Chương 1. Cơ sở lý luận Chương 2. Tình cảm gia đình thể hiện trong ca dao và tục ngữ Việt Nam Chương 3. Tình cảm, tình yêu nam nữ trong ca dao và tục ngữ Việt Nam 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.
Khái niệm về ca dao, tục ngữ của Việt Nam Ca dao và tục ngữ đều là một bộ phận rất quan trọng của nền văn học dân gian Việt Nam. Đó là những sản phẩm do nhân dân lao động Việt Nam sáng tạo, truyền miệng qua thời gian lâu dài mà được bảo tồn qua nhiều thế hệ người dân Việt Nam. Ca dao Ca dao, theo “ Từ điển tiếng Việt”, được giải tích như sau: thứ nhất, thơ ca dân gian truyền miệng dưới hình thức những câu hát, không theo một điệu nhất định; thứ hai, thể loại văn vần, thường làm theo thể lục bát, có hình thức giống như ca dao cổ truyền”. Nhưng trong Văn học dân gian, tập II ( Lịch sử văn học Việt Nam), có chú thích như sau: “Trong Kinh thi, phần Ngụy phong bài Viên hữu đào có câu: “Tâm chi ưu hĩ, ngã ca thả dao”(lòng ta buồn, ta ca và dao).
Sách Mao truyện viết: “Khúc hợp nhạc viết ca, đô ca viết dao” (khúc hát có nhạc đệm theo lời gọi là ca, còn hát trơn thì gọi là dao). Trong sách Cổ dao ngạn, bài Phàm lệ lại phân biệt thêm: “Ca và dao khác nhau ở chỗ dao có thể là lời của nhiều bài ca.” Theo ý kiến của Vũ Ngọc Phan, cao dao Việt Nam có những câu bốn chữ năm chữ, sáu tám hay hai bảy sáu tám, đều có thể ngâm được nguyên câu, không cần tiếng đệm như người ta ngâm thơ vậy.1 Ca dao là những bài ít có tính địa phương, dù nội dung ca dao có nói về một địa phương nào thì cũng vẫn được phổ biến rộng rãi. Nội dung ca dao chủ yếu là trữ tình, tức biểu hiện nội tâm của tác giả, cảm xúc của tác giả trước ngoại cảnh. Nhiều bài ca dao vẫn giữ nguyên nội dung.
Nói chung, ca dao là do nhân dân lao động sáng tạo tập thể và truyền miệng, có tác dụng trực tiếp phục vụ cho các sinh hoạt cộng đồng. Đây là những bài văn vần do nhân dân sáng tác tập thể, được lưu truyền bằng miệng và được phổ biến rộng rãi trong nhân dân, có khi từ địa phương này sang địa phương khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác, đồng thời có thể chấp nhận một số dị bản giữa các vùng, địa phương, thời kỳ. Tục ngữ Nói đến tục ngữ, từ xưa đến nay có rất nhiều định nghĩa về tục ngữ Việt Nam.410] 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trước Cách mạng Tháng Tám, những sách sưu tập tục ngữ, ca dao đều xếp lẫn lộn tục ngữ và thành ngữ. Trong quyển Việt Nam văn học sử yếu của Dương Quảng Hàm, tục ngữ được định nghĩa như sau: “ Một câu tục ngữ tự nó phải có một ý nghĩa đầy đủ, hoặc khuyên răn, hoặc chỉ bảo điều gì.” Trong bài “ Đạo lý trong tục ngữ ”, Nguyễn Đức Dân đã nói: “ Tục ngữ là những câu nói ổn định về cấu trúc, phản ánh những tri thức, kinh nghiệm và quan niệm (dân gian) của một dân tộc về thế giới khách quan, tự nhiên cũng như xã hội.” Hoàng Tiến Tựu trong công trình “ Văn học dân gian Việt Nam ” tập 2 năm 1999 đã định nghĩa: “ Tục ngữ là thể loại văn học dân gian nhằm đúc kết kinh nghiệm, tri thức, nêu lên những nhận xét, phán đoán, lời khuyên răn của nhân dân dưới hình thức những câu nói ngắn gọn, giản dị, súc tích, có nhịp điệu, dễ truyền ” Trong sách “ Văn học dân gian Việt Nam ” do Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên, Võ Quang Nhơn biên soạn, Nxb Giáo dục phát hành năm 1998 đã định nghĩa như sau: “ Tục ngữ là những câu nói ngắn, gọn, có ý nghĩa hàm súc, do nhân dân lao động sáng tạo nên và lưu truyền qua nhiều thế kỷ.”2 Qua các ý kiến trên, có thể thấy tục ngữ là một câu tự nó diễn trọn vẹn một ý, một nhận xét, một kinh nghiệm, một luân lý, một công lý, có khi là một sự phê phán.
Về hình thức ngữ pháp, tục ngữ dù ngắn đến đâu cũng là một câu hoàn chỉnh. Có người gọi tục ngữ là ngạn ngữ, nghĩa là lời nói đã lưu thành từ xưa (chữ ngạn có nghĩa là lời nói của người xưa). Như vậy, tục ngữ đã được cấu tạo trên cơ sở những kinh nghiệm về sinh hoạt, về sản xuất trong lâu đời, là những câu đúc kết những nhận xét đã được nhiều người thừa nhận dựa theo kinh nghiệm, dựa theo luân lý và công lý để nhận xét về con người và xã hội, hay dựa theo trí thức để nhận xét về con người và vũ trụ. Tục ngữ cung cấp cho ngôn ngữ nói cũng như ngôn ngữ văn học một hình thức biểu hiện súc tích, giàu hình ảnh và do đó có tác dụng truyền cảm và thuyết phục mạnh mẽ, để nói lên những tư tưởng thâm trầm, những khái quát rộng rãi.
Những câu tục ngữ ngắn gọn có thể thay thế một cách có ý nghĩa những lời thuyết lý dài dòng và dễ quên. 244] 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Qúa trình lao động là quá trình phát triển khoa học và văn nghệ. Trong lao động, lý trí của con người phát triển cảm quan thẩm mỹ được tôi luyện; những sáng tác dân gian truyền miệng sản sinh trên cơ sở của lao động sản xuất. Lao động nhằm biến thiên nhiên phục vụ cho mình, nên con người phải có những hiểu biết tối thiểu về quy luật của thiên nhiên.
Thời xưa, tuy chưa có khoa học, nhưng bằng kinh nghiệm, tổ tiên chúng ta cũng nắm được trong một chừng mực nhất định quy luật của thiên nhiên. Những kinh nghiệm ấy thông qua tập thể, được đúc kết bằng những câu xuôi tai hoặc vần vè và được phổ biến trong dân gian. Đó là những câu tục ngữ về thời tiết, về cày cấy, về trồng trọt, về chăn nuôi. Trong quan hệ xã hội giữa người với người, xuất hiện những câu tục ngữ đúc rút trong sinh hoạt, có tính chất nhận xét, giải thích, khuyên răn, theo một luận lý và một thế giới quan nhất định.
Xét về cả hai mặt nội dung, và hình thức, theo các nhà nghiên cứu, tục ngữ là một loại văn học dân gian đã phát triển trước ca dao, vì những lý do sau đây: tục ngữ là những câu ngắn, có câu chỉ là một lời nói xuôi tai, không vần vè, nhiều câu có thể xuất hiện vào thời tiếng nói của ta chưa phát triển mấy. Còn ca dao, ngay ở những bài học hiện những hình ảnh diễn biến, tiến lên từng cung bậc một, theo cử chỉ, hành động của người hái củi, đủ tả hết tình ý của anh ta trong lúc “một mình thui thủi” ở rừng sâu. Về mặt khác, ca dao thiên về tình cảm, biểu lộ tính tình của con người về muôn mặt, nên chỉ có thể phát triển vào thời mà đời sống xã hội đã phức tạp. Một số lĩnh vực nội dung cơ bản đƣợc thể hiện trong ca dao, tục ngữ 1.
Nội dung của ca dao Ca dao Việt Nam là những bài tình tứ, là khuôn thước cho lối thơ trữ tình. Tình yêu của người lao động Việt Nam biểu hiện trong ca dao về nhiều mặt: tình yêu giữa đôi bên trai gái, yêu gia đình, yêu xóm làng, yêu đồng ruộng, yêu đất nước, yêu lao động, yêu giai cấp, yêu thiên nhiên, yêu hòa bình. Không những thế, ca dao còn biểu hiện tư tưởng đấu tranh của nhân dân Việt Nam trong cuộc sống xã hội, trong những khi tiếp xúc với thiên nhiên và ca dao còn biểu hiện sự trưởng thành của tư tưởng ấy qua các thời kỳ lịch sử. Như vậy, ngoài sự biểu hiện đời sống tình cảm, đời sống vật chất của con người, ca dao còn phản ánh ý thức lao động, sản xuất của nhân dân Việt Nam, những quan hệ xã hội thời xa xưa.
Do ở cảm xúc mà cấu tạo nên lời ca, nên tính tư 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tưởng của nhân dân Việt Nam biểu lộ ở ca dao không những làm cho người ta cảm nhận được tình yêu thắm thiết mặn nồng của họ, mà còn cho thấy phẩm chất của họ trong các cuộc đấu tranh thiên nhiên, đấu tranh xã hội. Họ đã vất vả như thế nào trong công cuộc cải tạo thiên nhiên, hào hứng như thế nào trong khi thu được thắng lợi, họ đã phản kháng những sự ngang trái, bất công ở cuộc đời, đã vươn lên không ngừng như thế nào để giành lấy hạnh phúc như thế nào. Tìm hiểu được những điều đó, chúng ta sẽ thấy được tính chiến đấu, tính phản phong, tính nhân đạo chủ nghĩa của con người Việt Nam thể hiện trong ca dao. Tình yêu của ngƣời Việt Nam trong ca dao Giai cấp phong kiến thống trị Việt Nam dùng triết lý Khổng Mạnh, lấy luân lý Khổng Mạnh làm những sợi dây tinh thần để trói con người ta về tình cảm.
Đối với thanh niên, luân lý Khổng mạnh này càng nghiệt ngã. Tuổi thanh niên là tuổi tha thiết yêu đương, nhưng đối với tình yêu nam nữ, kỷ cương phong kiến rất độc đoán. Việc hôn nhân, việc lập gia đình của thanh niên nam nữ thời xưa đều hoàn toàn do cha mẹ định đoạt. Dưới chế độ phong kiến, quyền của người cha, quyền của người chồng làm cho phụ nữ rất khổ cực.
Người phụ nữ không còn biết gì là tự do, họ bị khuôn vào “tứ đức, tam tòng”, số phận của họ chẳng khác nào số phận hạt mưa sa. Trong giai cấp phong kiến, luân lý Khổng Mạnh rất có lợi cho những kẻ làm cha, làm chồng, làm anh; nhưng đối với nhân dân, quyền lực ác hại của luân lý ấy đã bị đời sống lao động thu hẹp lại rất nhiều. Trong ca dao Việt Nam, những bài về tình yêu nam nữ là những bài nhiều hơn cả; những nỗi nhớ nhung khi xa cách, những lúc phải tâm sự với thiên nhiên, những đau thương khi xảy ra, những cản trở làm cho ước nguyện không thành, rồi đến khi có chồng cũng xảy ra biết bao buồn tủi chỉ vì những kỷ cương phong kiến.; tất cả những tình cảm vui buồn ấy, nhân dân Việt Nam đã thổ lộ trong ca dao, làm cho ca dao có tính chất trữ tình sâu sắc. Nhân dân Việt Nam rất yêu gia đình, cái tổ ấm cùng nhau chung sống.
Họ cũng có tình yêu đặc biệt đối với xóm làng, nơi sinh trưởng, lớn lên.