệm bên ngoài. Việc học hay sự thu nhận tri thức là sự xây dựng và tổ chức lại những cấu trúc tri thức cũ trong sự soi sáng của những tri thức mới. Vì thế, tri thức không phải là một biểu tượng chính xác của thực tại bên ngoài mà phải là một sự tập hợp của những quá trình và những cấu trúc được phối trí và liên kết lại bên trong để tạo ra hành vi thích nghi. Quan điểm này giả định rằng “thực tại” không thể nhận biết được.
LTKT nội sinh có liên quan nhiều đến học thuyết phát triển nhận thức của Piaget. Theo Piaget, sự phát triển nhận thức là kết quả của những thay đổi tính bất biến của những cấu trúc trí tuệ bên trong, được tạo ra bởi sự hợp nhất và mở rộng những mức độ phát triển nhận thức trước đó vào những mức độ nhận thức mới. Mô hình dạy học theo lý thuyết kiến tạo nội sinh [42] Trong hình 1.2, những cấu trúc tri thức mới được xây dựng từ những cấu trúc có sẵn tri thức có sẵn trong một mối quan hệ tuần hoàn. Những cấu trúc tri thức có sẵn được tổ chức lại nhờ các thay đổi thích nghi để trở thành những cấu trúc tri thức mới.
Những cấu trúc tri thức mới này chịu ảnh hưởng của kinh nghiệm của người học nhưng chúng không phải là kết quả trực tiếp và cũng không phải là một biểu 18 tượng chính xác của những kinh nghiệm này. Cần phải chú ý rằng, hình chữ nhật có màu tối đại diện cho thực tại bên ngoài biểu thị ở hình 1.1 không xuất hiện ở hình 1.