ĐẶT VẤN ĐỀ Nền y dƣợc học cổ truyền ở Việt Nam cho đến nay vẫn đƣợc coi là một kho báu có vai trò và tiềm năng to lớn trong sự nghiệp bảo vệ sức khỏe, phòng chống các loại dịch bệnh phục vụ cho nhân dân, với lợi thế về vị trí địa lý, đa dạng về địa hình địa mạo, vốn là một đất nƣớc đƣợc thiên nhiên ƣu đãi, nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, đƣợc đánh giá là nƣớc đứng thứ 16 trên thế giới về sự phong phú và đa dạng của sinh vật, là nơi tập trung nhiều loài cây thuốc quý hiếm. Hệ thực vật Việt Nam cũng đƣợc biết đến rất đa dạng và phong phú. Theo ghi nhận của Phạm Hoàng Hộ (1999) có khoảng 10.500 loài thực vật bậc cao có mạch và dự đoán có đến 12.000 loài; trong đó, số loài cây dùng làm thuốc chiếm khoảng 36%. Theo kết quả điều tra của Viện Dƣợc liệu, Bộ Y tế đã xác định ở Việt Nam có 3.948 loài cây thuốc.
Võ Văn Chi (2012) đã thống kê ở Việt Nam hiện có gần 4.700 loài thực vật làm thuốc. Trong khoảng 4000 loài cây đƣợc sử dụng làm thuốc, có tới 87,1% cây thuốc đƣợc biết có nguồn gốc hoang dã. Chỉ có 12,9% cây đƣợc đƣa vào trồng trọt còn phần lớn là khai thác tự nhiên. Ở Việt Nam, nguồn dƣợc liệu nói chung và Tam thất nói riêng đƣợc nhập khẩu và khai thác từ mọc tự nhiên nên ngày càng giảm dần và chƣa đƣợc quan tâm nghiên cứu gây trồng, kỹ thuật trồng cây Tam thất ở nƣớc ta cũng còn khá sơ sài, chƣa có hệ thống, chƣa tập trung theo hƣớng trồng thâm canh có năng suất cao, đặc biệt là chƣa gắn với từng vùng, từng địa phƣơng và từng dạng lập địa cụ thể.
Đặc biệt các biện pháp kỹ thuật trồng Tam thất, trong đó đáng lƣu ý về: Độ tàn che thích hợp/hoặc không cần tàn che trực tiếp; chế độ bón phân; mật độ cây/m2; chế độ chăm sóc.là những vấn đề hiện nay chƣa đƣợc giải quyết cụ thể, nên cần phải tiếp tục nghiên cứu để hoàn chỉnh quy trình, cùng với các biện pháp để cho năng suất cao. Bên cạnh đó, do nhu cầu lớn trên thị trƣờng, giá trị kinh tế rất cao làm nạn săn lùng khai thác quá mức trong nhiều năm, công tác bảo tồn chƣa đƣợc quan tâm đúng mức, dẫn đến nguồn tài nguyên dƣợc liệu quý này ngày càng cạn kiệt 1 và có nguy cơ bị tuyệt chủng. Đặc biệt, Tam thất đang có nguy cơ tuyệt chủng trong tự nhiên và hiện loài này nằm trong sách đỏ Việt Nam. Việc nghiên cứu và phát triển cây Tam thất ở Việt Nam hầu nhƣ chƣa đƣợc chú trọng nhiều, tuy nhiên qua thực tế cho thấy một số địa phƣơng trong tỉnh có khí hậu và thổ nhƣỡng phù hợp để trồng và phát triển loài cây này rộng rãi.
Hơn nữa, trong Quyết định số 1976/QĐ-TTg ngày 30/10/2013 của Thủ tƣớng Chính phủ: Phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển dƣợc liệu đến năm 2020 và định hƣớng đến năm 2030 đã xác định rõ Tam thất là một trong những loại cây trồng đƣợc quy hoạch phát triển ở vùng khí hậu á nhiệt đới nhƣ một số huyện của Tỉnh Lào Cai. Xã Mản Thẩn là một xã đặc biệt khó khăn, có tỷ lệ hộ nghèo cao (chiếm 26,49%), 99% là dân tộc Mông sinh sống, kinh tế chủ yếu là nông nghiệp (trồng cây ngô, lúa), trình độ dân trí còn thấp. Để nâng cao giá trị sản xuất trên một đơn vị diện tích đất canh tác xã Mản Thẩn đã đƣa cây Tam thất vào cho nhân dân trồng. Đây là một loại cây dƣợc liệu quý hiếm đồng thời là cây có giá trị kinh tế cao.
Năm 2014 toàn xã đã trồng đƣợc hai vƣờn với tổng diện tích là 4,2 ha, cây phát triển tốt đã cho thu hoạch vụ hoa đầu tiên. Có thể khẳng định điều kiện đất đai, khí hậu của xã phù hợp với cây Tam thất. Việc phát triển cây Tam thất sẽ tạo ra hƣớng sản xuất mới để nhân dân phát triển kinh tế vƣơn lên làm giàu, góp phần xóa đói giảm nghèo nhanh và bền vững. Từ những vấn đề trên tôi đã tiến hành triển khai đề tài “Tìm hiểu kỹ thuật gây trồng loài Tam Thất bắc (Panax pseudoginseng Wall) tại xã Mản Thẩn, Huyện Si Ma Cai, Tỉnh Lào Cai”.
Mục đích của việc lựa chọn đề tài với hi vọng nghiên cứu đƣợc đặc điểm hình thái của loài, cũng nhƣ kinh nghiệm của ngƣời dân nơi đây trong việc nhân giống, gây trồng, chăm sóc loài Tam thất từ đó đƣa ra đƣợc những giải pháp với mục đích bảo tồn và phục vụ các nhu cầu sử dụng dƣợc liệu này một cách chủ động và bền vững trong tƣơng lai. 2 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Lƣợc sử nghiên cứu cây thuốc trên thế giới và Việt Nam 1. Tình hình nghiên cứu cây thuốc trên thế giới Từ khi con ngƣời ra đời, loài ngƣời đã biết dựa vào rừng để sống, đã biết dùng những loài cây cỏ làm lƣơng thực thực phẩm trong quá trình sinh sống, không chỉ vậy, con ngƣời còn biết lấy cây rừng làm rau ăn, nấu nƣớc uống, lấy cây rừng làm thuốc chữa bệnh.
Các kinh nghiệm dân gian về sử dụng cây thuốc chữa bệnh đƣợc nghiên cứu ở các mức độ khác nhau tuỳ thuộc vào sự phát triển của từng quốc gia. Và cũng từ đó, mỗi châu lục, mỗi dân tộc hình thành nên một nền Y học cổ truyền mang nét đặc trƣng riêng. Nghiên cứu lịch sử dùng các cây làm thuốc của các dân tộc vùng lãnh thổ đƣợc nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và đƣa ra nhiều bằng chứng xác thực. Trong cuốn “Lịch sử liên đại cây cỏ” ấn hành năm 1878, Charles Pikering đã chỉ rõ: ngay từ năm 4271 trƣớc Công nguyên (TCN) ngƣời dân khu vực Trung Cận Đông đã sử dụng nhiều loại cây (sung, vả, cau dừa,.) để làm lƣơng thực và chữa bệnh [43].
Dựa trên các bằng chứng khảo cổ, Borisova B.(1960) chỉ ra rằng, vào khoảng 5.000 năm TCN, cây thuốc đã đƣợc sử dụng rộng rãi và vì vậy là mục tiêu chiếm đoạt (cùng với phụ nữ, các cây lƣơng thực, cây có hoa đẹp) trong các cuộc chiến tranh giữa các bộ tộc. Nhƣ vậy, tầm quan trọng của các cây làm thuốc đƣợc loài ngƣời nhận thức rất sớm; việc thu thập, nhập nội các giống cây thuốc quý đƣợc thực hiện ngay từ thời cổ đại bởi các chiến binh [15]. Châu Úc đƣợc mệnh danh là cái nôi của nền văn minh cổ xƣa nhất trên thế giới, các thổ dân châu Úc đã định cƣ ở đây từ hơn 60.000 năm về trƣớc và hình thành nên những kiến thức thực tiễn về các loài cây thuốc bản xứ. Nhiều loài trong số này nhƣ cây Bạch đàn xanh (Eucalyptus globulus) duy nhất chỉ có ở châu Úc, vốn đƣợc sử dụng rất hữu hiệu trong việc chữa bệnh.
3 Ngƣời đầu tiên phải kể đến là Galen (131-200 SCN), một thầy thuốc của Hoàng đế La Mã Marcus Aurelius, có ảnh hƣởng sâu sắc đến sự phát triển của các vị thuốc bào chế từ thảo mộc. Ông đã viết hàng trăm cuốn sách và đã đƣợc áp dụng trong ngành Y châu Âu hơn 1500 năm [1]. Ở thế kỷ I SCN, một thầy thuốc Hy Lạp tên là Dioscorides đã viết một cuốn sách dƣợc thảo có tên “De material Medica”. Quyển sách này bao gồm 600 loại thảo mộc, gây ảnh hƣởng mạnh mẽ đến y học phƣơng Tây và là sách tham khảo chính đƣợc dùng ở châu Âu cho đến thế kỷ XVII[12].
Khoảng thế kỷ XI SCN, tại Scotlan các thầy tu đã sử dụng cây thuốc Phiện (Papaver omnirierum) và cây Cần sa (Cannabis sativa) để làm thuốc giảm đau và thuốc gây mê. Sau này, Nicholas Culpeper (1616-1654) đã kế thừa một số kiến thức từ Dioscorides, Paracelus và kinh nghiệm chữa bệnh của thầy thuốc địa phƣơng, ông đã cho xuất bản cuốn dƣợc thảo “The English Physitian”. Đây là cuốn sách bán chạy nhất và đƣợc tái bản nhiều lần [1]. Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới - WHO năm 1985, trong số 250.000 loài thực vật bậc thấp cũng nhƣ bậc cao đã biết, có gần 20.000 loài thực vật đƣợc sử dụng làm thuốc hoặc cung cấp các hoạt chất để chế biến thuốc.
Hiện nay số loài cây thuốc sử dụng trên thế giới ƣớc tính từ 30. Trong đó,ở vùng nhiệt đới Châu Á có khoảng 6.500 loài, ở Ấn Độ có khoảng 6.000 loài, Trung Quốc trên 5.000 loài, riêng về thực vật có hoa ở một vài nƣớc Đông Nam Á đã có tới 2.000 loài là cây thuốc, vùng nhiệt đới châu Mỹ hơn 1. Nói đến dƣợc thảo của châu Á không thể không nhắc đến hai quốc gia có nền y học cổ truyền lâu đời là Trung Quốc và Ấn Độ.Trung Quốc có nhiều kinh nghiệm trong việc sử dụng cây cỏ tự nhiên để làm thuốc chữa bệnh, theo ƣớc tính có khoảng 1000 loài thực vật đã đƣợc ngƣời Trung Quốc sử dụng thành thuốc chữa bệnh[13]. 4 Cách đây khoảng 5000 năm, tại Trung Quốc, cuốn sách “Thần nông bản thảo” là một trong những tài liệu cổ quý giá của y học dân tộc.
Bản thảo đã ghi rõ ngƣời Trung Hoa cổ đại đã sử dụng 365 vị và cây thuốc để phòng chƣa bệnh. Từ đời nhà Hán (168 năm TCN) tại Trung Quốc trong cuốn sách “Thủ hậu bị cấp phương” tác giả đã kê 52 đơn thuốc chữa bệnh từ các loài cây cỏ. Vào giữa thế kỷ XVI Lý Thời Trân đã thống kê đƣợc 12000 vị thuốc trong tập “Bản thảo cương mục” đƣợc NXB Y học trích dẫn 1963. Và gần đây nhất cuốn sách “ Cây thuốc Trung Quốc” xuất bản năm 1985 đã đã liệt kê hầu hết các loài cây cỏ chữa bệnh có ở Trung Quốc đƣợc biết từ trƣớc tới nay [37].
Theo WHO thì mức độ sử dụng cây thuốc ngày càng cao, ở các quốc gia đang phát triển có tới 80% dân số sử dụng thuốc dân tộc. Trung Quốc là nƣớc đông dân nhất thế giới, lại có nền y học dân tộc phát triển, nên trong số cây thuốc đã biết hiện nay có tới 80% số loài (tƣơng đƣơng với 4.200 loài) đƣợc sử dụng theo kinh nghiệm cổ truyền của các dân tộc [7]. Cây thuốc là loại cây kinh tế, nó cung cấp nhiều loại thuốc dân tộc và thuốc hiện đại trong việc bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ con ngƣời (Theo Tuyên ngôn Chiang Mai, 1988). Văn minh của ngƣời Ấn Độ cổ đại đã phát triển cách đây 5.000 năm dọc theo bờ sông Indus ở miền Nam Ấn Độ [1].
Trong bộ sử thi Vedas đƣợc viết vào năm 1500 TCN, chứa đựng những kiến thức phong phú về dƣợc thảo thời kỳ đó.