CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ 1.1 Tổng quan về doanh nghiệp vừa và nhỏ 1.1 Khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ DNVVN là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ bé về mặt vốn, lao động hay doanh thu. DNVVN có thể chia thành ba loại cũng căn cứ vào quy mô đó là doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa. Theo tiêu chí của Nhóm Ngân hàng Thế giới, doanh nghiệp siêu nhỏ là doanh nghiệp có số lượng lao động dưới 10 người, doanh nghiệp nhỏ có số lượng lao động từ 10 đến dưới 50 người, còn doanh nghiệp vừa có từ 50 đến 300 lao động. Ở mỗi nước, người ta có tiêu chí riêng để xác định DNVVN ở nước mình.
Tại Việt Nam tiêu chí xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ được thể hiện trong nghị định 90/2001/NĐ ngày 23-11-2001 của Chính Phủ. Theo quy định này DNVVN được định nghĩa như sau: ”Doanh nghiệp vừa và nhỏ là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người”.2 Đặc điểm của doanh nghiệp vừa và nhỏ 1.1 Tính chất hoạt động kinh doanh DNVVN thường tập trung vào những lĩnh vực phục vụ trực tiếp đời sống, những sản phẩm có sức mua cao, dung lượng thị trường lớn như chế biến và dịch vụ. Chính nhờ tính chất hoạt động kinh doanh này mà các DNVVN có lợi thế về tính linh hoạt. Có thể nói tính linh hoạt là đặc tính trội của các DNVVN, nhờ cấu trúc và quy mô nhỏ nên khả năng thay đổi mặt hàng, chuyển hướng kinh doanh thậm chí cả địa điểm kinh doanh được coi là mặt mạnh của các DNVVN.2 Nguồn lực vật chất Nhìn chung các DNVVN có quy mô nhỏ, ít vốn; hạn chế về tài nguyên, đất đai và công nghệ.
Sự hữu hạn về nguồn lực này là do mục tiêu kinh doanh và nguồn gốc hình thành doanh nghiệp. Mặt khác còn do sự hạn hẹp trong các quan hệ với thị trường tài chính – tiền tệ, quá trình tự tích luỹ thường đóng vai trò quyết định của từng doanh nghiệp vừa và nhỏ.3 Năng lực quản lý điều hành Xuất phát từ nguồn gốc hình thành, tính chất, quy mô. các quản trị gia DNVVN thường nắm bắt, bao quát và quán xuyến hầu hết các mặt của hoạt động kinh doanh như điều hành, nhân sự, marketing. Chính vì vậy mà nhiều kỹ năng, nghiệp vụ quản lý trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ còn rất thấp so với yêu cầu.4 Tính phụ thuộc, hay bị động Do các đặc trưng kể trên nên các doanh nghiệp vừa và nhỏ bị thụ động nhiều hơn ở thị trường.
Cơ hội “đánh thức”, “dẫn dắt” thị trường của họ rất nhỏ. Chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của các biến động kinh tế và phải đối mặt với nguy cơ “bị bỏ rơi”, phó mặc được minh chứng bằng con số doanh nghiệp vừa và nhỏ bị phá sản ở các 4 nước có nền kinh tế thị trường phát triển. Nói cách khác các doanh nghiệp vừa và nhỏ có “tuổi thọ” trung bình thấp.3 Vai trò các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế 1.1 Đóng góp vào sự phát triển của nền kinh tế Hiện nay, việc phát triển các DNVVN đã và đang đóng góp một phần quan trọng vào sự phát triển của nền kinh tế đất nước. Ở Việt Nam, các giá trị gia tăng do các DNVVN đóng góp chiếm tỷ trọng khá lớn.
Theo thống kê, kim ngạch xuất khẩu của khu vực DNVVN chiếm 25% tổng kim ngạch xuất khẩu toàn quốc, đầu tư của khu vực DNVVN chiếm 35% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, khu vực DNVVN đóng góp khoảng 40% GDP, 30% tổng thu ngân sách nhà nước. Hàng năm, DNVVN chiếm tới 78% tổng mức bán lẻ, 64% tổng lượng vận chuyển hàng hóa, sản xuất ra 100% sản lượng của các loại sản phẩm công nghiệp như: đồ mộc, thủ công mỹ nghệ, mây đan, tre… 1.2 DNVVN góp phần quan trọng trong việc tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập dân cư, góp phần ổn định xã hội Sự tồn tại và phát triển của các DNVVN đã trở thành một công cụ hữu hiệu để giải quyết lượng lao động hàng năm tham gia vào thị trường lao động. Hiện nay, với số lượng DNVVN lớn chiếm khoảng 93% trong tổng số doanh nghiệp đã tạo ra một lượng khá lớn công ăn việc làm cho toàn xã hội. Trong giai đoạn suy thoái xảy ra và giai đoạn công nghiệp hóa hiện đại hóa càng mạnh thì việc cắt giảm lao động trong các doanh nghiệp lớn xảy ra phổ biến.
Ngược lại, các DNVVN do đặc điểm ngành nghề sản xuất thâm dụng lao động nên không cắt giảm mà có thể thu hút thêm lao động. Thực tế những năm qua cho thấy toàn bộ các DNVVN mà phần lớn là khu vực ngoài quốc doanh là nguồn chủ yếu tạo ra công ăn việc làm cho tất cả các lĩnh vực. Cụ thể từ số liệu của tổng cục thống kê cho thấy DNVVN tuyển dụng gần 1 triệu lao động chiếm 49% lực lượng lao động trên phạm vi cả nước. Vậy việc phát triển các DNVVN ở thành thị và nông thôn là phương hướng cơ bản tăng nhanh năng suất, thu nhập và đa dạng hóa nguồn thu nhập trong dân cư, tạo ra sự phát triển đồng đều giữa các vùng miền, cải thiện quan hệ giữa các khu vực kinh tế khác nhau, góp phần quan trọng cải thiện sự bất bình đẳng trong thu nhập và mức sống giữa các vùng trong cả nước.3 Khai thác, phát huy tốt các nguồn lực tại chỗ Với lợi thế về quy mô vừa và nhỏ của mình, các doanh nghiệp này có thể phân bố rộng rãi ở khắp các vùng miền, lãnh thổ, địa phương và tận dụng được một cách tối ưu các nguồn nhiên liệu, nguồn lực còn hạn chế do không đáp ứng được nhu cầu của các doanh nghiệp lớn, cũng như tiềm năng về trí tuệ, nguồn lao động, kinh nghiệm sản xuất để phát triển.
Mặt khác, đây là loại hình doanh nghiệp có quy mô vốn nhỏ nên phần đông dân cư đều có thể tham gia đầu tư. Trong quá trình hoạt động, DNVVN có thể tận dụng triệt để các nguồn vốn từ người thân, bạn bè. Do đó DNVVN được xem như một phương tiện thu hút vốn trong dân cư khá hiệu quả.4 DNVVN tạo ra môi trường kinh doanh cạnh tranh thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển có hiệu quả 5 Sự tham gia của rất nhiều DNVVN vào nền kinh tế góp phần làm cho hoạt động sản xuất kinh doanh trở nên phong phú và đa dạng về ngành nghề chủng loại. Từ đó tạo ra môi trường cạnh tranh khốc liệt trên thị trường, tạo sức ép cho các doanh nghiệp phải thường xuyên đổi mới hàng hóa, công nghệ, cắt giảm chi phí, tăng cường năng lực quản trị doanh nghiệp và tối ưu hóa lợi nhuận nhằm thích ứng nhanh với môi trường mới.
Những yếu tố này góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế trở nên năng động, hoạt động hiệu quả hơn.5 DNVVN góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo lãnh thổ, tạo sự cân bằng kinh tế trong xã hội Việc phát triển các DNVVN đã trở thành một trong những động lực mạnh mẽ thúc đẩy nhanh tốc độ giảm nghèo. Các DNVVN cho phép một bộ phận nhân dân tham gia vào các công việc có giá trị cao hơn giúp họ nâng cao mức sống bằng việc phân chia lại đất nông nghiệp và mở rộng việc cung cấp các dịch vụ xã hội ở các địa phương. Điều này đem lại ý nghĩa to lớn trong việc phát triển công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn, xóa dần tình trạng thuần nông, độc canh góp phần đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu ngành nghề và thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Mặt khác, việc phát triển các DNVVN đã thúc đẩy quá trình chuyên môn hóa và đa dạng hóa các ngành nghề thủ công truyền thống, góp phần bảo vệ gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc.
Với những hướng đi tích cực đó đã dần thu hẹp khoảng cách, sự mất cân đối giữa các vùng miền, giữa thành thị và nông thôn. Tạo điều kiện giúp các vùng miền khai thác triệt để những tiềm năng sẵn có của mình để phát triển kinh tế. Do đó, vì mục tiêu đảm bảo phát triển bền vững kinh tế xã hội, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thì Việt Nam cần có các chính sách khuyến khích hỗ trợ và phát triển các DNVVN.4 Khó khăn của các DNVVN khi tiếp cận nguồn vốn của ngân hàng Hiện nay nhiều DNVVN gặp nhiều khó khăn khi tiếp cận với nguồn vốn của các ngân hàng thương mại là do các doanh nghiệp này chưa đáp ứng được những điều kiện ngày càng cao do các ngân hàng đưa ra. Các khó khăn mà DNVVN thường gặp là: Doanh nghiệp có tài sản nhưng các thủ tục giấy tờ chưa hoàn chỉnh nên không thể thế chấp; việc đánh giá tài sản theo quy định không sát với thực tế nên doanh nghiệp chỉ vay được ít hơn so với giá trị tài sản và nhu cầu vay đưa ra; báo cáo tài chính chưa chuẩn xác, không đủ độ tin cậy gây khó khăn cho việc thẩm định phương án sản xuất kinh doanh cũng như các hình thức đảm bảo tín dụng; quy mô và hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp chưa cao; thị trường diễn biến phức tạp gây nhiều sức ép lên các DNVVN; nguồn thông tin hai chiều giữa ngân hàng và doanh nghiệp còn hạn chế; ngân hàng gặp nhiều khó khăn khi xử lý tài sản để thu nợ và nhiều vấn đề về nguồn thông tin chi tiết do các doanh nghiệp cung cấp không đáp ứng được độ tin cậy và mức độ tín nhiệm của ngân hàng.2 Hoạt động tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ của NHTM 1.1 Mục tiêu cho vay đối với doah nghiệp vừa và nhỏ 6 Nhằm đáp ứng nhu cầu bổ sung ngồn vốn kinh doanh cho doanh nghiệp, đảm bảo quá trình sản xuất diễn ra liên tục ổn định, mang lại hiệu quả kinh tế cao, giúp các doanh nghiệp mở rộng quy mô sản xuất.
Ngoài mục tiêu trên, mục tiêu quan trọng của ngân hàng là lợi nhuận. Hoạt động này mang lại lợi ích cho ngân hàng nếu khoản tín dụng cấp cho dự án hoạt động có hiệu quả hay có tính khả thi cao.2 Các hình thức tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ của NHTM 1.1 Căn cứ mục đích cho vay Cho vay bất động sản: Là loại cho vay liên quan đến việc mua sắm, xây dựng bất động sản, nhà ở, đất đai, bất động sản trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại và dịch vụ.