phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 2 chƣơng, 6 tiết. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1: NHẬN THỨC CHUNG VỀ LÀNG VIỆT NAM TRUYỀN THỐNG VÀ TÍNH TỰ QUẢN CỦA LÀNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG 1.1 Khái quát về làng Việt Nam truyền thống 1.1 Quan niệm về làng Việt Nam truyền thống Trong đời sống xã hội Việt Nam cổ truyền, “làng xã có vị trí hết sức đặc biệt: “Làng là đơn vị cơ bản hình thành quốc gia dân tộc. Nƣớc (quốc gia) chỉ là tổng số, là kết quả của sự liên kết các làng, xã, là “liên làng”, “siêu làng”. Làng có vai trò gắn kết cá nhân- gia đình- làng xã- Tổ quốc.
Làng là nhân tố giữ vai trò quyết định trong quá trình dựng nƣớc và giữ nƣớc của dân tộc, “còn làng thì còn nƣớc” [49; tr. Làng là khái niệm chỉ đơn vị tụ cƣ của ngƣời Việt Nam từ buổi đầu dựng nƣớc. Nghiên cứu về ngƣời Việt Nam không thể tách rời việc nghiên cứu về làng ở Việt Nam. Cho đến nay, khái niệm làng đƣợc bàn đến ở nhiều góc độ khác nhau.
TS Nguyễn Đăng Dung: “… làng xã phải là nơi đồng quê nhiều gia đình ở quy tụ thành khu đƣợc gọi là xóm, các xóm phân biệt nhau bằng các lũy tre xanh. Trên đƣờng đi vào thƣờng có các cổng xây hoặc tre, đến đêm tối có thể đóng lại đƣợc, để phòng ngừa trộm cƣớp. Hai ba, bốn hoặc có khi là năm, sáu xóm họp thành một thôn gọi là làng” [ 49; tr. Khái niệm này đã cho ta cái nhìn bao quát và tổng thể về làng.
Tác giả đã đi từ đơn vị nhỏ nhất là gia đình rồi đến xóm, tập hợp các xóm tạo thành làng. Thông qua khái niệm, tác giả cũng chỉ ra tên gọi tƣơng đồng với làng là thôn. Tùy theo mỗi vùng miền, địa phƣơng mà làng có những cách gọi khác nhau. Giáo sƣ Từ Chi thì định nghĩa về làng mang tính tổng quát: Làng xã là một đơn vị tụ cƣ, đơn vị kinh tế, đơn vị tín ngƣỡng và sinh hoạt cộng đồng.
Giáo sƣ đã xem xét làng ở nhiều góc độ khác nhau. Khái niệm này cho thấy sự đa dạng của đơn vị làng. Làng không chỉ đơn thuần đƣợc xem xét dƣới một lĩnh vực mà ở tổng thể nhiều mặt, nhiều khía cạnh khác nhau. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Giáo sƣ Phan Đại Doãn cho rằng: “Làng là một điểm dân cƣ, một hình thức công xã nông thôn, có cơ sở hạ tầng cùng cơ cấu tổ chức xã hội riêng, lệ tục riêng… rất chặt chẽ và hoàn chỉnh” [49; tr.
Định nghĩa này có những nét tƣơng đồng với Giáo sƣ Bùi Xuân Đính khi cho rằng: làng là đơn vị tụ cƣ truyền thống của ngƣời nông dân Việt, có địa vực riêng, có cơ sở hạ tầng cùng cơ cấu tổ chức riêng, tục lệ riêng…nhƣng chặt chẽ và hoàn chỉnh nhất. Cả hai định nghĩa này đều nói lên sự khác biệt, đặc trƣng riêng của làng với những đơn vị xã hội khác tạo nên tính khu biệt đặc thù. Theo nhà nghiên cứu Hà Văn Tấn: “Làng là một đơn vị cộng cƣ có một vùng đất chung của cƣ dân nông nghiệp, một hình thức tổ chức xã hội nông nghiệp tiểu nông tự cấp, tự túc, mặt khác là mẫu hình xã hội phù hợp, là cơ chế thích ứng với sản xuất tiểu nông, với gia đình- tông tộc gia trƣởng, đảm bảo sự cân bằng và bền vững của xã hội nông nghiệp ấy. Làng đƣợc hình thành, đƣợc tổ chức chủ yếu dựa vào hai nguyên lý cội nguồn và cùng chỗ.
Một mặt, làng có sức sống mãnh liệt, mặt khác, xét về cấu trúc, làng là cấu trúc động, không có bất biến. Sự biến đổi của làng là do sự biến đổi chung của đất nƣớc qua tác động của những mối liên hệ làng và siêu làng” [85; tr. Khái niệm này bao trùm mọi yếu tố của làng và xét đến cả nguồn gốc hình thành của nó. Nhƣ vậy, làng là một sản phẩm của quá trình định cư và cộng cư của người Việt.
Làng từ một cộng đồng tụ cư trở thành một đơn vị kinh tế- xã hội hoàn chỉnh, một đơn vị kinh tế tự cung, tự cấp của người nông dân. Làng là một đơn vị hành chính cơ sở của tổ chức nhà nước, một không gian sinh hoạt văn hóa độc lập của người Việt Nam. Đồng thời làng là một thiết chế xã hội, trong đó các thành viên liên kết với nhau dựa trên quan hệ huyết thống hoặc địa vực cư trú nhất định và có quan hệ lợi ích chung với nhau. Làng có cơ sở kinh tế, có thiết chế tổ chức tương đối độc lập, có nền văn hóa riêng tạo thành 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com bản sắc riêng của làng.
Nhƣ vậy, làng là sự tổng hòa của các yếu tố kinh tế- chính trị- văn hóa- xã hội, tạo thành sự thống nhất trong tổ chức làng. Làng đƣợc hình thành vào đầu thời kỳ dựng nƣớc, là sản phẩm của nền nông nghiệp lúa nƣớc ở Việt Nam. Ban đầu, làng ra đời là do sự chuyển hóa của các công xã thị tộc, cùng với sự cộng cƣ, khai thác đất đai tại một khu vực của những gia đình nông dân, dựa trên quan hệ láng giềng. Bƣớc vào thiên niên kỉ thứ II TCN, làng xuất hiện ở những miền đất đai của bộ lạc Văn Lang.
Đến thiên niên kỉ I TCN làng đƣợc thành lập trong cả nƣớc, lối sống ở hang nguyên thủy đã căn bản lùi hẳn về phía sau. Tiến ra đồng bằng rộng lớn, bộ phận dân cƣ quan trọng thời Hùng Vƣơng sinh tụ quây quần thành từng cụm, tạo thành làng. Các làng mọc lên, nối nhau và lan rộng. Con ngƣời đã bắt đầu khai phá các đồng bằng phì nhiêu rộng lớn ở các khu vực châu thổ hạ lƣu các con sông.
Nhiều cánh đồng tƣơi tốt dần thay thế cho những bụi rậm hoang vắng, cƣ dân ngày càng đông hơn và tạo thành xã hội rộng lớn hơn. Đấy là những đỉnh gò đồi, chân núi và doi đất vừa cao ráo vừa tiện phòng ngự. Từ đó có thể xuống ruộng, lên nƣơng, vào rừng, ra sông để cấy hái, săn bắt và đánh cá. Nguồn nƣớc cũng ở gần, tạo môi trƣờng thuận lợi để ngƣời dân sinh sống.
Dòng sông lớn và những nhánh sông đã trở thành đầu mối của việc đi lại, vận chuyển và giao tiếp. Khi dân cƣ ngày càng đông, làng đƣợc thành lập nhiều hơn. Dân trong làng đông đúc thì đƣợc nhà nƣớc cho phép tách ra thành lập làng mới theo lệ tách làng, hoặc đứng ra xin phép nhà nƣớc cho tách làng thành làng mới. Nhiều làng đƣợc thành lập do dân di cƣ.
Ngoài ra, phần lớn số làng thành lập về sau là do công cuộc di dân tự động, hoặc có tổ chức của nhà nƣớc nhƣ chính sách khai hoang, lập đồn điền, điền trang thái ấp, chính sách khẩn hoang lập dinh điền. Cũng có một số làng ra đời do chủ trƣơng lập ấp trại của chính quyền đô hộ thời Bắc thuộc. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Do điều kiện tự nhiên, điều kiện lịch sử và đặc điểm của quá trình hình thành, làng ở miền Bắc và miền Trung thƣờng có xu hƣớng co cụm, mang tính phòng thủ cao, còn làng ở miền Nam thƣờng trải dài theo hai bờ kênh rạch, sự giao lƣu trao đổi kinh tế có phần năng động, văn hóa thoáng mở hơn, và ảnh hƣởng của Nho giáo cũng nhạt hơn so với các làng xã miền Bắc. Sự ra đời của làng Việt Nam là một tất yếu, nhằm đối phó với môi trƣờng tự nhiên và môi trƣờng xã hội.
Xuất phát từ một nền nông nghiệp lúa nƣớc với tính thời vụ cao nên ngƣời nông dân thƣờng có xu hƣớng sống quây quần lại nhằm giúp đỡ nhau trong sản xuất và chống chọi với thiên nhiên. Đặc biệt, công tác trị thủy đòi hỏi phải có sức mạnh tổng hợp nên mọi ngƣời đã gắn kết, hợp tác với nhau, cùng lao động và chung sống trong những địa vực nhất định. Bên cạnh đó, sự liên kết của ngƣời dân để tạo thành làng còn xuất phát từ nhu cầu đối phó với trộm cƣớp, những thế lực thù địch. Cá nhân nào tách khỏi làng sẽ phải đƣơng đầu với vô vàn rủi ro và nguy hiểm.
Làng tạo thành khuôn khổ xã hội cơ bản cho dân chúng ở nông thôn. Nhƣ vậy, làng là một tổ chức quần cƣ tự nhiên của những ngƣời dân Việt, là nơi những ngƣời dân Việt sống và đoàn kết với nhau chống thiên tai, địch họa, để lao động, sản xuất và tổ chức đời sống văn hóa vật chất và tinh thần. Làng là nơi thỏa mãn hầu hết những nhu cầu cơ bản của mỗi ngƣời dân. Làng có giới hạn lãnh thổ và môi trƣờng văn hóa- tín ngƣỡng xác định.
Làng Việt Nam truyền thống đƣợc bao bọc bởi lũy tre xanh, đây là biểu tƣợng cho tính chất “kín” hay tính “tự trị” của làng Việt. Giáo sƣ Trần Ngọc Thêm cho rằng rặng tre bao kín quanh làng, trở thành một thứ thành lũy kiên cố bất khả xâm phạm đốt không cháy, trèo không đƣợc, đào đƣờng hầm thì vƣớng rễ không qua. Lũy tre là một đặc điểm quan trọng làm cho làng xóm Việt Nam khác hẳn ấp lí Trung Hoa, có thành quách đắp bằng đất bao bọc. Bởi vậy lũy tre có thể coi là bức tƣờng rào kiên cố để ngăn cách làng với thế giới bên ngoài.
11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ở mỗi thôn xóm Việt Nam, cùng với lũy tre xanh là cổng làng. Đây là chiếc cầu nối giữa làng với bên ngoài. Mỗi làng không chỉ có một cổng mà đôi khi còn có nhiều cổng, nhƣ cổng tiền, cổng hậu hay cổng chính, cổng phụ để thuận tiện cho việc đi làm đồng. Có thể coi đó là biểu tƣợng cho tính chất “hở” của làng.
Nhƣ vậy, làng Việt Nam truyền thống là một tổ chức “nửa kín”, “nửa hở”, vừa “tĩnh”, vừa “động”.2 Đặc trưng của làng Việt Nam truyền thống Thứ nhất, sản xuất nông nghiệp tự cung, tự cấp, khép kín Nền kinh tế trong các làng Việt Nam truyền thống là nền kinh tế trọng nông, phân tán và sản xuất tự cung, tự cấp. “Mảnh đất cỏn con, ngƣời nông dân và gia đình anh ta; cạnh đó lại một mảnh đất cỏn con khác, một nông dân khác và một gia đình khác. Một nhóm những đơn vị ấy tập hợp thành một làng, một nhóm làng tập hợp thành một tỉnh” [63, tr. Mỗi làng Việt Nam dƣờng nhƣ là một “bầu trời riêng” về kinh tế.
Sự trao đổi liên làng, liên xã, liên vùng diễn ra yếu ớt và không liên tục.