Tính đa dạng các loài trong chi ráng yểm dực tectaria cav tectariaceae ở việt nam

Tài liệu nghiên cứu Tính đa dạng các loài trong chi ráng yểm dực tectaria cav tectariaceae ở việt nam, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên sâu về .

Trường đại học

Trường đại học Lâm Nghiệp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2018

59
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Tình hình nghiên cứu đa dạng các loài Tectaria trên thế giới

1.2. Tình hình nghiên cứu đa dạng các loài Tectaria ở Việt Nam

2. CHƯƠNG 2: MỤC TIÊU – ĐỐI TƯỢNG – PHẠM VI – NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Mục tiêu nghiên cứu

2.1.1. Mục tiêu chung

2.1.2. Mục tiêu cụ thể

2.2. Phạm vi nghiên cứu

2.3. Nội dung nghiên cứu

2.3.1. Thành phần các loài trong chi Ráng Yểm Dực ở Việt Nam

2.3.2. Mô tả các đặc điểm hình thái, sinh thái và sinh học từng loài

2.3.3. Đánh giá tính đa dạng

2.4. Phương pháp nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1. Thành phần các loài trong chi Ráng yểm dực ở Việt Nam

3.2. Mô tả các đặc điểm hình thái, sinh thái và sinh học từng loài

3.2.1. Tectaria angulata (Willd.) – Ráng yểm dực cạnh

3.2.2. Tectaria brachiata (Zoll. Morton) – Ráng yểm dực nhánh

3.2.3. Tectaria cumingiana – Ráng yểm dực cuming

3.2.4. Tectaria decurrens – Ráng yểm dực cánh

3.2.5. Tectaria devexa Copel. – Ráng yểm dực dốc

3.2.6. Tectaria dubia (Bedd.) Ching – Ráng yểm dực hồ nghị

3.2.7. Tectaria ebenina (C. Chr.) Ching – Ráng yểm dực mun

3.2.8. Tectaria fauriei Tagawa – Ráng yểm dực fauri

3.2.9. Tectaria gemmifera (Fée) – Ráng yểm dực chung lại

3.2.10. Tectaria griffithii – Ráng yểm dực griffith

3.2.11. Tectaria harlandii (Hook.) – Ráng yểm dực harland

3.2.12. Tectaria herpetocaulos Holttum – Ráng yểm dực bò

3.2.13. Tectaria impressa (Fée) Holttum – Ráng yểm dực dấu

3.2.14. Tectaria ingens Holttum – Ráng yểm dực khổng lồ

3.2.15. Tectaria kusukusensis (Hayata) Lellinger – Ráng yểm dực nhật

3.2.16. Tectaria leptophylla (C.H. Wright) Ching – Ráng yểm dực năm lá

3.2.17. Tectaria leuzeana (Gaudich. ex C. Presl) Copel – Ráng yểm dực leuze

3.2.18. Tectaria paradoxa (Fée) – Ráng yểm dực chân hoe

3.2.19. Tectaria quinquefida (Baker) Ching – Ráng yểm dực xẻ năm

3.2.20. Tectaria sagenioides (Mett.) – Ráng yểm dực lưới

3.2.21. Tectaria setulosa (Baker) Holttum – Ráng yểm dực răng

3.2.22. Tectaria simonsii (Baker) Ching – Ráng yểm dực Simons

3.2.23. Tectaria stenoptera Ching – Ráng Yểm dực cánh hẹp

3.2.24. Tectaria stenosemioides (Alderw.) – Ráng yểm dực hạt nhỏ

3.2.25. Tectaria subpedata (Harr.) Ching – Ráng yểm dực có chân

3.2.26. Tectaria subsageniacea (Christ) Christenh. – Ráng yểm dực sagen

3.2.27. Tectaria subtriphylla (Hook. & Arn.) – Ráng yểm dực ba lá

3.2.28. Tectaria trichotoma (Fée) Tagawa – Ráng yểm dực chẻ ba

3.2.29. Tectaria variabilis Tardieu & Ching – Ráng yểm dực thay đổi

3.2.30. Tectaria vasta (Blume) Copel. – Ráng yểm dực đốm

3.2.31. Tectaria yunnanensis (Baker) Ching – Ráng yểm dực vân nam

3.2.32. Tectaria zeylanica (Houtt.) Sledge – Ráng yểm dực tích lan

3.3. Đánh giá tính đa dạng các loài Tectaria

KẾT LUẬN – TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Khám phá chi Ráng yểm dực Tectaria Tổng quan và vai trò

Việt Nam, một quốc gia được công nhận về mức độ đa dạng sinh học cao, là nơi sinh sống của khoảng 12.000 loài thực vật bậc cao có mạch. Trong đó, ngành Dương xỉ (Polypodiophyta) chiếm một vị trí quan trọng với sự đa dạng và phong phú, đặc biệt ở các vùng nhiệt đới. Chi Ráng yểm dực (Tectaria) thuộc họ Tectariaceae ở Việt Nam là một nhóm nổi bật nhưng chưa được nghiên cứu chuyên sâu. Các nghiên cứu trước đây đã cung cấp những nền tảng ban đầu, nhưng số liệu vẫn còn nhiều khác biệt. Công trình của Phạm Hoàng Hộ (1999) mô tả 28 loài, trong khi Phan Kế Lộc (2010) liệt kê 34 loài. Điều này cho thấy sự cần thiết của một nghiên cứu cập nhật, hệ thống để làm rõ thành phần loài dương xỉ trong chi này. Việc tìm hiểu tính đa dạng của dương xỉ Tectaria không chỉ góp phần bổ sung dữ liệu cho danh lục thực vật Việt Nam mà còn là cơ sở khoa học quan trọng cho công tác phân loại học thực vậtbảo tồn thực vật. Chi Tectaria, được Cavanilles thành lập năm 1799, phân bố chủ yếu ở các vùng nhiệt đới với khoảng 150-210 loài trên toàn thế giới. Các loài này thường có thân rễ ngắn, mọc trên đất dưới tán rừng. Sự hiểu biết về đặc điểm hình thái, sinh thái và phân bố của chúng giúp đánh giá chính xác hơn về tài nguyên thực vật quốc gia, đồng thời mở ra những hướng nghiên cứu mới về giá trị sử dụng và tiềm năng của các loài trong hệ thực vật Việt Nam.

1.1. Giới thiệu chi Ráng yểm dực và họ Tectariaceae

Chi Ráng yểm dực, với tên khoa học là Tectaria Cav., được xếp vào họ Tectariaceae. Trước đây, dựa trên các đặc điểm hình thái, chi này từng được đặt trong họ Dryopteridaceae. Tuy nhiên, các kết quả từ nghiên cứu di truyền phân tử gần đây, điển hình là công trình của Smith và cộng sự (2006), đã xác nhận vị trí của nó trong họ Tectariaceae. Họ này bao gồm các loài dương xỉ có đặc điểm chung là thân rễ ngắn, mọc trên đất, phiến lá đa dạng từ đơn đến kép lông chim nhiều lần. Sự phân loại này phản ánh đúng hơn mối quan hệ tiến hóa và di truyền giữa các loài, cung cấp một nền tảng vững chắc cho các nghiên cứu sâu hơn về chi Ráng yểm dực.

1.2. Vị trí của dương xỉ Tectaria trong hệ thực vật Việt Nam

Trong hệ thực vật Việt Nam, ngành Dương xỉ đóng góp một phần đáng kể vào sự đa dạng chung. Theo thống kê, Việt Nam có khoảng 717 loài dương xỉ. Chi Tectaria là một trong những chi lớn và phức tạp nhất trong họ Tectariaceae tại Việt Nam. Các nghiên cứu cho thấy chi này chiếm tỷ lệ cao trong họ, phản ánh sự thích nghi tốt với điều kiện khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm. Việc nghiên cứu chi Tectaria giúp làm sáng tỏ một mắt xích quan trọng trong hệ sinh thái rừng, bổ sung kiến thức về các loài đặc hữu Việt Nam và các loài có vùng phân bố Tectaria rộng, từ đó nâng cao giá trị của công tác điều tra, kiểm kê tài nguyên thực vật quốc gia.

II. Những thách thức trong phân loại dương xỉ Tectaria ở Việt Nam

Công tác nghiên cứu và phân loại học thực vật đối với chi Ráng yểm dực Tectaria tại Việt Nam đối mặt với nhiều thách thức. Thách thức lớn nhất đến từ sự thiếu thống nhất trong các tài liệu trước đây. Nghiên cứu của Phạm Hoàng Hộ (1999) và Phan Kế Lộc (2010) dù là những đóng góp lớn nhưng lại đưa ra số lượng loài khác nhau (28 so với 34 loài) và hệ thống phân loại cũng có sự thay đổi. Điều này gây khó khăn cho việc xác định danh pháp chính xác và xây dựng một danh lục thực vật Việt Nam cập nhật. Thêm vào đó, nhiều loài trong chi Tectaria có đặc điểm hình thái Tectaria rất biến thiên, phụ thuộc vào điều kiện môi trường sống như độ ẩm, ánh sáng và thổ nhưỡng. Sự biến đổi này làm cho việc nhận dạng chỉ dựa vào hình thái trở nên phức tạp, dễ gây nhầm lẫn giữa các loài hoặc thậm chí là các chi khác. Một số loài mới chỉ được ghi nhận ở một vài khu vực nhất định, đòi hỏi các cuộc điều tra thực địa quy mô lớn để xác nhận phân bố địa lý dương xỉ. Việc thiếu các mẫu vật chuẩn và các khóa định loại thực vật chi tiết, cập nhật cho hệ thực vật Việt Nam cũng là một rào cản lớn, khiến quá trình định danh kéo dài và giảm độ chính xác. Để vượt qua những thách thức này, cần có sự kết hợp giữa phương pháp hình thái học truyền thống và các kỹ thuật sinh học phân tử hiện đại.

2.1. Lịch sử nghiên cứu và những số liệu chưa thống nhất

Lịch sử nghiên cứu chi Tectaria ở Việt Nam bắt đầu từ những công trình sớm của Ching (1938). Sau đó, các tài liệu quan trọng như "Cây cỏ Việt Nam" của Phạm Hoàng Hộ (1999) đã thống kê 28 loài, xếp chi này vào họ Dryopteridaceae. Đến năm 2010, Phan Kế Lộc đã cập nhật danh sách lên 34 loài và chuyển chúng sang họ Tectariaceae theo hệ thống của Smith và cộng sự (2006). Sự chênh lệch về số lượng và hệ thống phân loại cho thấy tính phức tạp của chi này và sự phát triển không ngừng của khoa học phân loại. Những dữ liệu không đồng nhất này đòi hỏi một cuộc rà soát toàn diện để xây dựng một danh lục chính xác, làm cơ sở cho các nghiên cứu về đa dạng sinh học sau này.

2.2. Khó khăn trong việc xây dựng khóa định loại thực vật

Việc xây dựng một khóa định loại thực vật hoàn chỉnh cho chi Tectaria là một nhiệm vụ cấp bách nhưng đầy thách thức. Sự đa dạng về hình thái lá, từ lá đơn, xẻ thùy đến kép lông chim 2-3 lần, cùng với các đặc điểm vi thể của vảy và bào tử, đòi hỏi sự quan sát tỉ mỉ. Nhiều đặc điểm có thể thay đổi theo giai đoạn phát triển của cây hoặc điều kiện sinh thái. Ví dụ, loài Tectaria variabilis có tên khoa học mang ý nghĩa "thay đổi", phản ánh sự biến thiên lớn về hình thái. Do đó, một khóa định loại hiệu quả cần dựa trên những đặc điểm ổn định, ít bị ảnh hưởng bởi môi trường, chủ yếu là các đặc điểm của cơ quan sinh sản như ổ túi bào tử và bao mô. Việc này cần sự kết hợp giữa nghiên cứu mẫu vật tại phòng tiêu bản và khảo sát thực địa rộng khắp.

III. Phương pháp nhận dạng Đặc điểm hình thái Tectaria đặc trưng

Phương pháp nghiên cứu chính để xác định tính đa dạng các loài trong chi Ráng yểm dực Tectaria dựa trên phân tích so sánh các đặc điểm hình thái Tectaria. Đây là phương pháp nền tảng trong phân loại học thực vật, đặc biệt hiệu quả đối với dương xỉ. Quá trình này bao gồm hai phần chính: phân tích cơ quan sinh dưỡng và cơ quan sinh sản. Cơ quan sinh dưỡng, bao gồm thân rễ, vảy, cuống lá và phiến lá, cung cấp những dấu hiệu nhận biết ban đầu. Hình dạng, kích thước, màu sắc của vảy trên thân rễ và cuống lá là những đặc điểm quan trọng. Cấu trúc phiến lá, từ đơn đến kép lông chim nhiều lần, kiểu phân thùy, và hệ gân lá (dạng lưới đặc trưng) là những yếu tố cốt lõi để phân biệt các nhóm loài. Tuy nhiên, các đặc điểm của cơ quan sinh sản được xem là ổn định và có giá trị phân loại cao hơn. Vị trí, hình dạng, kích thước của ổ túi bào tử (sori) và sự hiện diện hay không, hình dạng của bao mô (indusium) là những tiêu chí quyết định để định danh loài một cách chính xác. Nghiên cứu kết hợp việc phân tích mẫu vật khô tại các phòng tiêu bản (HN, HNU, VNUF) và thu thập mẫu tươi từ các vườn quốc gia, khu bảo tồn trên cả nước để đảm bảo tính toàn diện và cập nhật.

3.1. Phân tích đặc điểm hình thái cơ quan sinh dưỡng

Cơ quan sinh dưỡng của dương xỉ Tectaria rất đa dạng. Thân rễ có thể mọc thẳng, xiên hoặc bò, được bao phủ bởi các vảy có hình dạng và màu sắc khác nhau (ví dụ T. phaeocaulis có vảy nâu đậm). Cuống lá thường dài, màu sắc từ rơm, nâu đến đen mun (T. ebenina). Đặc điểm quan trọng nhất là phiến lá, có thể là lá đơn (T. leptophylla), chẻ ba (T. subtriphylla), hoặc kép lông chim phức tạp (T. leuzeana). Hệ gân lá dạng lưới với các gân con tự do bên trong các ô mạng là một đặc điểm nhận dạng quan trọng của chi. Việc phân tích kỹ lưỡng các đặc điểm này giúp thu hẹp phạm vi nhận dạng và phân nhóm các loài có liên quan.

3.2. Vai trò của cơ quan sinh sản trong phân loại học

Trong phân loại học thực vật, đặc điểm cơ quan sinh sản có tính ổn định di truyền cao, ít bị tác động bởi môi trường. Đối với Tectaria, ổ túi bào tử (sori) có thể có hình tròn (T. impressa) hoặc hình thận, phân bố thành hàng hoặc rải rác trên mặt dưới lá. Sự hiện diện và hình dạng của bao mô (màng che phủ ổ túi bào tử) là một tiêu chí phân loại then chốt. Một số loài có bao mô bền, không rụng (T. quinquefida), trong khi một số khác có bao mô mau rụng hoặc không có. Kích thước và hình dạng của bào tử, quan sát dưới kính hiển vi, cũng cung cấp thêm dữ liệu để xác định loài một cách chính xác, góp phần xây dựng khóa định loại thực vật đáng tin cậy.

IV. Danh lục 35 loài dương xỉ Tectaria được ghi nhận tại Việt Nam

Kết quả nghiên cứu tổng hợp từ các tài liệu đã công bố và phân tích mẫu vật đã xây dựng được danh lục gồm 35 loài thuộc chi Ráng yểm dực (Tectaria) có phân bố tại Việt Nam. Con số này cao hơn so với công bố của Phạm Hoàng Hộ (1999) là 7 loài và cao hơn Phan Kế Lộc (2010) là 1 loài. Sự gia tăng này không chỉ do phát hiện các loài mới mà còn đến từ việc cập nhật danh pháp và chuyển một số loài từ các chi khác như Ctenitopsis vào Tectaria, dựa trên các bằng chứng nghiên cứu di truyền phân tử mới nhất. Danh lục này cung cấp một cái nhìn toàn diện và cập nhật về thành phần loài dương xỉ trong chi Tectaria ở Việt Nam. Trong số 35 loài, có nhiều loài có vùng phân bố rộng khắp cả nước như Tectaria decurrens, T. polymorpha. Một số loài khác có vùng phân bố Tectaria hẹp hơn, chỉ được tìm thấy ở một số khu vực đặc thù như vùng núi đá vôi phía Bắc hoặc vùng núi cao Tây Nguyên. Ví dụ, Tectaria kusukusensis (đồng danh Ctenitopsis tamdaoensis) được ghi nhận ở Tam Đảo, Xuân Sơn, trong khi Tectaria herpetocaulos được tìm thấy ở Khu BTTN Nam Kar, Đắk Lắk. Việc công bố danh lục này là một bước tiến quan trọng, làm cơ sở cho các nghiên cứu sâu hơn về sinh thái, giá trị và các biện pháp bảo tồn thực vật cho từng loài.

4.1. Cập nhật thành phần loài dương xỉ Tectaria mới nhất

Danh lục 35 loài là kết quả của quá trình rà soát, đối chiếu và chỉnh lý danh pháp một cách cẩn thận. Một số tên khoa học đã được cập nhật, ví dụ T. fuscipes nay được xác định là tên đồng danh của T. paradoxa. Loài Ctenitopsis sagenioides được Phạm Hoàng Hộ (1999) ghi nhận nay được chuyển thành Tectaria sagenioides. Quá trình này giúp thống nhất hệ thống phân loại, tránh các nhầm lẫn và tạo ra một tài liệu tham khảo đáng tin cậy cho cộng đồng khoa học. Việc cập nhật liên tục thành phần loài dương xỉ là cần thiết để phản ánh đúng thực trạng đa dạng sinh học của quốc gia.

4.2. Mô tả chi tiết một số loài Tectaria đặc hữu Việt Nam

Mặc dù tài liệu gốc không chỉ rõ loài nào là đặc hữu hoàn toàn, nhưng một số loài có vùng phân bố rất hẹp và chủ yếu được ghi nhận tại Việt Nam. Ví dụ, Tectaria variabilis được Tardieu & Ching mô tả dựa trên mẫu vật từ khu vực Nha Trang, Bà Nà. Tectaria tamdaoensis, mặc dù hiện là đồng danh của T. kusukusensis, cũng được Ching mô tả lần đầu từ mẫu vật ở Tam Đảo. Việc nghiên cứu sâu hơn về các loài đặc hữu Việt Nam này có ý nghĩa quan trọng trong bảo tồn thực vật, vì chúng đại diện cho nguồn gen độc đáo của hệ thực vật Việt Nam và dễ bị tổn thương trước các thay đổi của môi trường.

V. Đánh giá mức độ đa dạng và vùng phân bố Tectaria tại Việt Nam

Việc đánh giá mức độ đa dạng của chi Tectaria cho thấy vai trò quan trọng của chi này trong hệ thực vật. Với 35 loài được ghi nhận, chi Ráng yểm dực chiếm một tỷ lệ đáng kể trong họ Tectariaceae ở Việt Nam. Theo Danh lục thực vật Việt Nam, họ Tectariaceae có 49 loài, như vậy chi Tectaria chiếm tới 71,4% tổng số loài của họ. So với tổng số 717 loài dương xỉ của cả nước, chi này chiếm khoảng 4,88%. Các con số này minh chứng cho sự đa dạng vượt trội của chi Tectaria. Về phân bố địa lý dương xỉ, các loài Tectaria có mặt ở hầu hết các vùng sinh thái của Việt Nam, từ vùng núi thấp đến vùng núi cao trên 2000m. Chúng thường phát triển mạnh dưới tán rừng nguyên sinh và thứ sinh, đặc biệt là những nơi ẩm ướt, ven suối hoặc trên các sườn núi đá vôi. Một số loài như Tectaria decurrensT. vasta có phổ sinh thái rộng, có thể tìm thấy từ Bắc vào Nam. Trong khi đó, một số loài khác lại có vùng phân bố Tectaria giới hạn hơn, ví dụ T. yunnanensis được ghi nhận ở Hà Giang, T. ingens cũng ở vùng núi phía Bắc. Sự đa dạng về sinh cảnh sống và vùng phân bố này cho thấy khả năng thích nghi cao của chi, đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo vệ các hệ sinh thái rừng khác nhau để bảo tồn trọn vẹn sự đa dạng sinh học của chi này.

5.1. So sánh đa dạng sinh học với họ và ngành dương xỉ

Phân tích so sánh cho thấy sự thống trị của chi Ráng yểm dực trong họ Tectariaceae tại Việt Nam. Với 35/49 loài (chiếm 71,4%), Tectaria là chi lớn và đa dạng nhất trong họ. Tỷ lệ này cao hơn đáng kể so với các chi khác cùng họ như Pleocnemia hay Pteridrys. Điều này cho thấy Việt Nam là một trong những trung tâm đa dạng của chi Tectaria. So với toàn ngành Dương xỉ, tỷ lệ 4,88% cũng là một con số có ý nghĩa, khẳng định vai trò của chi này trong việc tạo nên sự phong phú của quần thể dương xỉ quốc gia.

5.2. Phân tích phân bố địa lý dương xỉ qua các vùng sinh thái

Các loài Tectaria phân bố rộng khắp các khu vực địa lý-sinh thái của Việt Nam. Vùng núi phía Bắc (Hoàng Liên Sơn, Ba Bể, Cúc Phương, Tam Đảo) là nơi ghi nhận nhiều loài, bao gồm cả những loài ưa khí hậu á nhiệt đới. Dải Trường Sơn, đặc biệt là các khu vực như Bạch Mã, Bà Nà, cũng là một điểm nóng về đa dạng Tectaria. Vùng Tây Nguyên và Đông Nam Bộ (Cát Tiên, Nam Kar) cũng có sự hiện diện của nhiều loài đặc trưng cho khí hậu nhiệt đới. Sự phân bố đa dạng này liên quan chặt chẽ đến sự đa dạng của địa hình, khí hậu và các loại thảm thực vật rừng ở Việt Nam.

VI. Hướng đi mới trong bảo tồn thực vật và nghiên cứu Tectaria

Kết quả nghiên cứu về tính đa dạng các loài trong chi Ráng yểm dực Tectaria đã cung cấp một cơ sở dữ liệu khoa học vững chắc, từ đó mở ra những định hướng quan trọng cho tương lai. Trước hết, cần tiếp tục các nghiên cứu chuyên sâu để hoàn thiện khóa định loại thực vật cho chi này, kết hợp cả phương pháp hình thái và nghiên cứu di truyền phân tử. Việc giải trình tự DNA sẽ giúp giải quyết các mối quan hệ phức tạp giữa các loài và xác định chính xác các loài đặc hữu Việt Nam. Thứ hai, công tác bảo tồn thực vật cần được chú trọng. Cần tiến hành đánh giá tình trạng của từng loài theo danh lục của IUCN để xác định mức độ nguy cấp và ưu tiên các biện pháp bảo tồn. Bảo tồn tại chỗ (in-situ) thông qua việc bảo vệ các hệ sinh thái rừng, đặc biệt là các vườn quốc gia và khu bảo tồn nơi có nhiều loài Tectaria phân bố, là giải pháp bền vững nhất. Đồng thời, cần nghiên cứu các kỹ thuật nhân giống để tiến hành bảo tồn chuyển vị (ex-situ) đối với các loài quý hiếm, có nguy cơ tuyệt chủng cao. Cuối cùng, việc xây dựng các chương trình nâng cao nhận thức cộng đồng về giá trị của đa dạng sinh học và vai trò của dương xỉ trong hệ sinh thái là vô cùng cần thiết để huy động sự tham gia của xã hội vào công tác bảo tồn, đảm bảo sự phát triển bền vững của hệ thực vật Việt Nam.

6.1. Tổng kết giá trị khoa học của nghiên cứu đa dạng Tectaria

Nghiên cứu này không chỉ cập nhật danh lục thực vật Việt Nam mà còn khẳng định Việt Nam là một trung tâm đa dạng quan trọng của chi Tectaria. Các dữ liệu về hình thái, sinh thái và phân bố là nguồn tài liệu quý giá cho các nhà khoa học, sinh viên và các nhà quản lý tài nguyên. Kết quả này là nền tảng cho các nghiên cứu tiếp theo về dược tính, hóa thực vật hoặc tiềm năng ứng dụng làm cảnh của một số loài Tectaria, mở ra các hướng khai thác bền vững tài nguyên thực vật.

6.2. Kiến nghị các giải pháp bảo tồn thực vật hiệu quả

Để bảo tồn hiệu quả sự đa dạng của dương xỉ Tectaria, cần có những hành động cụ thể. Cần tăng cường điều tra, giám sát tại các khu vực có tính đa dạng cao nhưng chưa được nghiên cứu kỹ. Cần xây dựng một cơ sở dữ liệu quốc gia về chi Tectaria, tích hợp thông tin hình thái, phân bố và di truyền. Ngoài ra, việc đào tạo đội ngũ chuyên gia về phân loại học thực vật, đặc biệt là dương xỉ học, là yếu tố then chốt để đảm bảo công tác nghiên cứu và bảo tồn được thực hiện một cách chuyên nghiệp và bền vững trong tương lai.

04/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Việt Nam là 1 quốc gia có tính đa dạng thực vật cao với gần 12.000 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc hơn 2.256 chi, 305 họ (chiếm 4% tổng số loài, 15% tổng số chi, 57% tổng số họ thực vật trên thế giới); 69 loài thực vật hạt trần; 12.000 loài thực vật hạt kín; 2.176 loài tảo; 481 loài rêu; 368 loài vi khuẩn lam; 691 loài dƣơng xỉ và 100 loài khác. Nghiên cứu đa dạng thực vật góp phần bổ sung thêm cơ sở dữ liệu về đa dạng hệ thực vật của Việt Nam, tài nguyên thực vật của Việt Nam.Trên quan điểm xây dựng một số liệu cập nhật chính xác, thống nhất làm cơ sở cho việc đánh giá, rà soát tính đa dạng hệ thực vật cả về mặt đa dạng loài, đa dạng giá trị sử dụng, dạng sống và tình trạng bảo tồn của các loài thực vật nhằm phục vụ công tác quản lý bảo tồn hệ sinh thái rừng có hiệu quả hơn( Tài nguyên sinh vật Việt Nam). Đa dạng về thành phần loài thực vật là một trong những đề tài đƣợc các nhà khoa học trong và ngoài nƣớc quan tâm nghiên cứu rất sớm, là cơ sở quan trọng để đánh giá mức độ đa dạng sinh học ở khu vực nghiên cứu. Ở nƣớc ta với tính chất khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng, ẩm, có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho các sinh vật phát triển, có độ đa dạng sinh học cao.

Hiện nay, các nhà thực vật vẫn không ngừng tìm kiếm các loài mới để bổ sung vào danh lục các loài thực vật có ở Việt Nam. Trong giới thực vật, Dƣơng xỉ (Polypodiophyta) là một ngành lớn, rất đa dạng và phong phú, phân bố trên khắp trái đất, nhiều nhất là vùng nhiệt đới. Theo Takhtajan (1986), ngành này đƣợc phân thành 5 lớp gồm 300 chi và hơn 10. Trong đó, các Dƣơng xỉ hiện sống nằm trong 3 lớp(Ophioglossopsida, Marattiopsida và Polypodiopsida), hai lớp còn lại gồm những đại diện Dƣơng xỉ cổ nhất, xuất hiện từ kỷ Ðêvôn nhƣng hiện nay đã tuyệt chủng do sự biến đổi khí hậu và điều kiện sống.

Trong quyển “ Cây cỏ Việt Nam” của Phạm Hoàng Hộ (1999), tác giả thống kê đƣợc Dƣơng xỉ có 3 lớp, 27 họ, 789 loài. Bên cạnh đó, 1 nhiều đề tài tìm hiểu về giá trị của Dƣơng xỉ cũng đƣợc quan tâm nghiên cứu, đặc biệt nhƣ khả năng loại bỏ Asen trong đất nhiễm kim loại nặng (Bùi Kim Anh, 2011), làm sạch môi trƣờng của một số loại Dƣơng xỉ. Phần lớn, các đề tài đƣợc thực hiện theo vùng, miền hay các khu vực nhất định nhƣ vƣờn quốc gia, khu bảo tồn và do điều kiện sống, đặc điểm khí hậu, địa lí giữa các vùng, các khu vực khác nhau nên có sự dao động về số lƣợng, thành phần loài cũng nhƣ sự mật độ phân bố của các loài Dƣơng xỉ. Hiện nay ở Việt Nam chi Ráng Yểm Dực (Tectaria) họ Tectariaceae vẫn chƣa đƣợc nghiên cứu chuyên sâu.

Trong “Cây cỏ Việt Nam” của Phạm Hoàng Hộ năm 1999 đã mô tả và minh hoạ bằng hình vẽ 28 loài thuộc chi Tectaria. Phan Kế Lộc năm 2010 đã liệt kê ở Việt Nam có 34 loài Tectaria nhƣng không kèm theo mô tả hoặc minh hoạ. Do đó cần có những nghiên cứu chuyên sâu về các loài Tectaria ở Việt Nam để cập nhật về số lƣợng loài cũng nhƣ bổ sung các thông tin về mô tả hình thái, các đặc điểm về sinh thái và sinh học kèm theo minh hoạ bằng hình ảnh (Thế và cộng sự 2017). Xuất phát từ các lý do trên chúng tôi chọn đề tài “Tính đa dạng các loài trong chi Ráng Yểm Dực ( Tectaria Cav., Tectariaceae) ở Việt Nam”.

2 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu đa dạng các loài Tectaria trên thế giới Chi Tectaria đƣợc Cavanilles thành lập vào năm 1799. Trƣớc đây chi này đƣợc xếp vào họ Dryopteridaceae, nhƣng sau này dựa trên các kết quả nghiên cứu về sinh học phân tử đã xếp chúng vào họ Tectariaceae (Smith và cộng sự, 2006). Trên thế giới có khoảng 150-210 loài thuộc chi Tectaria phân bố chủ yếu ở các vùng nhiệt đới (Tryon và cộng sự, 1989; Holttum, 1991).

Chúng có thân rễ, thấp và mọc trên đất. Morton (1966) đã mô tả 4 loài Tectaria phân bố ở Bắc Mỹ. Jacobsen (1983) đã ghi nhận kèm mô tả 1 loài Tectaria phân bố ở Nam Phi. Xing và cộng sự (2013) đã mô tả và ghi nhận khoảng 35 loài Tectaria phân bố ở Trung Quốc trong đó có 6 loài là đặc hữu.

Lindsay và cộng sự (2009) đã lên danh lục nhƣng không kèm theo mô tả 29 loài Tectaria phân bố ở Thái Lan. Holttum (1991) là mô tả 2 loài Tectaria phân bố ở Malaysia Newman và công sự (2007) đã lên danh lục 7 loài Tectaria phân bố ở Lào nhƣng không kèm theo mô tả. Tình hình nghiên cứu đa dạng các loài Tectaria ở Việt Nam Có thể nói ngƣời đầu tiên nghiên cứu Tectaria ở Việt Nam là Ching vào năm 1938 đã mô tả loài mới từ Tam Đảo Ctenitopsis tamdaoensis Ching (họ Tectariaceae). Sau đó tên khoa học này đã trở thành tên đồng nghĩa của loài Tectaria kusukusensis (Hayata) Lellinger (họ Tectariaceae) vào năm 1968 (Lellinger, 1968).

Phạm Hoàng Hộ trong cuốn "Cây Cỏ Việt Nam" năm 1999 đã thống kê các loài Tectaria ở Việt Nam kèm theo mô tả và hình vẽ minh hoạ. Trong công trình nghiên cứu này tác giả đã theo hệ thống của Kramer (1990) xếp chi Tectaria vào họ Dryopteridaceae. Theo đó họ này bao gồm 15 chi là Ctenitis (2 loài), Ctenitopsis (5 loài), Pteridrys (5 loài), Tectaria (28 loài), Hemigramma (2 loài), Pleocnemia (2 3 loài), Cyclopeltis (1 loài), Didymochlaena (2 loài), Diacalpe (1 loài), Polystichum (13 loài), Cyrtomium (6 loài), Cyrtogonellum (1 loài), Dryopteris (22 loài), Arachniodes (6 loài) và Acrophorus (1 loài). Nhƣ vậy theo Phạm Hoàng Hộ, chi Tectaria ở Việt Nam gồm có 28 loài và là chi chứa nhiều loài nhất trong họ Dryopteridaceae.

Vào năm 2010, Phan Kế Lộc đã lập đƣợc danh sách các loài Tectaria ở Việt Nam gồm 34 loài. Tác giả đã liệt kê chúng vào họ Tectariaceae theo hệ thống phân loại của Smith và cộng sự năm 2006. Đây là hệ thống phân loại dựa trên các kết quả nghiên cứu về sinh học phân tử. Theo hệ thống này thì họ Tectariaceae đƣợc tách riêng ra khỏi họ Dryopteridaceae.

Trong công trình của Phan Kế Lộc thì họ Tectariaceae ở Việt Nam gồm 5 chi là: Arthropteris (2 loài), Heterogonium (5 loài), Pleocnemia (3 loài), Pteridrys (5 loài) và Tectaria (34 loài). Dựa trên sự thống kê của tác giả thì có thể thấy số lƣợng các loài trong chi Tectaria ở Việt Nam tăng lên đáng kể và vẫn là chi chứa nhiều loài nhất trong họ. Sở dĩ có sự tăng lên về số lƣợng từ 28 loài (Phạm Hoàng Hộ, 1999) lên đến 34 loài là bởi vì theo hệ thống mới của Smith và cộng sự (2006) đã tách hoặc gộp nhiều chi và nhiều loài khác nhau. Do đó, họ Dryopteridaceae mô tả trong tài liệu của Phạm Hoàng Hộ (1999) đã đƣợc tách ra hoặc gộp vào nhƣ sau: chi Arthropteris nay thuộc họ Davalliaceae; một số loài thuộc chi Heterogonium đƣợc nhập vào Tectaria và Ctenitopsis; các chi Ctenitis, Diacalpe, Polystichum, Cyrtomium, Cyrtogonellum, Dryopteris, Arachniodes và Acrophorus vẫn giữ nguyên trong họ Dryopteridaceae; 1 loài thuộc chi Cyclopeltis chuyển sang họ Lomariopsidaceae; 1 loài thuộc chi Didymochlaena chuyển sang họ Hypodematiaceae; và một số loài thuộc chi Hemigramma chuyển sang chi Tectaria.

Tuy nhiên Phan Kế Lộc (2010) mới chỉ đƣa ra đƣợc danh lục chứ chƣa mô tả hoặc minh hoạ bằng hình ảnh. Ngoài hai công trình lớn của Phạm Hoàng Hộ (1999) và Phan Kế Lộc (2010) kể trên thì những năm gần đây có một số công trình nghiên cứu theo vùng có đề 4 cập đến chi Tectaria. Nhƣng các công trình này cũng chỉ lên đƣợc danh sách loài chứ chƣa có mô tả hoặc minh hoạ bằng hình ảnh. Nguyễn Quang Hiếu và cộng sự (2012) khi nghiên cứu hiện trạng bảo tồn của một số loài thực vật nhạy cảm ở Khu Bảo tồn Thiên nhiên Ngọc Sơn – Ngổ Luông (Hoà Bình) đã ghi nhận 1 loài đó là Tectaria decurrens.

Năm 2012, Nguyễn Thị Tuyết Nhung đã ghi nhận 4 loài Tectaria ở Vƣờn Quốc Gia Cát Tiên, đó là T. Tại VQG Bến En, Hoàng Văn Sâm (2009) đã ghi nhận đƣợc 4 loài là T. vasta và 1 loài chƣa xác định (Tectaria sp. Các nguồn dữ liệu thực vật ở các Vƣờn Quốc Gia (VQG), Khu Bảo tồn Thiên nhiên (BTTN) cũng đã ghi nhận danh sách các loài Tectaria xuất hiện trong khu vực nhƣng cũng không có mô tả cụ thể.

Điển hình nhƣ danh lục thực vật ở VQG Hoàng Liên ghi nhận 2 loài, VQG Xuân Sơn 5 loài, VQG Ba Bể 5 loài, VQG Pù Mát 1 loài, VQG Bạch Mã 4 loài, VQG Chƣ Mom Ray 6 loài, Khu BTTN Hang Kia – Pà Cò 3 loài, Khu BTTN Phƣớc Bình 1 loài … 5 CHƢƠNG II: MỤC TIÊU – ĐỐI TƢỢNG – PHẠM VI – NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2. Mục tiêu nghiên cứu 2. Mục tiêu chung - Nghiên cứu “Tính đa dạng các loài trong chi Ráng Yểm Dực (Tectaria Cav., Tectariaceae) ở Việt Nam” Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần kiểm kê thành phần các loài trong chi Ráng Yểm Dực nói riêng và thành phần các loài thực vật nói chung ở Việt Nam. Mục tiêu cụ thể - Xây dựng danh lục các loài trong chi Ráng Yểm Dực ở Việt Nam.

- Góp phần mô tả các đặc điểm hình thái, sinh thái và sinh học các loài trong chi Ráng Yểm Dực. - Đánh giá đƣợc mức độ đa dạng loài trong chi này so với các các loài thực vật bậc cao có mạch ở Việt Nam. Đánh giá tính đa dạng về sinh cảnh sống và vùng phân bố địa lý. Phạm vi nghiên cứu Phạm vị về nội dung: Kiểm kê số lƣợng các loài trong chi Ráng Yểm Dực kèm theo các mô tả về hình thái, sinh thái sinh học của từng loài.

Phạm vị về phƣơng pháp: Kế thừa các tài liệu về phân loại của Phạm Hoàng Hộ và Phan Kế Lộc; nghiên cứu mẫu vật trong phòng tiêu bản và trực tiếp thu mẫu. 6 Phạm vi về không gian và thời gian: địa điểm thu mẫu tại một số Vƣờn Quốc Gia và Khu Bảo tồn thiên nhiên gồm: Hoàng Liên Sơn, Ba Bể, Tam Đảo, Ba Vì, Cúc Phƣơng, , Bạch Mã,Bà Nà Núi Chúa, Nam Nung, Nam Ka, và Chƣ Yang Sin. Nghiên cứu tiêu bản mẫu thực vật khô tại phòng Tiêu bản ĐH Khoa học tự nhiên, ĐH Quốc gia Hà Nội; Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vât và Đại học Lâm nghiệp. Thời gian từ 22/11/2017 đến 25/3/2018.

Nội dung nghiên cứu 2. Thành phần các loài trong chi Ráng Yểm Dực ở Việt Nam. Lên đƣợc danh lục các loài Tectaria ở Việt Nam.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ