Chương 1: Luận văn đã tổng hợp tổng quan về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, các chính sách và nghiên cứu liên quan đến biến đổi khí hậu của tỉnh Quảng Ngãi. Trong đó có nghiên cứu thực hiện đánh giá tác động của biến đổi khí hậu tới tỉnh Quảng Ngãi đã thực hiện nhiều các mô hình toán công phu, số liệu tin cậy, việc sử dụng các số liệu này để phục vụ các nghiên cứu tiếp theo là hoàn toàn đảm bảo tính khoa học mặt khác phát huy tốt các kết quả hiện có này. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 2. NỘI DUNG, PHƢƠNG PHÁP SỬ DỤNG ĐÁNH GIÁ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƢƠNG TRONG SẢN XUẤT LÚA 2.
Tổng quan về đánh giá tính dễ bị tổn thƣơng 2. Khái niệm về tính dễ bị tổn thƣơng đối với biến đổi khí hậu Khái niệm về tính dễ bị tổn thƣơng đã có nhiều thay đổi trong hơn 20 năm qua; có nhiều hƣớng nghiên cứu khác nhau nhằm phân loại các thành phần, yếu tố để đánh giá tính dễ bị tổn thƣơng (Nguyễn Thanh Sơn, Cấn Thu Văn, 2012). Các định nghĩa nói chung đều cho rằng TDBTT đƣợc xác định dựa trên mƣ́c đô ̣ BĐKH , độ nhạy cảm và khả năng thích ứng của đối tƣợng chịu tác động. Tổng hợp các định nghĩa về tính dễ bị tổn thƣơng Tổ chức Tài liệu tham khảo Định nghĩa TDBTT là mức độ nhạy cảm hay không thể chống chịu của một hệ thống/đối tƣợng trƣớc các tác động có hại của BĐKH, bao gồm dao động Báo cáo đánh giá lần khí hậu và các hiện tƣợng khí hậu cực đoan.
IPCC thứ 4 của IPCC TDBTT là hàm số của tính chất, cƣờng độ và (IPCC AR4) mức độ (phạm vi) của các biến đổi và dao động khí hậu mà hệ thống/đối tƣợng đó phải hứng chịu, độ nhạy cảm và khả năng thích ứng của hệ thống/đối tƣợng đó. TDBTT = gần bằng các tác động bên ngoài/ Hỗ trợ thích ứng JICA [Khả năng chống chịu (khả năng thích ứng) - độ BĐKH của JICA nhạy cảm] TDBTT là mức độ một hệ thống nhạy cảm /không thể chống chịu trƣớc các tác động có hại Lồng ghép thích ứng của BĐKH, bao gồm dao động khí hậu và các BĐKH vào phát hiện tƣợng khí hậu cực đoan. TDBTT là hàm số OECD triển - Hƣớng dẫn của tính chất, cƣờng độ và mức độ (phạm vi) của chính sách các biến đổi và dao động khí hậu mà hệ thống đó phải hứng chịu, độ nhạy cảm và khả năng thích ứng của hệ thống đó (giống với IPCC AR4) Xây dựng kịch bản TDBTT = Mƣ́c đô ̣ BĐKH trƣ ớc dao động khí UNDP các tác động của hậu và các hiện tƣợng khí hậu cực đoan x Độ BĐKH và TTDBTT nhạy cảm - Khả năng thích ứng 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tổ chức Tài liệu tham khảo Định nghĩa Khung chính sách thích ứng BĐKH: TDBTT = Rủi ro (các tác động có hại của BĐKH UNDP xây dựng chiến lƣợc, đã đƣợc dự báo) - Thích ứng chính sách và các giải pháp TDBTT là mức độ một hệ thống nhạy cảm /không thể chống chịu trƣớc các tác động có hại Bộ Môi của BĐKH, bao gồm dao động khí hậu và các trƣờng Thích ứng BĐKH hiện tƣợng khí hậu cực đoan. TDBTT là hàm số Nhật một cách thông minh của tính chất, cƣờng độ và mức độ (phạm vi) của Bản các biến đổi và dao động khí hậu mà hê thống đó phải hứng chịu, độ nhạy cảm và khả năng thích ứng của hệ thống đó (giống với IPCC AR4) Nguồn: JICA (2011), Viện Khoa học Khí tượng thủy văn và Biến đổi khí hậu Khái niệm TDBTT do IPCC (2007) xây dựng hiện đƣợc ứng dụng rộng rãi nhất và tính dễ bị tổn thƣơng (V) biểu diễn theo công thức toán học là một hàm của mức độ phơi lộ (E), mức độ nhạy cảm (S) và năng lực thích ứng (AC) đƣợc thể hiện dƣới dạng hàm số nhƣ sau: V = f (E, S, AC) Trong đó: - E: mƣ́c đô ̣ phơi lộ (exposure) là mức độ tiếp xúc hay mức độ phơi lộ của một hệ thống với những thay đổi đáng kể nào đó của khí hậu (IPCC, 2001).
- AC: khả năng thích ứng (Adaptive Capacity): là năng lực của một tổ chức hoặc một hệ thống để giảm thiểu rủi ro do BĐKH hoặc để nhận ra những lợi ích từ những sự thay đổi đặc tính hoặc hành vi (IPCC, 2007). Tính dễ bị tổn thƣơng của một hệ thống hay đối tƣợng trƣớc một mối nguy nào đó tỷ lệ thuận với mức độ phơi lộ, hay có nghĩa là hệ thống hay đối tƣợng tiếp xúc 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hoặc bị tác động nhiều bởi mối nguy cơ đó. Đồng thời, tính dễ bị tổn thƣơng cũng tỉ lệ thuận với độ nhạy cảm của hệ thống hay đối tƣợng đó với mối nguy cơ. Ví dụ nhƣ biến đổi khí hậu làm cho tăng mối nguy ngập lụt hay xâm nhập mặn do nƣớc biển dâng thì các đối tƣợng là khu vực ven biển sẽ có mức độ phơi lộ lớn hơn so với khu vực trong lục địa; cũng với nguy cơ ngập lụt thì khu vực đồng bằng sẽ có độ nhạy cảm lớn hơn khu vực miền núi.
Tính dễ bị tổn thƣơng còn bị chi phối bởi khả năng thích ứng hay chống chịu của một hệ thống trƣớc mối nguy cơ; đó là khi có các biện pháp thích ứng tốt hay khả năng chống chịu cao thì tính dễ bị tổn thƣơng sẽ giảm đi. Các biện pháp thích ứng có thể là biện pháp chính sách, chiến lƣợc, quy hoạch phát triển, hành động ứng phó nhằm làm giảm mức độ phơi lộ hay độ nhạy cảm của hệ thống đối với nguy cơ. Ví dụ, cũng với mối nguy ngập lụt, xâm nhập mặn do nƣớc biển dâng, đối với các địa phƣơng có thực hiện xây dựng các công trình ngăn mặn (giảm mức độ phơi lộ) hay có phƣơng án chuyển đổi cây trồng sang các giống cây chịu mặn (giảm mức độ nhạy cảm) đƣợc coi là có khả năng thích ứng tốt do đó tính dễ bị tổn thƣơng sẽ giảm đi so với các địa phƣơng khác. Việc tiến hành nghiên cứu TDBTT theo các khía cạnh độ phơi lộ, độ nhạy cảm và khả năng thích ứng mang tính tổng quát và có ý nghĩa, do đó, luận văn lựa chọn khái niệm của IPCC về tính dễ bị tổn thƣơng do biến đổi khí hậu làm cơ sở để thực hiện lựa chọn phƣơng pháp đánh giá.
Tổng quan các phƣơng pháp đánh giá tính dễ bị tổn thƣơng trên thế giới Đánh giá TDBTT do BĐKH cung cấp những thông tin cơ sở định hƣớng cho những giải pháp thích ứng, xây dựng chiến lƣợc, chính sách, quy hoạch cho vùng, quốc gia, lãnh thổ, cộng đồng cũng nhƣ cho từng ngành, lĩnh vực cụ thể. Các nghiên cứu đánh giá TDBTT thƣờng đƣợc chia làm hai loại theo cách tiếp cận “thế hệ thứ nhất” và cách tiếp cận “thế hệ thứ hai”. Cách tiếp cận “thế hệ thứ nhất” còn đƣợc gọi là cách tiếp cận “tác động của BĐKH” hay “từ trên xuống” tập trung vào các tác động tiềm tàng của BĐKH trong dài hạn. Ngƣợc lại, cách tiếp cận “thế hệ thứ hai”, hay còn đƣợc gọi là cách tiếp cận “thích ứng với BĐKH” hay “từ dƣới lên” thì tập trung vào các giải pháp thích ứng và sự tham gia của cộng đồng (Ringler and G.
13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Cả hai cách tiếp cận “từ trên xuống” hay “từ dƣới lên” đều có ƣu điểm và nhƣợc điểm. Trong một số trƣờng hợp, nếu các nhà nghiên cứu quan tâm nhiều hơn đến các tác động dài hạn của BĐKH thì cách tiếp cận “từ trên xuống” sẽ hợp lý hơn. Trong trƣờng hợp khác, cách tiếp cận “từ dƣới lên” sẽ là hữu ích hơn nếu các nhà nghiên cứu quan tâm đến TDBTT trƣớc dao động khí hậu trong ngắn hạn nhiều hơn là BĐKH trong dài hạn. Sự khác biệt giữa hai cách tiếp cận này đƣợc thể hiện ở Hình 2.
Cách tiếp cận từ trên xuống và từ dƣới lên để đánh giá TDBTT và thích ứng Nguồn: Dessai và Hulme (2004) 2. Cách tiếp cận “từ trên xuống” Cách tiếp cận “từ trên xuống” tập trung đánh giá các rủi ro khí hậu trong dài hạn nhƣ vài thập kỷ và thƣờng đến 2100 và thƣờng dựa trên các kịch bản BĐKH.2 đƣa ra những thành phần chính của cách tiếp cận “từ trên xuống”. Trƣớc tiên, cần đánh giá xây dựng các kịch bản phát triển KT-XH và môi trƣờng, trên mối tƣơng quan với nhau. Hay các kịch bản của các thành phần liên quan phải tƣơng thích với nhau.
Ví dụ, dân số tăng lên có thể dẫn đến tổng sản phẩm quốc dân tăng lên nhƣng không có nghĩa là thu nhập trên đầu ngƣời tăng lên. Sau đó, các tác động đến tự nhiên sẽ đƣợc đánh giá, có thể đối với nhiều lĩnh vực và từ đó có thể kiểm tra các giải pháp thích ứng tƣơng ứng. Từ đó, ngƣời ta có thể đánh giá TDBTT và các giải pháp thích ứng đƣợc đề xuất. Cách tiếp cận “từ trên xuống” có thể cung cấp những thông tin quan trọng cho 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com quá trình quyết định chính sách và tập trung nhiều vào các tác động của BĐKH đến tự nhiên.
Tuy nhiên cách tiếp cận này không thể hiện rõ sự tƣơng tác với con ngƣời và khả năng thích ứng của địa phƣơng (UNFCCC, 2007). Các bƣớc đánh giá tính dễ bị tổn thƣơng theo hƣớng tiếp cận từ trên xuống Nguồn: Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu Thực hiện đánh giá tính dễ bị tổn thƣơng theo hƣớng tiếp cận từ trên xuống đã thực hiện có thể kể đến: Quy trình bảy bƣớc của IPCC (Carter, T. Nishioka, 1994); Chƣơng trình Nghiên cứu quốc gia của Hoa Kỳ; Phƣơng pháp đánh giá của Trung tâm nghiên cứu ven biển NOAA, Hoa Kỳ. Cách tiếp cận “từ dưới lên” Cách tiếp cận từ dƣới lên mới đƣợc đƣa ra trong những năm gần đây, bổ sung cho cách tiếp cận “từ trên xuống” do dựa trên các chiến lƣợc ứng phó của địa phƣơng, công nghệ và kiến thức bản địa, năng lực và khả năng ứng phó của cộng đồng và chính 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com quyền trƣớc các dao động khí hậu hiện tại.
Đối với cách tiếp cận này, nhiều nghiên cứu sử dụng định nghĩa về mƣ́c đô ̣ BĐKH , độ nhạy cảm và khả năng thích ứng để định lƣợng TDBTT (Sullivan, 2002; O’Brien và nnk, 2004; Vincent, 2004; Ebi và nnk, 2006; Thornton và nnk, 2006; Polsky và nnk, 2007, trong Hà Hải Dƣơng, 2014; Viện Khoa học Khí tƣợng Thủy văn và Biến đổi khí hậu, 2015). Sự khác nhau chủ yếu giữa các nghiên cứu bao gồm phạm vi nghiên cứu, phƣơng pháp lựa chọn, tổng hợp các yếu tố và phƣơng pháp thể hiện số liệu.