đặt vấn đề tôi làm sau, việc ấy đơn giản hơn” [3, tr197]. Khởi nguyên thơ Xuân Quỳnh là sự xúc động chân thành, nhu cầu bộc lộ cảm xúc một cách mãnh liệt nhất. “Nghĩa là sự làm thơ ăn ở những xúc động” “Còn hình thức thơ bốn chữ hay thơ tám chữ, chuyện ấy sẽ đến sau. Làm thơ mà có mỗi cái vần bắt không xong, thì còn tính chuyện viết lách làm quái gì nữa.
Dễ hiểu vì sao Xuân Quỳnh coi trọng nhất yếu tố tình cảm, cảm xúc trong thế giới nghệ thuật. Thơ phải là cái gì đó níu nhau chảy ra trong nguồn cơn xúc cảm, trong giây phút bừng ngộ của tư tưởng nghệ thuật. Thơ phải bật ra từ trong huyết quản của mình. Với Xuân Quỳnh, làm thơ đầu tiên là để tự thể hiện, tự khẳng định, để sáng tạo và để nối liền bản thân với đồng loại,vũ trụ.
Xuất phát từ mình, chân thật với chính mình là điều cốt yếu dẫn đường cho sự ra đời của tác phẩm. Xuân Quỳnh thường nhìn thấy chính mình đầu tiên khi nhìn vào con người và sự vật xung quanh nên bà có thói quen diễn tả tâm trạng của mình qua thơ đúng đến từng khía cạnh nhỏ nhặt nhất.3 Tuyển thơ Không bao giờ là cuối Tuyển thơ Không bao giờ là cuối dường như đã khái quát được cả cuộc đời và sự nghiệp thơ của nữ sĩ được nhiều thế hệ đọc giả Việt Nam yêu mến, trân trọng – Xuân Quỳnh. Với tuyển thơ này người đọc một lần nữa được nhìn lại 12 “đời thơ”, “đời yêu” của người phụ nữ có trái tim “biết ngừng đập lúc cuộc đời không còn nữa / Nhưng biết yêu anh cả khi chết đi rồi” (Tự hát). Tuyển thơ bao gồm ba phần.
Người đọc sẽ gặp Chồi biếc; Thuyền và biển; Sóng; Sân ga chiều em đi, Tự hát… những bài thơ man mác buồn mà ngập tràn hạnh phúc, đắng đót xót xa nhưng không bao giờ vơi yêu thương nồng nàn trong phần đầu tiên – Dẫu biết chắc rằng anh trở lại. Đến phần hai – Những năm tháng không yên, ta không khỏi xót xa trước cảnh đất nước chia lìa hai miền Nam – Bắc: “Gà gáy sáng thấy tóc đầm nước mắt Đất nước chia lìa đau cả giấc mơ” (Gặp cha) Bầu trời trong quả trứng là phần cuối của tuyển thơ. Phần này gồm những sáng tác thơ rất tươi vui, dí dỏm dành cho thiếu nhi như: Chuyện cổ tích về loài người; Bầu trời trong quả trứng; Bay cao; Tuổi ngựa… Từ khi ra đời tuyển thơ đã thu hút được nhiều sự chú ý của người đọc bởi ở đó chứa đựng những tác phẩm hay nhất trong đời thơ Xuân Quỳnh. Những bài thơ trữ tình giản dị, chân thật, nồng hậu góp phần làm toát lên tính nữ của tuyển thơ.
Trong tuyển thơ, tính nữ thể hiện rõ nét ở sự tinh tế trong cảm nhận, uyển chuyển trong cấu tứ, giọng điệu và đặc biệt là ở những xúc cảm sâu thẳm tận cùng khi bà viết cho nhà viết kịch Lưu Quang Vũ - người đàn ông mà bà không ngừng yêu và không hết yêu cho tới tận cuối đời; viết cho mẹ, cho cha, cho chị, cho con, cho những người bà thương yêu. 13 Chương 2: CÁI TÔI TRỮ TÌNH – HIỆN THÂN CỦA TÍNH NỮ TRONG TẬP THƠ “KHÔNG BAO GIỜ LÀ CUỐI” Có thể nói, cái tôi trữ tình trong Không bao giờ là cuối là tiếng nói đầy xúc cảm, tinh tế và hồn hậu của nữ thi sĩ Xuân Quỳnh. Thông qua cái tôi trữ tình ấy, độc giả nhận ra phẩm cách con người, cuộc đời đầy bão giông của Xuân Quỳnh. Cái tôi trữ tình ấy còn chi phối tới cách cảm, cách nghĩ của thi sĩ về cuộc đời, nghệ thuật.
Trong tuyển thơ, cái tôi trữ tình ấy hoá thân vào các nhân vật trữ tình khác nhau để có thể diễn đạt đầy đủ và sâu sắc nhất khát vọng tìm kiếm sự dũng cảm, tinh lực cho lao động nghệ. Cái tôi ấy hoá thân thành người cháu với những rung động tuổi thơ trước tiếng gà trưa như cổ tích, và hơn hết là sự hóa thân vào người mẹ để hiểu con, để an ủi vỗ về con, là người vợ với những lo toan bận rộn của cuộc sống thường nhật. Cũng có khi, cái tôi ấy chìm sâu trong những rung cảm, dự cảm về tình yêu ,về cuộc sống… Mỗi nhân vật trữ tình ẩn giấu cả một đại dương cảm xúc sâu sắc, nhân vật ấy khám phá bản thân, khám phá thế giới bằng cái nhìn nhiều chiều, nhiều sắc thái đối nghịch. Bởi thế có thể nói rằng, hiện thân của tính nữ trong Không bao giờ là cuối là cái tôi nhiều chiều, cái tôi giữa các mặt đối lập nhau: Khát khao yêu thương, dâng hiến nhưng ẩn chứa sự lo âu, ám ảnh nên luôn khát khát khao sự chở che, gắn bó.1 Cái tôi yêu thương, dâng hiến Phải chăng bởi tấm lòng vị tha vô biên, sự chân thành là bản chất đời thường của Xuân Quỳnh mà trong thơ bà dù nhìn ở khía cạnh nào ta cũng thấy thật ấm áp vì cái tôi nội tâm, cái tôi yêu thương và giàu trắc ẩn.
Cái tôi yêu thương đó dễ động lòng trắc ẩn trước những con người nhỏ bé, bất hạnh, côi cút. Không biết bao nhiêu lần trong Không bao giờ là cuối những tiếng thương da diết, đầy xúc cảm được vang lên. Đó là tiếng thương dành cho người chị phương xa vò võ một mình: “Đã bao mùa gió đổi Chị đi dạy học xa Ngày sơ tán, tháng Ba Mưa rào hầm ngập nước Em thương về lớp học 14 Có đường hào ra sân…” (Tháng Ba, viết cho chị) Là tiếng thương, sự lo sợ cho một cánh chuồn mỏng manh: “Không tìm đâu được chốn nương nhờ Mỏng mảnh thế làm sao chịu nổi Chuồn chuồn ơi báo làm chi bão tới Trời bão lên rồi mày ở đâu?” (Chuồn chuồn báo bão) Thương từ con dế bị bỏ rơi: “…Thương con dế dưới hầm Những năm bom đạn sống cùng lời ru” (Lời ru trên mặt đất) Đến sự phẫn nộ trước cảnh con bò kéo xe bị người chủ đánh bằng xẻng, người cha kéo lê hai đứa con trên mặt đường bẩn thỉu để đi xin ăn. Rồi rưng rưng thương cái dáng tảo tần của người mẹ quê mùa lam lũ: “Đau xót bàn chân phèn chua xót kẽ”, lại thương thân phận một cô gái lấy chồng nơi chiêm trũng không dễ gì “Gửi ai cho mẹ bát canh cần”… Thế đó, thơ Xuân Quỳnh làm người ta ấm lòng vì sự đồng cảm, sẻ chia.
Trái tim của người đàn bà trong Không bao giờ là cuối có lúc nào được ngủ yên vì sự đa mang? Thơ về tình yêu là mảng thơ đặc sắc nhất của Xuân Quỳnh. Vì “Xuân Quỳnh có một nhân bản yêu đương cực kì mãnh liệt, là một người con gái có thể sống chết vì tình” [16, tr188], lúc nào cũng sợ không thể nói hết được những lời thương yêu: “Lời yêu thương ngàn lần em muốn nói”; “Lòng em thương làm sao mà nói được”. Có thể nói, địa hạt thơ tình chính là nơi cái tôi yêu thương, tận hiến mang điệu tâm hồn tính nữ rõ nét và rất riêng. Cái chất riêng ấy là sự đằm thắm, bao dung, dịu êm mà dữ dội đến mức táo bạo.
Không giấu giếm khát khao yêu đương của mình. Cũng như bao người phụ nữ khác, người phụ nữ trong thơ Xuân Quỳnh sống và yêu bằng tất cả sự đắm đuối, nồng nàn đến vụng dại, cả tin: “Không sĩ diện đâu, nếu tôi yêu được một người Tôi yêu anh ta hơn anh ta yêu tôi nhiều lắm 15 Tôi yêu anh dẫu ngàn lần cay đắng… Và cả anh, anh yêu của riêng em Khi anh nói yêu em, trái tim em đập chừng mạnh quá Mạnh đến nỗi em tưởng là nghe rõ Tiếng tim anh đang đập vì em…” (Thơ viết cho mình và những người con gái khác) Ở thơ Xuân Quỳnh, tình yêu còn là tượng trưng cho cái đẹp, cái cao quý, tượng trưng cho niềm khát khao được tự hoàn thiện mình: “Em yêu anh, yêu anh như điên Em viết những bài thơ tình yêu tưởng anh là ý, tứ Trán em bớt dô ra, bàn tay không vụng nữa Tay này đây, em may áo cho anh… Và khi nào anh buồn, em sẽ hát Bài hát tình yêu ca ngợi con trai Không chỉ anh nghe, hát cho cả mọi người Để họ biết thế nào là hạnh phúc… ” (Thơ viết cho mình và những người con gái khác) Cái tôi khát khao yêu và dâng hiến trong thơ Xuân Quỳnh luôn ở hai thái cực đối lập “dữ dội” mà “dịu êm”: “Dữ dội và dịu êm Ồn ào và lặng lẽ Sông không hiểu nổi mình Sóng tìm ra tận bể…” “Làm sao được tan ra Thành trăm con sóng nhỏ Giữa biển lớn tình yêu Để ngàn năm còn vỗ” (Sóng) Người đàn bà trong Không bao giờ là cuối hiện diện và mang theo sứ mệnh tự nguyện dâng hiến tình yêu. Người đàn bà ấy chắt chiu từng lượng nhỏ tình 16 thương để đắp xây hạnh phúc và xót xa khi nghĩ đến cảnh người chồng một mình trên con đường xa ngái: “Thương chiếc xe anh nhọc nhằn trong gió Mái nhà nào đêm nay anh dừng chân.” (Không đề) Chẳng kể lúc ở gần mà khi xa cách những yêu thương, lo lắng của người đàn bà ấy vẫn luôn luôn trìu mến. Sự lo lắng trong lòng đã hóa thành những nỗi ước ao dịu dàng, đằm thắm rất nữ tính: “Ước chi làm chiếc nón che anh Đêm gió lạnh em xin làm ngọn lửa Áo ướt ai phơi, ba lô ai xếp hộ Mong sao trời ngừng mưa” (Không đề) Người đàn bà trong Không bao giờ là cuối là người đàn bà mang cốt cách tâm hồn người phụ nữ Việt Nam truyền thống tự xa xưa: người yêu, người vợ, người mẹ với những thiên chức muôn đời, với đức hy sinh cao cả và vị tha.
Trời mưa lạnh tay em khép cửa Em phơi mền vá áo cho anh Tay cắm hoa tay để treo tranh Tay thắp sáng ngọn đèn đêm anh đọc Năm tháng qua đi mái đầu cực nhọc Tay em dừng trên vầng trán âu lo.” (Bàn tay em) Cái tôi trữ tình trong Không bao giờ là cuối đâu chỉ khát khao, dâng hiến cho tình yêu, cho hạnh phúc cá nhân, cái tôi ấy còn hòa mình vào những năm tháng không yên của dân tộc để hiến dâng cho đất nước, tổ quôc. “Tôi sẵn lòng đem hiến cả đời tôi Cho cát trắng và gió Lào quạt lửa” (Gió Lào cát trắng) 17 Bởi: “Lá vàng rụng xuống Cho đất thêm màu, Có mất đi đâu Nhựa lên chồi biếc.” (Chồi biếc) Nào có gì là sợ hãi khi cái chết chỉ như là một sự thay đổi nhỏ, như người lính gác hết phiên, như là vàng thì rụng. Sự thay đổi nhỏ nhưng đầy ý nghĩa.