PHẦN MỞ ĐẦU Chƣơng 1: Cơ sở hình thành tính triết lý – trữ tình trong tiểu thuyết của Trƣơng Hiền Lƣợng. Tìm hiểu về tính triết lý – trữ tình 1. Hoàn cảnh lịch sử xã hội và văn học 1. Nhà văn Trương Hiền Lượng Chƣơng 2: Tính triết lý – trữ tình qua nghệ thuật xây dựng nhân vật 2.
Nhân vật chiêm nghiệm về cuộc sống 2. Nhân vật mang vẻ đẹp nội tâm phóng khoáng trữ tình 2. Nhân vật siêu thực mang suy ngẫm của tác giả Chƣơng 3: Tính triết lý – trữ tình qua tuyến cốt truyện và giọng điệu trần thuật 3. Tuyến cốt truyện – hành trình kiếm tìm bản ngã 3.
Giọng điệu trần thuật PHẦN KẾT LUẬN DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO PHẦN PHỤ LỤC 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ HÌNH THÀNH TÍNH TRIẾT LÝ – TRỮ TÌNH TRONG TIỂU THUYẾT CỦA TRƢƠNG HIỀN LƢỢNG 1. Tìm hiểu về tính triết lý – trữ tình Để hiểu về tính triết lý – trữ tình, trước hết chúng ta cần tìm hiểu ý nghĩa của khái niệm về tính triết lý và tính trữ tình. Theo Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên, trữ tình có nội dung phản ánh hiện thực bằng cách biểu hiện những ý nghĩ, xúc cảm, tâm trạng riêng của con người trước cuộc sống. Còn trong Từ điển thuật ngữ văn học do Trần Đình Sử… chủ biên, trữ tình là một trong ba phương thức thể hiện đời sống, làm cơ sở cho một loại tác phẩm văn học.
Trong tác phẩm văn học, trữ tình phản ánh đời sống bằng cách bộc lộ trực tiếp ý thức của con người, nghĩa là con người tự cảm thấy mình qua những ấn tượng, ý nghĩ, cảm xúc chủ quan của mình đối với thế giới và nhân sinh. Trữ tình cũng tái hiện lại các hiện tượng của đời sống, nhưng sự tái hiện này không mang mục đích tự thân, mà tạo điều kiện để chủ thể bộc lộ những cảm xúc, chiêm nghiệm, suy tưởng của mình. Cũng theo Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên, triết lý là những lí luận chung của con người về những vấn đề nhân sinh và xã hội. Như vậy, nó cũng là một phạm trù thuộc chủ quan, cảm xúc, suy nghĩ của con người.
Trong văn học, đặc biệt là trong thể loại tiểu thuyết, tính triết lý được hình thành từ bản chất phản ánh hiện thực của văn học. Tính triết lý được đúc kết bởi những trải nghiệm của nhà văn từ chính hiện thực của cuộc sống. Trong một tác phẩm văn học, tính triết lý và tình trữ tình có thể kết hợp với nhau. Sự kết hợp đó tạo nên phong cách riêng, độc đáo trong sáng tác của nhà văn.
Pospelov trong Dẫn luận nghiên cứu văn học: “Suy tư trữ tình (trầm tư) và kể chuyện về các biến cố, như vậy, ở 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phần lớn các tác phẩm tự sự - trữ tình, đều tạo thành một chỉnh thể không thể phá vỡ, chúng nằm bên nhau hài hòa, bình đẳng nhau” [17, 101]. Đặc điểm của tác phẩm tự sự - trữ tình cũng là một trong những yếu tố làm toát lên tính triết lý – trữ tình trong tác phẩm văn học, mà cụ thể là trong tiểu thuyết. Pospelov trong Dẫn luận nghiên cứu văn học, nhiều khi tác phẩm tự sự bao gồm những đoạn mang tính chất trữ tình: đó là những suy nghĩ mang tính cảm xúc của tác giả xâm nhập vào câu chuyện qua các biến cố. Không ít những tác phẩm mà yếu tố tự sự và yếu tố trữ tình được kết hợp ở mức ngang nhau.
Người ta gọi chúng là tác phẩm tự sự - trữ tình. Mặt khác, trong bản thân các tác phẩm tự sự luôn lấy chất liệu từ hiện thực cuộc sống, rồi từ hiện thực đó đúc rút ra được những triết lý sâu sắc, mang tư tưởng của tác giả. Chính điều đó khiến cho các tác phẩm tự sự có sự kết hợp giữa tính triết lý và tính trữ tình. Hai tiểu thuyết Cây hợp hoan và Một nửa đàn ông là đàn bà của nhà văn Trương Hiền Lượng là hai tác phẩm tự sự trữ tình, trong đó những cảm xúc, những suy nghĩ của tác giả thông qua hệ thống nhân vật đã được khái quát lên thành những triết lý vô cùng sâu sắc.
Đó cũng là một trong những đặc điểm nổi bật trong phong cách nghệ thuật của nhà văn Trương Hiền Lượng. Hoàn cảnh lịch sử xã hội và văn học Văn học bao giờ cũng là sản phẩm của mối quan hệ giữa hiện thực khách quan và ý muốn chủ quan của bản thân nhà văn. Đó là kết quả của sự nhào nặn những chất liệu cuộc sống trong thế giới quan và bàn tay tài năng của người nghệ sĩ. Nhà văn là con đẻ của xã hội, là con đẻ của một hoàn cảnh và một kiểu quan hệ nhất định.
Chính vì vậy, khi nghiên cứu một tác phẩm nào đó, thì ta phải đặt tác phẩm ấy vào “vùng đất riêng” mà nhà văn 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com lựa chọn, cũng như hoàn cảnh xã hội, trào lưu văn học – một trong những yếu tố ảnh hưởng sâu sắc đến sáng tác của nhà văn. Cho nên, không thể hiểu đúng thực chất tác phẩm của Trương Hiền Lượng nếu không đặt nó vào trong bối cảnh xã hội Trung Quốc những thập kỉ gần đây. Hoàn cảnh xã hội thay đổi cũng khiến cho các xu hướng văn học, trào lưu văn học thay đổi. Từ đó quan niệm nghệ thuật, cách nhìn cách đánh giá của nhà văn về cuộc sống cũng có nhiều đổi khác.
Tất cả đã tạo nên tính riêng, độc đáo trong mỗi cách viết của nhà văn. Đại Cách mạng văn hóa vô sản Trung Quốc Đại Cách mạng văn hóa vô sản là sự kiện nổi bật trong lịch sử nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Sự kiện này được biết đến không chỉ bởi thời gian kéo dài (1966 – 1976) mà còn bởi quy mô và ảnh hưởng của nó nữa. Đại Cách mạng văn hóa vô sản đã làm đảo lộn tất cả trật tự đời sống – xã hội, chính trị, văn hóa,… của nhân dân Trung Quốc.
Ngày 1/10/1949, nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ra đời đã mở ra một trang sử mới cho đất nước Trung Quốc với những sự kiện khởi đầu của công cuộc khôi phục và phát triển đất nước. Mười năm xây dựng chế độ mới (1949 – 1958) đã đem lại nhiều thành tựu lớn cho Đảng và nhân dân Trung Quốc. Những tưởng từ đây ước mong được sống yên ổn, hòa bình của nhân dân sẽ thành hiện thực, nhưng chẳng bao lâu sau, khi Mao Trạch Đông chính thức đưa ra đường lối “Ba ngọn cờ hồng” năm 1958, Trung Quốc đã từng bước lún sâu vào một cơn khủng hoảng trầm trọng. Đại Cách mạng văn hóa vô sản là minh chứng rõ ràng và tiêu biểu nhất cho sự khủng hoảng đó.
Cuộc cách mạng này được Mao Trạch Đông khởi xướng và lãnh đạo từ ngày 16 tháng 5 năm 1966, với mục tiêu chính thức là loại bỏ những phần tử “tư sản tự do” để tiếp tục sự nghiệp đấu tranh của tầng lớp Cách mạng. Tuy nhiên, mục đích chính của Cách mạng này được mọi người 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com công nhận là một cách để Mao Trạch Đông lấy lại quyền kiểm soát Đảng Cộng sản Trung Quốc sau cuộc Đại nhảy vọt bị thất bại, dẫn đến sự tổn thất quyền lực đáng kể của Mao Trạch Đông so với đối thủ chính trị là Lưu Thiếu Kỳ và cũng để loại bỏ những người bất đồng ý kiến như Đặng Tiểu Bình, Bành Đức Hoài,. Có thể xem Đại Cách mạng văn hóa vô sản là “vết thương trầm trọng” đối với đất nước, con người Trung Quốc không chỉ về thể xác mà cả về tinh thần. Nó không chỉ gây tác động tức thời mà còn gây nên những hệ quả sâu sắc, lâu dài cho tới mãi sau này.
Mười năm Đại Cách mạng văn hóa vô sản đã tàn phá không thương tiếc những thành tựu mà nhân dân Trung Quốc tạo dựng trên tất cả các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hóa – xã hội,… Tình trạng tranh chấp quyền lực giữa các phe phái trong nội bộ Đảng đã gây ra những mâu thuẫn, xung đột sâu sắc, phức tạp thậm chí dẫn tới sự tàn sát khốc liệt lẫn nhau. Cục diện hỗn loạn, đau thương đó kéo dài, gây ra những tổn thất cực kì to lớn đối với Trung Quốc. Bên cạnh đó, Đại cách mạng văn hóa vô sản còn phá hoại nặng nề văn hóa Trung Quốc, để lại nhiều di hại có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tinh thần của nhân dân một thời gian khá dài. Với việc thực hiện đường lối “Duy ý chí” và “Tả khuynh Mao – Ít”, cùng với những diễn biến của cuộc Cách mạng văn hóa nhằm giành giật quyền lợi giữa các phe phái trong bộ máy lãnh đạo Trung Quốc, đã dẫn tới hàng loạt cuộc trấn áp cán bộ và cả nhân dân, đặc biệt là trí thức, kể cả giới trí thức văn nghệ.
Để phục vụ cho đường lối phản động và sai lầm nói trên, nền văn học nghệ thuật Trung Quốc cũng trở thành một công cụ tuyên truyền, sặc mùi giáo điều, công thức và dối trá. Những văn nghệ sĩ nào đi ngược lại đường lối này cũng đều chịu số phận bị đàn áp, bị tù đày, giống như số phận của chính nhà văn Trương Hiền Lượng. 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trong lịch sử lâu đời của Trung Quốc, đã không ít lần xảy ra những sự kiện hủy diệt văn hóa một cách khủng khiếp. Thời Tần Thủy Hoàng là “phần thư, khanh nho” (đốt sách, chôn nho).
Thế kỷ XVIII, do lo ngại sợ phong trào chống ngoại tộc của dân tộc Hán, các hoàng đế Mãn Thanh ra lệnh cho các quan lại lập các “Ngục văn tự”, thu đốt mọi sách vở chống đối, bắt bớ giết hại hàng chục vạn người,… Giữa thế kỷ XX này, ở Trung Quốc lại diễn ra một cuộc hủy diệt văn hóa tương tự với quy mô rộng lớn hơn. Nhân danh cuộc Đại Cách mạng văn hóa vô sản “đánh đổ hết thảy, quét sạch hết thảy”, người ta đều ra khẩu hiệu “tẩy trừ bốn cũ”, đó là: tư tưởng cũ, văn hóa cũ, phong tục cũ và tập quán cũ. Từ đó, với lực lượng Hồng vệ binh cuồng nhiệt và ngu dốt, biết bao nhiêu sản phẩm văn hóa, công trình văn hóa bị phá hủy, không hề phân biệt đúng, sai, xấu, tốt. Ngay cả quyền tối thiểu của con người là được sống, được làm việc cũng bị chà đạp, hỏi còn nói gì đến việc bảo tồn những di sản văn hóa, tinh hoa của dân tộc, nhân loại?