ĐẶT VẤN ĐỀ Việt Nam là 1 quốc gia có tính đa dạng thực vật cao với gần 12.000 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc hơn 2.256 chi, 305 họ (chiếm 4% tổng số loài, 15% tổng số chi, 57% tổng số họ thực vật trên thế giới); 69 loài thực vật hạt trần; 12.000 loài thực vật hạt kín; 2.176 loài tảo; 481 loài rêu; 368 loài vi khuẩn lam; 691 loài dƣơng xỉ và 100 loài khác. Nghiên cứu đa dạng thực vật góp phần bổ sung thêm cơ sở dữ liệu về đa dạng hệ thực vật của Việt Nam, tài nguyên thực vật của Việt Nam.Trên quan điểm xây dựng một số liệu cập nhật chính xác, thống nhất làm cơ sở cho việc đánh giá, rà soát tính đa dạng hệ thực vật cả về mặt đa dạng loài, đa dạng giá trị sử dụng, dạng sống và tình trạng bảo tồn của các loài thực vật nhằm phục vụ công tác quản lý bảo tồn hệ sinh thái rừng có hiệu quả hơn( Tài nguyên sinh vật Việt Nam). Đa dạng về thành phần loài thực vật là một trong những đề tài đƣợc các nhà khoa học trong và ngoài nƣớc quan tâm nghiên cứu rất sớm, là cơ sở quan trọng để đánh giá mức độ đa dạng sinh học ở khu vực nghiên cứu. Ở nƣớc ta với tính chất khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng, ẩm, có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho các sinh vật phát triển, có độ đa dạng sinh học cao.
Hiện nay, các nhà thực vật vẫn không ngừng tìm kiếm các loài mới để bổ sung vào danh lục các loài thực vật có ở Việt Nam. Trong giới thực vật, Dƣơng xỉ (Polypodiophyta) là một ngành lớn, rất đa dạng và phong phú, phân bố trên khắp trái đất, nhiều nhất là vùng nhiệt đới. Theo Takhtajan (1986), ngành này đƣợc phân thành 5 lớp gồm 300 chi và hơn 10. Trong đó, các Dƣơng xỉ hiện sống nằm trong 3 lớp(Ophioglossopsida, Marattiopsida và Polypodiopsida), hai lớp còn lại gồm những đại diện Dƣơng xỉ cổ nhất, xuất hiện từ kỷ Ðêvôn nhƣng hiện nay đã tuyệt chủng do sự biến đổi khí hậu và điều kiện sống.
Trong quyển “ Cây cỏ Việt Nam” của Phạm Hoàng Hộ (1999), tác giả thống kê đƣợc Dƣơng xỉ có 3 lớp, 27 họ, 789 loài. Bên cạnh đó, 1 nhiều đề tài tìm hiểu về giá trị của Dƣơng xỉ cũng đƣợc quan tâm nghiên cứu, đặc biệt nhƣ khả năng loại bỏ Asen trong đất nhiễm kim loại nặng (Bùi Kim Anh, 2011), làm sạch môi trƣờng của một số loại Dƣơng xỉ. Phần lớn, các đề tài đƣợc thực hiện theo vùng, miền hay các khu vực nhất định nhƣ vƣờn quốc gia, khu bảo tồn và do điều kiện sống, đặc điểm khí hậu, địa lí giữa các vùng, các khu vực khác nhau nên có sự dao động về số lƣợng, thành phần loài cũng nhƣ sự mật độ phân bố của các loài Dƣơng xỉ. Hiện nay ở Việt Nam chi Ráng Yểm Dực (Tectaria) họ Tectariaceae vẫn chƣa đƣợc nghiên cứu chuyên sâu.
Trong “Cây cỏ Việt Nam” của Phạm Hoàng Hộ năm 1999 đã mô tả và minh hoạ bằng hình vẽ 28 loài thuộc chi Tectaria. Phan Kế Lộc năm 2010 đã liệt kê ở Việt Nam có 34 loài Tectaria nhƣng không kèm theo mô tả hoặc minh hoạ. Do đó cần có những nghiên cứu chuyên sâu về các loài Tectaria ở Việt Nam để cập nhật về số lƣợng loài cũng nhƣ bổ sung các thông tin về mô tả hình thái, các đặc điểm về sinh thái và sinh học kèm theo minh hoạ bằng hình ảnh (Thế và cộng sự 2017). Xuất phát từ các lý do trên chúng tôi chọn đề tài “Tính đa dạng các loài trong chi Ráng Yểm Dực ( Tectaria Cav., Tectariaceae) ở Việt Nam”.
2 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu đa dạng các loài Tectaria trên thế giới Chi Tectaria đƣợc Cavanilles thành lập vào năm 1799. Trƣớc đây chi này đƣợc xếp vào họ Dryopteridaceae, nhƣng sau này dựa trên các kết quả nghiên cứu về sinh học phân tử đã xếp chúng vào họ Tectariaceae (Smith và cộng sự, 2006). Trên thế giới có khoảng 150-210 loài thuộc chi Tectaria phân bố chủ yếu ở các vùng nhiệt đới (Tryon và cộng sự, 1989; Holttum, 1991).
Chúng có thân rễ, thấp và mọc trên đất. Morton (1966) đã mô tả 4 loài Tectaria phân bố ở Bắc Mỹ. Jacobsen (1983) đã ghi nhận kèm mô tả 1 loài Tectaria phân bố ở Nam Phi. Xing và cộng sự (2013) đã mô tả và ghi nhận khoảng 35 loài Tectaria phân bố ở Trung Quốc trong đó có 6 loài là đặc hữu.
Lindsay và cộng sự (2009) đã lên danh lục nhƣng không kèm theo mô tả 29 loài Tectaria phân bố ở Thái Lan. Holttum (1991) là mô tả 2 loài Tectaria phân bố ở Malaysia Newman và công sự (2007) đã lên danh lục 7 loài Tectaria phân bố ở Lào nhƣng không kèm theo mô tả. Tình hình nghiên cứu đa dạng các loài Tectaria ở Việt Nam Có thể nói ngƣời đầu tiên nghiên cứu Tectaria ở Việt Nam là Ching vào năm 1938 đã mô tả loài mới từ Tam Đảo Ctenitopsis tamdaoensis Ching (họ Tectariaceae). Sau đó tên khoa học này đã trở thành tên đồng nghĩa của loài Tectaria kusukusensis (Hayata) Lellinger (họ Tectariaceae) vào năm 1968 (Lellinger, 1968).
Phạm Hoàng Hộ trong cuốn "Cây Cỏ Việt Nam" năm 1999 đã thống kê các loài Tectaria ở Việt Nam kèm theo mô tả và hình vẽ minh hoạ. Trong công trình nghiên cứu này tác giả đã theo hệ thống của Kramer (1990) xếp chi Tectaria vào họ Dryopteridaceae. Theo đó họ này bao gồm 15 chi là Ctenitis (2 loài), Ctenitopsis (5 loài), Pteridrys (5 loài), Tectaria (28 loài), Hemigramma (2 loài), Pleocnemia (2 3 loài), Cyclopeltis (1 loài), Didymochlaena (2 loài), Diacalpe (1 loài), Polystichum (13 loài), Cyrtomium (6 loài), Cyrtogonellum (1 loài), Dryopteris (22 loài), Arachniodes (6 loài) và Acrophorus (1 loài). Nhƣ vậy theo Phạm Hoàng Hộ, chi Tectaria ở Việt Nam gồm có 28 loài và là chi chứa nhiều loài nhất trong họ Dryopteridaceae.
Vào năm 2010, Phan Kế Lộc đã lập đƣợc danh sách các loài Tectaria ở Việt Nam gồm 34 loài. Tác giả đã liệt kê chúng vào họ Tectariaceae theo hệ thống phân loại của Smith và cộng sự năm 2006. Đây là hệ thống phân loại dựa trên các kết quả nghiên cứu về sinh học phân tử. Theo hệ thống này thì họ Tectariaceae đƣợc tách riêng ra khỏi họ Dryopteridaceae.
Trong công trình của Phan Kế Lộc thì họ Tectariaceae ở Việt Nam gồm 5 chi là: Arthropteris (2 loài), Heterogonium (5 loài), Pleocnemia (3 loài), Pteridrys (5 loài) và Tectaria (34 loài). Dựa trên sự thống kê của tác giả thì có thể thấy số lƣợng các loài trong chi Tectaria ở Việt Nam tăng lên đáng kể và vẫn là chi chứa nhiều loài nhất trong họ. Sở dĩ có sự tăng lên về số lƣợng từ 28 loài (Phạm Hoàng Hộ, 1999) lên đến 34 loài là bởi vì theo hệ thống mới của Smith và cộng sự (2006) đã tách hoặc gộp nhiều chi và nhiều loài khác nhau. Do đó, họ Dryopteridaceae mô tả trong tài liệu của Phạm Hoàng Hộ (1999) đã đƣợc tách ra hoặc gộp vào nhƣ sau: chi Arthropteris nay thuộc họ Davalliaceae; một số loài thuộc chi Heterogonium đƣợc nhập vào Tectaria và Ctenitopsis; các chi Ctenitis, Diacalpe, Polystichum, Cyrtomium, Cyrtogonellum, Dryopteris, Arachniodes và Acrophorus vẫn giữ nguyên trong họ Dryopteridaceae; 1 loài thuộc chi Cyclopeltis chuyển sang họ Lomariopsidaceae; 1 loài thuộc chi Didymochlaena chuyển sang họ Hypodematiaceae; và một số loài thuộc chi Hemigramma chuyển sang chi Tectaria.
Tuy nhiên Phan Kế Lộc (2010) mới chỉ đƣa ra đƣợc danh lục chứ chƣa mô tả hoặc minh hoạ bằng hình ảnh. Ngoài hai công trình lớn của Phạm Hoàng Hộ (1999) và Phan Kế Lộc (2010) kể trên thì những năm gần đây có một số công trình nghiên cứu theo vùng có đề 4 cập đến chi Tectaria. Nhƣng các công trình này cũng chỉ lên đƣợc danh sách loài chứ chƣa có mô tả hoặc minh hoạ bằng hình ảnh. Nguyễn Quang Hiếu và cộng sự (2012) khi nghiên cứu hiện trạng bảo tồn của một số loài thực vật nhạy cảm ở Khu Bảo tồn Thiên nhiên Ngọc Sơn – Ngổ Luông (Hoà Bình) đã ghi nhận 1 loài đó là Tectaria decurrens.
Năm 2012, Nguyễn Thị Tuyết Nhung đã ghi nhận 4 loài Tectaria ở Vƣờn Quốc Gia Cát Tiên, đó là T. Tại VQG Bến En, Hoàng Văn Sâm (2009) đã ghi nhận đƣợc 4 loài là T. vasta và 1 loài chƣa xác định (Tectaria sp. Các nguồn dữ liệu thực vật ở các Vƣờn Quốc Gia (VQG), Khu Bảo tồn Thiên nhiên (BTTN) cũng đã ghi nhận danh sách các loài Tectaria xuất hiện trong khu vực nhƣng cũng không có mô tả cụ thể.
Điển hình nhƣ danh lục thực vật ở VQG Hoàng Liên ghi nhận 2 loài, VQG Xuân Sơn 5 loài, VQG Ba Bể 5 loài, VQG Pù Mát 1 loài, VQG Bạch Mã 4 loài, VQG Chƣ Mom Ray 6 loài, Khu BTTN Hang Kia – Pà Cò 3 loài, Khu BTTN Phƣớc Bình 1 loài … 5 CHƢƠNG II: MỤC TIÊU – ĐỐI TƢỢNG – PHẠM VI – NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2. Mục tiêu nghiên cứu 2. Mục tiêu chung - Nghiên cứu “Tính đa dạng các loài trong chi Ráng Yểm Dực (Tectaria Cav., Tectariaceae) ở Việt Nam” Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần kiểm kê thành phần các loài trong chi Ráng Yểm Dực nói riêng và thành phần các loài thực vật nói chung ở Việt Nam. Mục tiêu cụ thể - Xây dựng danh lục các loài trong chi Ráng Yểm Dực ở Việt Nam.
- Góp phần mô tả các đặc điểm hình thái, sinh thái và sinh học các loài trong chi Ráng Yểm Dực. - Đánh giá đƣợc mức độ đa dạng loài trong chi này so với các các loài thực vật bậc cao có mạch ở Việt Nam. Đánh giá tính đa dạng về sinh cảnh sống và vùng phân bố địa lý. Phạm vi nghiên cứu Phạm vị về nội dung: Kiểm kê số lƣợng các loài trong chi Ráng Yểm Dực kèm theo các mô tả về hình thái, sinh thái sinh học của từng loài.
Phạm vị về phƣơng pháp: Kế thừa các tài liệu về phân loại của Phạm Hoàng Hộ và Phan Kế Lộc; nghiên cứu mẫu vật trong phòng tiêu bản và trực tiếp thu mẫu. 6 Phạm vi về không gian và thời gian: địa điểm thu mẫu tại một số Vƣờn Quốc Gia và Khu Bảo tồn thiên nhiên gồm: Hoàng Liên Sơn, Ba Bể, Tam Đảo, Ba Vì, Cúc Phƣơng, , Bạch Mã,Bà Nà Núi Chúa, Nam Nung, Nam Ka, và Chƣ Yang Sin. Nghiên cứu tiêu bản mẫu thực vật khô tại phòng Tiêu bản ĐH Khoa học tự nhiên, ĐH Quốc gia Hà Nội; Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vât và Đại học Lâm nghiệp. Thời gian từ 22/11/2017 đến 25/3/2018.
Nội dung nghiên cứu 2. Thành phần các loài trong chi Ráng Yểm Dực ở Việt Nam. Lên đƣợc danh lục các loài Tectaria ở Việt Nam.