CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU MÔ HÌNH TÍNH TOÁN LƯỢNG PHÁT THẢI CH4 TỪ CANH TÁC LÚA NƯỚC 1. Phát thải Methane từ canh tác lúa nước Trong những năm gần đây, hàm lượng Methane CH4 trong khí quyển tăng lên rất nhanh, gấp 3 lần kể từ thời kỳ tiền công nghiệp trong đó con người đóng góp 1/5, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến khí hậu toàn cầu. Mật độ trung bình CH4 trên bề mặt trái đất là 1745 ppb. Gần đây, nồng độ phát thải Methane tăng chứng tỏ tỷ lệ phát thải Methane từ bề mặt Trái đất gần cân bằng với tỷ lệ phân hủy Methane trong khí quyển.
Tuy nhiên, kể từ đầu năm 2007, sự cân bằng này bị phá vỡ dẫn đến có thêm hàng triệu tấn Methane thải vào khí quyển. Nguồn phát thải Methane (CH4) là các vùng đất ngập nước, vựa lúa, gia súc và các ngành công nghiệp than đá và khí. Sự gia tăng phát thải Methane ở bán cầu Bắc do thời tiết ấm lên nhiều theo quan trắc ở Sibêri năm 2007, sẽ làm cho vi khuẩn ở các vùng đất ngập nước thải ra nhiều khí Methane hơn [6]. Methane là khí thải nhà kính quan trọng và đóng góp 18% vào sự ấm lên toàn cầu, đứng thứ 2 sau carbon dioxide.
Tiềm năng làm ấm toàn cầu của Methane là 75 (tính trung bình qua 20 năm) hay 25 (tính trung bình qua 100 năm). Chúng ta phải sử dụng các biện pháp giảm thải Methane. Đất ngập nước trong đó có đất lúa nước được coi là một trong những nguồn phát thải Methane chính, góp tới 10% tổng lượng thải của bề mặt trái đất mặc dù loại đất này chỉ chiếm 0,3% diện tích bề mặt. Vì là một dạng khí nhà kính tiềm năng nên việc giảm Methane có một tác động đến biến đổi khí hậu to lớn hơn là giảm carbon dioxide.
Ngoài ra, Methane có thời gian tồn lưu tương đối ngắn, khoảng 12 năm so với carbon dioxide- 120 năm [5, 6]. Methane, nitơ oxit cũng như carbon dioxide là nguồn khí thải đang được sự chú ý và quan tâm thông qua các tác động của chúng trên bức xạ hóa học và bức xạ của khí quyển dẫn đến sự nóng lên toàn cầu. Hơn nữa, cả ba loại khí nhà kính quan trọng nhất 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com có lượng phát thải đáng kể từ hệ sinh thái nông nghiệp. Do đó, nông nghiệp là một trong những mục tiêu cho các nỗ lực giảm thiểu khí nhà kính [8].
Trong suốt những năm 1980, phát thải cacbon từ thay đổi sử dụng đất ở Việt Nam được ước tính khoảng 58 triệu tấn/ năm, gấp mười lần lượng khí thải carbon từ sử dụng nhiên liệu hóa thạch. Phát thải Methane từ chăn nuôi và trồng lúa (nguyên nhân chính) đã được ước tính khoảng 3. Các kết quả từ Báo cáo thống kê quốc gia về khí thải gây hiệu ứng nhà kính vào năm 1994 cho thấy, tổng lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính khí 103,8 triệu tấn CO2 tương đương, và 1,4 tấn CO2 tương đương bình quân đầu người, trong đó nông nghiệp đóng góp 50,5% tổng số khí nhà kính phát thải.1: Phát thải khí nhà kính trong nông nghiệp (Nguồn: Thông báo quốc gia Việt Nam (Bộ TN & MT, 2003)) 1. Tổng quan về sự phát thải ở đất lúa 1.
Phát thải Mêtan (CH4) trên ruộng lúa nước Bên cạnh CO2, khí Methane cũng đóng góp một vai trò lớn của việc nóng lên toàn cầu. Mặc dù hàm lượng phát thải khí Methane (CH4) toàn cầu thấp hơn phát thải khí CO2 nhiều nhưng CH4 là một khí gây hiệu ứng nhà kính lớn hơn; một tấn khí CH4 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com gây hiệu ứng nhà kính lớn hơn một tấn CO2 đến 23 lần. Giống như CO2, khoảng 60% lượng phát thải khí CH4 toàn cầu có từ các nguồn do con người gây ra và hàm lượng CH4 trong khí quyển đã tăng lên khoảng 150% từ năm 1750 (Ủy ban Liên chính phủ về thay đổi khí hậu - Intergovernmental Panel on Climate Change – IPCC, 1996) [6]. Phát thải CH4 trên ruộng lúa nước đã được phát hiện từ lâu, theo IRRI thì một lượng lớn CH4 phát thải lần đầu tiên được phát hiện ở vùng trồng lúa của Mỹ và Châu Âu.
Sau đó những nghiên cứu chi tiết được tiến hành ở Ý, Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản và Đông Nam Á. Theo đánh giá của ban liên ngành chính phủ về biến đổi khí hậu (IPPC, 1996) thì tổng lượng CH4 phát thải từ các vùng trồng lúa nước dao động từ 200 – 100 Tg/năm (Tg – triệu tấn) [7]. Ở Việt Nam, theo kết quả kiểm kê khí nhà kính năm 1994, lượng khí nhà kính phát thải trong lĩnh vực nông nghiệp là 52,32 triệu tấn Các bon, chiếm 51% tổng lượng khí nhà kính phát thải của cả nước (Nguyễn Mộng Cường vcs, 1999). Đến năm 2000, qua kết quả kiểm kê, lượng phát thải khí nhà kính ngành nông nghiệp là 65,1 triệu tấn cácbon chiếm 45,4% tổng lượng phát thải khí nhà kính toàn quốc.
Theo các số liệu kiểm kê năm 1994 thì phát thải lớn nhất là CH4 trong đó trồng lúa phát thải 1559,7 nghìn tấn các bon/năm (chiếm 62,4%). Lượng phát thải từ lĩnh vực chăn nuôi chiếm 18,7%. Phát thải từ diện tích đất nông nghiệp khác chiếm 15,4%, còn lại là do đốt phế thải. Điều đó cho thấy trong nông nghiệp thì trồng lúa nước là nguồn phát thải chủ yếu.
Lượng CH4 phát thải và khí quyển do trồng lúa ở Việt Nam chiếm tỷ trọng lớn so với các hoạt động sản xuất nông nghiệp khác. Trong năm 2010, tổng lượng phát thải khí nhà kính tại Việt Nam là 246,8 triệu tấn CO2 tương đương bao gồm lĩnh vực Sử dụng đất, thay đổi sử dụng đất và lâm nghiệp (LULUCF) và 266 triệu tấn CO2 tương đương không bao gồm LULUCF. Phát thải khí nhà kính trong lĩnh vực năng lượng chiếm tỷ trọng lớn nhất là 53,05% của tổng lượng phát thải không tính LULUCF, tiếp theo là lĩnh vực nông nghiệp chiếm 33,20%. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Phát thải từ các lĩnh vực quá trình công nghiệp và chất thải tương ứng là 7,97% và 5,78%.1: Kết quả kiểm kê khí nhà kính khu vực nông nghiệp năm 2000 CH4 N4O CO Oxit CO2 tổng % (Gg) (Gg) (Gg) nitrogen cộng (Tg) NOx Trồng lúa 1.782,37 37,43 57,5 Chăn nuôi gia súc - Tiêu hóa thức ăn 368,12 7,73 11,88 - Quản lý chất thải 164,16 3,45 5,30 Đất nông nghiệp 45,87 14,22 21,85 Đất Savan đồng cỏ 9,97 1,23 261,71 4,46 0,59 0,91 Đốt các phế thải 59,13 1,39 1.241,68 50,28 1,67 2,75 trên đồng ruộng Tổng số 2.
Các con đường hình thành khí CH4 trên ruộng lúa Khí CH4 phát thải từ ruộng lúa vào khí quyển theo ba con đường chính là: từ bọt khí CH4 dưới đất, khuếch tán và phát thải từ cây lúa thông qua khí khổng của cây. Nhưng hiện tượng khuếch tán chỉ đóng góp khoảng 1% tổng lượng khí CH4, trong khi khí CH4 đi vào khí quyển ở dạng bọt khí chiếm tới 10% tổng lượng phát thải từ đất lúa, phần chủ yếu phát tán là thông qua thân cây lúa chiếm 90% tổng lượng phát thải của đất lúa ngập nước [6]. Con đường chính phát thải CH4 từ ruộng lúa là qua cây lúa chứ không chỉ từ đất. Nguyên nhân phát thải khí nhà kính gồm có: các quá trình tự nhiên (hoạt động phân huỷ chất hữu cơ trong điều kiện yếm khí) và hoạt động của con người (đốt cháy 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nguyên liệu hoá thạch như than, dầu mỏ, khí đốt; sản xuất xi măng; chăn nuôi; các hoạt động nông nghiệp khác, phân giải chất thải hữu cơ) [6].2: Sơ đồ vận chuyển khí CH4 trên ruộng lúa theo 3 con đường (Theo Schutz và cộng sự, 1989).
Những yếu tố ảnh hưởng tới phát thải khí CH4 Có nhiều yếu tố ảnh hưởng tới quá trình phát thải như: chế độ nước, phân bón, tính chất đất, quá trình sinh trưởng của cây lúa có ảnh hưởng đến Eh. Khi động thái của Eh thay đổi thì sự phát thải của CH4 cũng thay đổi theo. Nói cách khác, những yếu tố ảnh hưởng đến Eh cũng chính là yếu tố ảnh hưởng đến sự phát thải của CH4. Vấn đề này trong những năm gần đây cũng được nhiều tác giả nghiên cứu.
Nước trên mặt ruộng có tác dụng cách ly nguồn cung cấp oxy từ không khí vào đất nên ngăn cho quá trình oxi hóa chất hữu cơ của đất, kết quả là các chất hữu cơ này lên men yếm khí và tạo ra khí CH4. Vì vậy, chế độ nước trên ruộng lúa cũng là nguyên 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhân dẫn tới sự phát thải khí CH4. Sự phát thải CH4 phụ thuộc vào một số yếu tố như quản lý, điều tiết chế độ nước trên mặt ruộng, lượng phân hữu cơ và vô cơ bón vào ruộng, đặc tính của giống lúa và môi trường tự nhiên [6]. Ấn Độ là một nước đông dân thứ hai, đồng thời là nước sản xuất lúa gạo quan trọng trên thế giới.
Đất lúa tại Ấn Độ được phân thành: đất canh tác lúa nhờ nước tưới, nhờ mưa, ngập sâu và canh tác ở vùng cao. Canh tác lúa ngập sâu nghĩa là các ruộng lúa ngập 50 – 100cm. Hầu hết các ruộng lúa nước là được tưới nhờ nước mưa, ngập sâu và chỉ có khoảng 15% đất lúa là canh tác ở vùng cao, loại đất lúa này không được coi là nguồn phát thải khí Methane vì ở đây không được cung cấp đủ nước tưới trên mặt ruộng. Vùng đất lúa ngập nước mới là nguồn phát thải CH4 chính.
Chính vì vậy, tưới nước là một yếu tố quan trọng quyết định đến sự phát thải khí CH4 [6]. Trong mô hình nghiên cứu của Granberg và cộng sự (2001) thì mực nước trên ruộng là yếu tố quan trọng nhất và duy nhất để dự báo lượng khí phát thải ở những vùng đầm lầy ở miền Bắc Thuỵ Điển (r2=0,58). Phân đạm có ảnh hưởng hoặc giảm sự oxy hoá CH4 trong đất. Ảnh hưởng của phân đạm có thể do giảm lượng oxy trong đất làm cho các phản ứng của chấ hữu cơ trong đất ở điều kiện yếm khí và tăng khả năng nitrit hoá dẫn tới làm tăng các enzym Methane hoá.
Bằng chứng của cơ chế này cũng được khẳng định khi người ta bón phân nitrat vào đất so với đất không được bón phân trong thí nghiệm trồng hành ở Nhật Bản. Việc trồng lúa theo các phương thức: cấy mạ 30 ngày tuổi; gieo sạ trên đất ngập nước; gieo sạ trên đất ẩm làm giảm lượng CH4 tương đương 5%; 13% và 37%, khi so sánh với việc trồng lúa bằng mạ 8 ngày tuổi [6].