Tìm hiểu về công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền bắc giai đoạn 1954 1975

Chuyên khảo kỹ thuật phân tích Tìm hiểu về công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền bắc giai đoạn 1954 1975, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên cứu tiếp

Trường đại học

Trường Đại Học Thương Mại

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Đề Tài Thảo Luận Học Phần

2023

45
48
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Toàn cảnh xây dựng CNXH ở miền Bắc sau Hiệp định Giơ ne vơ

Sau thắng lợi Điện Biên Phủ, Hiệp định Giơ-ne-vơ 1954 được ký kết, đánh dấu một bước ngoặt lịch sử. Miền Bắc Việt Nam hoàn toàn giải phóng, bước vào một kỷ nguyên mới: quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đây là một nhiệm vụ mang tính lịch sử, vừa xây dựng cơ sở vật chất cho một xã hội mới, vừa làm hậu phương vững chắc cho cuộc đấu tranh thống nhất đất nước ở miền Nam. Bối cảnh quốc tế lúc bấy giờ có nhiều thuận lợi, với sự lớn mạnh của hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa do Liên Xô và Trung Quốc đứng đầu, tạo điều kiện cho miền Bắc nhận được sự viện trợ quý báu. Tuy nhiên, thách thức cũng vô cùng to lớn. Nền kinh tế miền Bắc 1954-1975 vốn nghèo nàn, lạc hậu, bị chiến tranh tàn phá nặng nề. Hơn nữa, đế quốc Mỹ với âm mưu chia cắt lâu dài Việt Nam đã nhanh chóng thay thế Pháp, trở thành kẻ thù trực tiếp, không ngừng chống phá. Đảng Lao động Việt Nam đứng trước một bài toán phức tạp: lãnh đạo đồng thời hai cuộc cách mạng ở hai miền với chế độ chính trị khác nhau. Đường lối đúng đắn, sáng tạo là yêu cầu cấp thiết để vừa củng cố miền Bắc, vừa chi viện cho miền Nam. Chính trong bối cảnh đó, quá trình hình thành đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc giai đoạn 1954-1975 đã bắt đầu, được cụ thể hóa qua các Hội nghị Trung ương và đỉnh cao là Đại hội Đảng lần thứ III (9/1960). Đại hội đã xác định cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc có vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển của toàn bộ cách mạng Việt Nam.

1.1. Bối cảnh và nhiệm vụ sau Hiệp định Giơ ne vơ 1954

Sau tháng 7 năm 1954, miền Bắc đứng trước những thuận lợi và khó khăn đan xen. Thuận lợi lớn nhất là việc hoàn toàn được giải phóng, trở thành căn cứ địa cách mạng cho cả nước. Thế và lực của cách mạng đã lớn mạnh hơn sau 9 năm kháng chiến. Tuy nhiên, khó khăn là vô cùng lớn. Nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp lạc hậu, bị chiến tranh tàn phá. Đế quốc Mỹ âm mưu phá hoại Hiệp định, chia cắt đất nước. Nhiệm vụ bức thiết do Bộ Chính trị đề ra vào tháng 9/1954 là hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục kinh tế sau chiến tranh, ổn định xã hội và đời sống nhân dân, trong đó then chốt là phục hồi và phát triển sản xuất nông nghiệp. Đây là bước đi đầu tiên, tạo tiền đề cho những cải tạo xã hội chủ nghĩa sâu sắc hơn sau này.

1.2. Đường lối cách mạng tại Đại hội Đảng lần thứ III 1960

Đại hội Đảng lần thứ III (tháng 9/1960) là một sự kiện chính trị trọng đại, hoàn chỉnh đường lối chiến lược cho cả hai miền. Đại hội xác định nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam là tiến hành đồng thời hai cuộc cách mạng: cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam. Đại hội nhấn mạnh, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc giữ vai trò quyết định nhất đối với sự nghiệp thống nhất nước nhà. Đường lối chung được đề ra là đưa miền Bắc tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội, xây dựng đời sống ấm no, hạnh phúc, làm cơ sở vững mạnh cho cuộc đấu tranh ở miền Nam. Đây là sự cụ thể hóa sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam.

II. Cách miền Bắc vượt khó khăn khôi phục kinh tế sau chiến tranh

Giai đoạn 1954-1957 là thời kỳ miền Bắc tập trung hàn gắn vết thương chiến tranh và phục hồi kinh tế. Nhiệm vụ trọng tâm được Đảng xác định là khôi phục sản xuất nông nghiệp để giải quyết nạn đói, ổn định đời sống nhân dân miền Bắc thời kỳ này. Chính sách quan trọng nhất trong giai đoạn này là hoàn thành cải cách ruộng đất ở miền Bắc. Chủ trương "người cày có ruộng" đã trở thành hiện thực, xóa bỏ triệt để tàn dư của chế độ chiếm hữu ruộng đất phong kiến. Theo tài liệu, đến tháng 7/1956, hơn 2 triệu hộ nông dân đã được chia hơn 810.000 ha ruộng đất. Cùng với nông nghiệp, các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và giao thông vận tải cũng được chú trọng phục hồi. Hầu hết các xí nghiệp quan trọng đã hoạt động trở lại. Lĩnh vực văn hóa, giáo dục, y tế cũng có những bước phát triển nhanh chóng. Tuy nhiên, quá trình cải cách ruộng đất đã phạm phải một số sai lầm nghiêm trọng. Nhận thức được điều này, Hội nghị lần thứ 10 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa II) đã nghiêm khắc kiểm điểm, công khai tự phê bình và tiến hành sửa sai. Công tác sửa sai đã dần ổn định lại tình hình nông thôn, củng cố lòng tin của nhân dân. Đến cuối năm 1957, nền kinh tế quốc dân cơ bản được phục hồi, sản lượng lương thực vượt mức trước chiến tranh, tạo tiền đề vững chắc cho công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa.

2.1. Hoàn thành cải cách ruộng đất và công tác sửa sai

Công cuộc cải cách ruộng đất ở miền Bắc được đẩy mạnh từ năm 1954 đến 1956. Mục tiêu là xóa bỏ giai cấp địa chủ, chia ruộng đất cho dân cày nghèo. Chính sách này đã giải phóng sức sản xuất ở nông thôn, mang lại quyền lợi thiết thân cho nông dân. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện đã xảy ra những sai lầm như đấu tố tràn lan, quy nhầm thành phần. Đảng đã dũng cảm nhìn nhận sai lầm và tiến hành sửa sai từ cuối năm 1956. Việc sửa sai kịp thời đã giúp ổn định lại nông thôn, củng cố khối liên minh công nông và khôi phục lòng tin của quần chúng, đảm bảo thắng lợi trọn vẹn cho cuộc cách mạng ruộng đất.

2.2. Kết quả khôi phục kinh tế và ổn định đời sống nhân dân

Nhờ những nỗ lực to lớn, đến cuối năm 1957, công cuộc khôi phục kinh tế sau chiến tranh đã đạt được những kết quả quan trọng. Tổng sản lượng công nghiệp và nông nghiệp đã xấp xỉ mức năm 1939. Sản lượng lương thực đạt trên 4,5 triệu tấn, nạn đói bị đẩy lùi. Thành phần kinh tế quốc doanh được củng cố. Các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội trở lại bình thường. Đời sống nhân dân miền Bắc thời kỳ này bước đầu được cải thiện. Những thành tựu này khẳng định tính đúng đắn của chủ trương phục hồi kinh tế, là cơ sở để miền Bắc bước vào giai đoạn cải tạo xã hội chủ nghĩa.

III. Phương pháp cải tạo XHCN và kế hoạch phát triển kinh tế 1958 60

Sau khi hoàn thành khôi phục kinh tế, miền Bắc bước vào thời kỳ cải tạo xã hội chủ nghĩa và phát triển kinh tế, văn hóa (1958-1960). Hội nghị Trung ương lần thứ 14 (1958) đã đề ra kế hoạch 3 năm với mục tiêu trọng tâm là cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với kinh tế cá thể và kinh tế tư bản tư doanh. Đối với nông nghiệp, chủ trương lớn là đưa nông dân vào con đường làm ăn tập thể thông qua việc xây dựng các hợp tác xã nông nghiệp. Hội nghị Trung ương 16 (1959) đã xác định ba nguyên tắc cốt lõi: tự nguyện, cùng có lợi và quản lý dân chủ. Con đường được vạch ra là hợp tác hóa đi trước cơ giới hóa, kết hợp chặt chẽ với thủy lợi hóa. Đối với công thương nghiệp tư bản tư doanh, Đảng chủ trương cải tạo hòa bình. Nhà nước không tịch thu tư liệu sản xuất mà dùng chính sách chuộc lại thông qua hình thức công tư hợp doanh, đồng thời sắp xếp công việc và cải tạo họ thành người lao động. Kết quả của kế hoạch 3 năm đã tạo ra những chuyển biến cách mạng. Quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa được xác lập, chiếm ưu thế trong nền kinh tế quốc dân. Miền Bắc được củng cố, trở thành hậu phương ngày càng vững mạnh cho cách mạng miền Nam, chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho bước phát triển cao hơn là công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa.

3.1. Cải tạo nông nghiệp với phong trào hợp tác xã

Cải tạo nông nghiệp tập thể là nhiệm vụ trung tâm trong thời kỳ này. Phong trào xây dựng hợp tác xã nông nghiệp phát triển mạnh mẽ trên khắp các vùng nông thôn. Nông dân được vận động tham gia các hợp tác xã từ bậc thấp lên bậc cao. Hình thức sở hữu tập thể về tư liệu sản xuất dần thay thế sở hữu cá thể. Chủ trương này nhằm tổ chức lại sản xuất, áp dụng tiến bộ kỹ thuật, phát triển thủy lợi, và tăng năng suất lao động. Đến cuối năm 1960, đại bộ phận nông dân đã tham gia vào hợp tác xã, tạo ra một bộ mặt mới cho nông nghiệp và nông thôn miền Bắc.

3.2. Cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh

Đối với thành phần kinh tế tư bản tư doanh, Đảng và Nhà nước thực hiện chính sách cải tạo hòa bình. Phương pháp chủ yếu là sử dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước qua các hình thức như gia công, đặt hàng, và cao nhất là công tư hợp doanh. Nhà nước chuộc lại tư liệu sản xuất của các nhà tư sản, sắp xếp việc làm cho họ và con em họ, dần dần biến họ từ giai cấp bóc lột thành những người lao động. Quá trình này đã xóa bỏ về cơ bản quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, góp phần xác lập quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa một cách hòa bình, ít gây xáo trộn xã hội.

IV. Bước ngoặt công nghiệp hóa XHCN với Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất

Đại hội Đảng lần thứ III đã đề ra đường lối công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa và thông qua Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961-1965). Đây được xem là nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kỳ quá độ, nhằm xây dựng bước đầu cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội. Mục tiêu của kế hoạch là ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý, đồng thời ra sức phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ. Trong 5 năm, với sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa, hàng trăm công trình công nghiệp lớn đã được xây dựng. Các khu công nghiệp mới như Việt Trì, Thượng Đình (Hà Nội), khu gang thép Thái Nguyên, nhà máy phân đạm Bắc Giang, supephotphat Lâm Thao đã ra đời, đặt nền móng cho nền công nghiệp hiện đại. Công nghiệp quốc doanh giữ vai trò chủ đạo, chiếm tỉ trọng 93,1% tổng giá trị sản lượng. Nông nghiệp tiếp tục được đẩy mạnh theo hướng thâm canh, tăng vụ, xây dựng các công trình thủy lợi lớn như hệ thống thủy nông Bắc-Hưng-Hải. Các lĩnh vực khác như giao thông, thương nghiệp, văn hóa, giáo dục đều đạt được những thành tựu xây dựng CNXH ở miền Bắc đáng kể. Kế hoạch 5 năm đang thực hiện thắng lợi thì đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh phá hoại ra miền Bắc, buộc chúng ta phải chuyển hướng xây dựng kinh tế cho phù hợp với điều kiện thời chiến.

4.1. Mục tiêu và nội dung của Kế hoạch 5 năm 1961 1965

Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961-1965) có nhiệm vụ xây dựng một bước cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội, tiếp tục hoàn thiện quan hệ sản xuất, và cải thiện đời sống nhân dân. Trọng tâm là ưu tiên phát triển công nghiệp nặng, coi đây là nền tảng của kinh tế quốc dân. Song song đó, kế hoạch cũng chú trọng phát triển nông nghiệp toàn diện để giải quyết vấn đề lương thực và cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp. Kế hoạch này là bước cụ thể hóa đầu tiên của đường lối công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa mà Đại hội III đã đề ra.

4.2. Xây dựng các cơ sở công nghiệp nặng và hạ tầng

Trong giai đoạn này, nhiều cơ sở công nghiệp nặng mang tính nền tảng đã được xây dựng và đi vào hoạt động. Khu gang thép Thái Nguyên là biểu tượng của nền công nghiệp non trẻ. Các nhà máy điện như Uông Bí, Thác Bà; nhà máy hóa chất như phân đạm Bắc Giang, supephotphat Lâm Thao đã cung cấp những sản phẩm thiết yếu cho sản xuất và quốc phòng. Hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy cũng được củng cố và mở rộng, phục vụ đắc lực cho cả phát triển kinh tế và chi viện cho miền Nam.

V. Bí quyết miền Bắc vừa sản xuất vừa chiến đấu chi viện miền Nam

Từ năm 1965, khi Mỹ tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc, nhiệm vụ chiến lược đã có sự thay đổi. Miền Bắc phải chuyển từ xây dựng trong hòa bình sang vừa xây dựng vừa chiến đấu. Khẩu hiệu "Vừa sản xuất vừa chiến đấu" trở thành phương châm hành động của toàn dân. Nền kinh tế được chuyển hướng kịp thời, từ xây dựng quy mô lớn sang sản xuất và xây dựng phù hợp với điều kiện chiến tranh, đề cao tính tự lực tự cường của từng địa phương. Mọi hoạt động sản xuất đều nhằm mục đích phục vụ quốc phòng và ổn định đời sống nhân dân. Trong nông nghiệp, phong trào thi đua "thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người" lan rộng. Trong công nghiệp, các nhà máy, xí nghiệp được sơ tán, phân tán để tránh sự đánh phá của không quân Mỹ. Giao thông vận tải trở thành mặt trận quyết liệt, đảm bảo mạch máu giao thông thông suốt để chi viện cho miền Nam. Suốt những năm tháng ác liệt, miền Bắc - hậu phương lớn đã dốc toàn bộ sức người, sức của cho tiền tuyến lớn miền Nam. Hàng triệu tấn lương thực, vũ khí, thuốc men cùng hàng vạn cán bộ, chiến sĩ đã vượt Trường Sơn vào chiến trường. Đây là một kỳ tích, thể hiện vai trò quyết định của hậu phương miền Bắc đối với thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ.

5.1. Chuyển hướng kinh tế theo tinh thần vừa sản xuất vừa chiến đấu

Khi chiến tranh phá hoại lan rộng, việc chuyển hướng kinh tế là yêu cầu sống còn. Kinh tế trung ương được phân cấp quản lý cho địa phương. Mỗi tỉnh, thành phố được xây dựng thành một đơn vị kinh tế tương đối hoàn chỉnh, có khả năng tự đảm bảo các nhu cầu thiết yếu về sản xuất, chiến đấu và đời sống. Tinh thần "vừa sản xuất vừa chiến đấu" thấm sâu vào mọi ngành, mọi lĩnh vực, từ nhà máy đến đồng ruộng. Chính sự chuyển hướng linh hoạt này đã giúp kinh tế miền Bắc đứng vững và phát triển ngay trong bom đạn, hoàn thành nhiệm vụ của mình.

5.2. Vai trò hậu phương lớn và chi viện cho tiền tuyến miền Nam

Miền Bắc - hậu phương lớn đã làm tròn xuất sắc nghĩa vụ thiêng liêng đối với tiền tuyến. Con đường mòn Hồ Chí Minh trên bộ và trên biển trở thành huyền thoại. Bất chấp sự ngăn chặn khốc liệt của kẻ thù, dòng người và của cải từ miền Bắc vẫn không ngừng tuôn chảy vào Nam. Việc chi viện cho miền Nam không chỉ là vật chất mà còn là sức mạnh tinh thần, là ý chí thống nhất non sông, là niềm tin sắt đá vào thắng lợi cuối cùng. Đây chính là nhân tố quyết định nhất đảm bảo cho cách mạng miền Nam đủ sức mạnh để đi đến thắng lợi hoàn toàn.

VI. Đánh giá thành tựu và hạn chế xây dựng CNXH ở miền Bắc

Trải qua hơn 20 năm xây dựng trong điều kiện chiến tranh, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc giai đoạn 1954-1975 đã đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử sâu sắc. Thành tựu lớn nhất là đã xây dựng được một chế độ xã hội mới, ưu việt, có nền kinh tế bước đầu phát triển, văn hóa xã hội có nhiều tiến bộ, quốc phòng an ninh được giữ vững. Miền Bắc đã thực sự trở thành căn cứ địa cách mạng vững chắc, làm tròn nghĩa vụ hậu phương đối với tiền tuyến. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu, quá trình xây dựng cũng bộc lộ những hạn chế trong việc xây dựng CNXH. Mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp đã bộc lộ những nhược điểm, làm giảm động lực sản xuất. Nhận thức về chủ nghĩa xã hội còn đơn giản, giáo điều, có lúc nóng vội, duy ý chí, nhất là trong việc đầu tư cho công nghiệp nặng hay trong cải tạo xã hội chủ nghĩa. Việc quản lý kinh tế còn mang nặng tính hành chính, xem nhẹ hiệu quả. Những hạn chế này bắt nguồn từ cả nguyên nhân khách quan (xuất phát điểm thấp, vừa xây dựng vừa có chiến tranh) và chủ quan (nhận thức lý luận và kinh nghiệm thực tiễn còn hạn chế). Đây là những bài học kinh nghiệm quý báu cho công cuộc đổi mới đất nước sau này.

6.1. Những thành tựu xây dựng CNXH ở miền Bắc nổi bật

Thành tựu xây dựng CNXH ở miền Bắc thể hiện trên mọi lĩnh vực. Về chính trị, chế độ dân chủ nhân dân được củng cố. Về kinh tế, từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu đã xây dựng được cơ sở vật chất ban đầu của chủ nghĩa xã hội với hệ thống công nông nghiệp, giao thông vận tải phát triển. Về văn hóa - xã hội, nạn mù chữ cơ bản được xóa bỏ, hệ thống giáo dục, y tế phát triển mạnh. Quan trọng nhất, miền Bắc đã hoàn thành xuất sắc vai trò hậu phương chiến lược, góp phần quyết định vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ.

6.2. Các hạn chế và bài học kinh nghiệm quý báu

Những hạn chế trong việc xây dựng CNXH chủ yếu nằm ở mô hình và cơ chế quản lý. Cơ chế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp triệt tiêu cạnh tranh và động lực phát triển. Việc đồng nhất cải tạo XHCN với xóa bỏ kinh tế tư nhân, tập thể hóa một cách vội vã đã cản trở sức sản xuất. Bài học kinh nghiệm rút ra là cần tôn trọng các quy luật kinh tế khách quan, phải xuất phát từ thực tiễn đất nước, kết hợp hài hòa các lợi ích và không được chủ quan, duy ý chí trong việc hoạch định đường lối, chính sách.

6.3. Ý nghĩa lịch sử của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội

Ý nghĩa lịch sử của công cuộc xây dựng CNXH ở miền Bắc là vô cùng to lớn. Nó đã chứng minh tính đúng đắn của con đường đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản mà Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn. Công cuộc này đã tạo ra sức mạnh vật chất và tinh thần để đánh thắng đế quốc Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Đồng thời, đây là một thực tiễn sinh động, cung cấp những kinh nghiệm cả thành công và chưa thành công để Đảng ta từng bước tìm tòi, hình thành đường lối đổi mới sau này.

20/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I: Đường lối cách mạng Chủ nghĩa Xã hội ở miền Bắc 1.1 Hoàn cảnh Sau ngày Hiệp định Giơnevơ (7/1954) được ký kết, miền Bắc đứng trước nhiều thuận lợi và khó khăn: - Thuận lợi: + Miền Bắc hoàn toàn được giải phóng và làm căn cứ địa hậu phương cho cả nước. + Hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa tiếp tục lớn mạnh về mọi mặt ở Liên Xô, Trung Quốc. + Thế và lực của cách mạng đã lớn mạnh hơn sau 9 năm kháng chiến. Có ý chí độc lập thống nhất của nhân dân cả nước.

+ Các phong trào hòa bình và giải phóng dân tộc tiếp tục phát triển mạnh mẽ trên thế giới đã tạo nên động lực mạnh mẽ cho phong trào đấu tranh giải phóng đất nước ở Việt Nam. - Khó khăn: + Kinh tế miền Bắc vẫn còn nghèo nàn, lạc hậu. + Đế quốc Mỹ trở thành kẻ thù trực tiếp của nhân dân Việt Nam. Đế quốc Mỹ và các nước tư bản đế quốc khác không ngừng tìm mọi cách chống phá, âm mưu lật đổ cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc.

Đảng Cộng sản Việt Nam đứng trước tình hình lãnh đạo hai cuộc Cách mạng khác nhau, ở hai miền đất nước có chế độ chính trị khác nhau. Đó cũng chính là cơ sở, tiền đề để Đảng hoạch định đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. Yêu cầu bức thiết đặt ra cho Đảng sau tháng 7-1954 là phải đề ra được đường lối đúng đắn, vừa phù hợp với tình hình mỗi miền, tình hình cả nước, vừa phù hợp với xu thế chung của thời đại.2 Quá trình hình thành đường lối cách mạng Chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc 1.1 Bộ Chính trị 9/1954 Tháng 9/1954, Bộ chính trị đề ra nhiệm vụ chủ yếu trước mắt của miền Bắc là hàn gắn vết thương chiến tranh phục hồi kinh tế quốc dân trước hết là phục hồi và phát triển sản xuất nông nghiệp ổn định xã hội ổn định đời sống nhân dân tăng cường và mở rộng hoạt động quan hệ quốc tế để sớm đưa miền Bắc trở lại bình thường sau chín năm chiến tranh.2 Hội nghị lần thứ bảy và lần thứ tám (1955) Ở Hội nghị lần thứ bảy và lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá II đã nhận định Mỹ và tay sai đã hết cần Pháp ở miền Nam, công khai lập nhà nước riêng chống phá hiệp định Giơnevơ, đàn áp phong trào cách mạng. Muốn chống đế quốc Mỹ và tay sai, củng cố hòa bình thực hiện thống nhất hoàn thành độc lập và dân chủ điều cốt lõi là phải ra sức củng cố miền Bắc đồng thời giữ vững và đẩy mạnh cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam.

Thực hiện hiệp định Giơnevơ ngay sau khi hòa bình được lập lại Đảng đã lãnh đạo nhân dân miền Bắc đấu tranh đòi đối phương phải rút quân theo thời gian quy định. Để chống lại âm mưu và thủ đoạn của địch, ổn định tình hình Đảng và Nhà nước đã ban hành kịp thời nhiều chính sách chỉ đạo các địa phương thực hiện như chính sách đối với tôn giáo, chính sách đối với công thức, trí thức trước đây làm việc cho địch, chính sách đối với người dân. Ngoài ra Đảng và Nhà nước còn huy động hàng vạn cán bộ, bộ đội đến giúp đỡ các địa phương tuyên truyền, vận động quần chúng đấu tranh chống địch cưỡng ép di cư nhằm ổn định tình hình cho tinh thần đấu tranh của nhân dân ta đã rút quân theo đúng Hiệp định. Nhận rõ kinh tế miền Bắc cơ bản là nông nghiệp Đảng đã chỉ đạo lấy khôi phục và phát triển sản xuất nông nghiệp làm trọng tâm.

Việc khôi phục sản xuất nông nghiệp được kết hợp với cải cách ruộng đất và vận động đổi công, giúp nhau sản xuất, đồng thời, chăm lo xây dựng cơ sở vật chất cho nông nghiệp. Đến năm 1957, cơ bản nông nghiệp miền Bắc đã đạt được năng suất và sản lượng của năm 1939, năm cao nhất dưới thời Pháp thuộc. Nhờ đó nạn đói bị đẩy lùi, tạo điều kiện giải quyết những vấn đề cơ bản trong nền kinh tế quốc dân, góp phần ổn định chính trị, trật tự an ninh xã hội. Cùng khôi phục sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và giao thông vận tải cũng hoàn thành.

Hầu hết các xí nghiệp quan trọng đã được phục hồi sản xuất và tăng thêm thiết bị, một số nhà máy mới được xây dựng. Các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, y tế được phát triển nhanh. Công cuộc giảm tô, giảm tức và cải cách ruộng đất được tiếp tục đẩy mạnh. Để đảm bảo thực hiện thắng lợi nhiệm vụ cải cách ruộng đất, Đảng chủ trương dựa hẳn vào bần cố nông, đoàn kết với trung nông, đánh đổ giai cấp địa chủ, tịch thu ruộng đất của họ để chia đều cho dân cày nghèo.

Thực hiện chủ trương của Trung ương, trong hơn 2 năm 1954 - 1956, miền Bắc tiến hành tiếp đợt 6 giảm tô và 4 đợt cải cách ruộng đất ở 3.314 xã thuộc 22 tỉnh đồng bằng và trung du. Khẩu hiệu “người cày có ruộng” đã trở thành hiện thực. Kì họp thứ 4 Quốc hội khóa I 1955 đã quyết định: “Ra sức củng cố miền Bắc bằng cách đẩy mạnh và hoàn thành cải cách ruộng đất đúng theo kế hoạch, ra sức khôi phục và phát triển kinh tế - văn hóa”. Đến tháng 7 - 1956, cải cách ruộng đất đã căn bản hoàn thành ở đồng bằng, trung du và miền núi.

Chế độ chiếm hữu ruộng đất phong kiến ở miền Bắc đến đây bị xóa bỏ hoàn toàn. Hơn 9 triệu người trong hơn 2 triệu hộ nông dân lao động được chia hơn 810.000 ha ruộng đất. 10 Ở Hội nghị lần thứ 10 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng khóa II đã nghiêm khắc kiểm điểm những sai lầm trong cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức, công khai tự phê bình trước nhân dân, thi hành kỉ luật. Công tác sửa sai trong năm 1956 đã được Đảng chỉ đạo và có kế hoạch chặt chẽ lên từng bước khắc phục được những sai lầm đã xảy ra.3 Hội nghị lần thứ 14 (1958) Hội nghị lần thứ 14 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng đã đề ra kế hoạch 3 năm phát triển kinh tế văn hóa và cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với kinh tế cả thể và kinh tế tư bản tư doanh.

Cũng như tư duy nhận thức chung của các nước xã hội chủ nghĩa anh em cũng coi ngành kinh tế chủ nghĩa xã hội là có hai phần. Hội nghị đã xác định phải cải tạo kinh tế có thể của nông dân thợ thủ công và buôn bán nhỏ tư bản tư doanh khuyến khích chuẩn sở hữu cá thể về tư liệu sản xuất thành sở hữu tập thể xã hội chủ nghĩa giữa hình thức toàn dân và tập thể. Mục tiêu trước mắt là xây dựng và củng cố miền Bắc thành cơ sở vững mạnh cho cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà.4 Hội nghị lần thứ 16 (1959) Tháng 4/1959 Hội nghị lần thứ 16 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng thông qua nghị quyết về vấn đề hợp tác hóa nông nghiệp, xác định hình thức và bước đi của hợp tác xã là hợp tác hóa đi trước cơ giới hóa, do vậy hợp tác hóa phải đi đôi với thuỷ lợi hóa và tổ chức lại hoạt động để phát huy tính ưu việt và sức mạnh của tập thể. Hội nghị đã chỉ rõ ba nguyên tắc cần được quán triệt trong suốt quá trình xây dựng hợp tác xã là tự nguyện, cùng có lợi và quản lý dân chủ.

Về vấn đề cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh, Hội nghị chủ trương cải tạo hòa bình đối với giai cấp tư sản. Về chính trị vẫn coi giai cấp tư sản là thành viên của mặt trận tổ quốc và kinh tế không tịch thu tư liệu sản xuất của tư sản mà dùng chính sách chuộc lại thông qua hình thức công tư hợp doanh sắp xếp công việc cho người tư sản trong xí nghiệp dần dần cải tạo họ thành người lao động. Kết quả ba năm của phát triển kinh tế văn hóa và cải tạo xã hội chủ nghĩa đã tạo nên những chuyển biến lớn ở miền Bắc nước ta. Miền Bắc được củng cố, từng bước đi lên chủ nghĩa xã hội và trở thành hậu phương ổn định, vững mạnh đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp cách mạng Việt Nam.5 Đại hội III (9/1960): Đường lối cách mạng XHCN ở miền Bắc, kế hoạch Nhà nước 5 năm Tại Đại hội họp từ 5 – 9/1960 ở thủ đô Hà Nội, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng họp tại thủ đô Hà Nội đã khẳng định đưa miền Bắc tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội.

Đại hội đã thông qua báo cáo chính trị của ban chấp hành Trung ương Đảng, nghị quyết về nhiệm vụ và đường lối của Đảng trong giai đoạn mới, thông qua báo cáo về xây dựng Đảng và báo cáo về kế hoạch Nhà nước 5 năm lần thứ nhất xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. - Về đường lối, trên cơ sở phân tích tình hình và đặc điểm nước ta, Đại hội xác định là cần đẩy mạnh xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc. 11 - Về vị trí, vai trò Đại hội nêu rõ: Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc có nhiệm vụ xây dựng tiềm lực và bảo vệ căn cứ địa của cả nước, hậu thuẫn cho cách mạng miền Nam, chuẩn bị cho cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội về sau, nên giữ vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển của toàn bộ cách mạng Việt Nam và đối với sự nghiệp thống nhất nước nhà. - Về hòa bình thống nhất Tổ quốc, Đại hội chủ trương kiên quyết giữ vững đường lối hòa bình để thống nhất nước nhà, vì chủ trương đó phù hợp với nguyện vọng và lợi ích của nhân dân cả nước ta cũng như của nhân dân yêu chuộng hòa bình thế giới.

Song ta phải luôn luôn đề cao cảnh giác, chuẩn bị sẵn sàng đối phó với mọi tình thế. Nếu đế quốc Mỹ và bọn tay sai liều lĩnh gây ra chiến tranh hòng xâm lược miền Bắc, thì nhân dân cả nước ta sẽ kiên quyết đứng lên đánh bại chúng, hoàn thành độc lập và thống nhất Tổ quốc. - Về xây dựng chủ nghĩa xã hội, xuất phát từ đặc điểm của miền Bắc, trong đó, đặc điểm lớn nhất là từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội không trải qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, Đại hội xác định rằng, cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc là một quá trình cải biến cách mạng về mọi mặt.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ