ĐẶT VẤN ĐỀ Theo báo cáo của tổ chức Y tế thế giới( WHO), ngày nay có khoảng 80% dân số ở các nƣớc đang phát triển với dân số khoảng 3.5 đến 4 tỉ ngƣời trên thế giới có nhu cầu chăm sóc sức khỏe ban đầu phụ thuộc vào nguồn dƣợc liệu hoặc các chất chiết xuất từ dƣợc liệu. Theo trích dẫn của Trần Văn Ơn (2004), nguồn tài nguyên cây cỏ tập trung chủ yếu 6 trung tâm đa dạng sinh vật trong cả nƣớc là Đông Bắc, Hoàng Liên Sơn, Cúc Phƣơng, Bạch Mã, Tây Nguyên, Cao nguyên Đà Lạt. Trần Công Khánh (2007) cho rằng Sapa là một huyện miền núi thuộc tỉnh Lào Cai, thuộc trung tâm đa dạng của Hoàng Liên Sơn lớn nhất Việt Nam, với điều kiện tự nhiên đặc biệt, là nơi sinh sống của 6 dân tộc anh em: Mông, Dao, Kinh, Tày, Giáy, Xá Phó, vì vậy đây là một trong những địa phƣơng trong nƣớc có tài nguyên cây thuốc phong phú và độc đáo. Ngƣời Dao ở xã Tả Phìn, huyện SaPa chiếm 25.5% dân số toàn huyện thu nhập chính là sản xuất nông nghiệp và hoạt động du lịch.
Đây là cộng đồng có tri thức sử dụng cây thuốc phong phú, đặc biệt là thuốc lá tắm. Bài thuốc tắm này phải sử dụng nhiều lọai thảo dƣợc, thƣờng một lần tắm ít cũng phải hơn 10 loại , còn nhiều phải hơn 120 loại thảo dƣợc. Bản làng của ngƣời Dao thƣờng nằm cheo leo nơi lƣng chừng núi cao. Cuộc sống lại gắn liền với rừng già nên ngƣời Dao vốn giỏi nghề thuốc.
Không biết từ khi nào và từ ai mà các thế hệ ngƣời Dao từ đời này sang đời khác truyền nhau một bài thuốc tắm cổ truyền kì diệu từ các loại thảo mộc để chữa bệnh và chăm sóc sức khoẻ. Bài thuốc đƣợc lƣu giữ và truyền lại cho những ngƣời phụ nữ trong nhà. Bài thuốc tắm bảo vệ sức khoẻ cổ truyền của ngƣời Dao giờ đã trở thành một sản phẩm du lịch vừa quí, vừa lạ, vừa giàu bản sắc văn hoá độc đáo, tăng thêm sức hấp dẫn cho thị trấn du lịch Sa Pa với du khách bốn phƣơng, khiến ai cũng muốn quay lại. Tri thức và kinh nghiệm sử dụng cây thuốc, bài thuốc của các dân tộc Dao đã có vai trò rất lớn trong sự nghiệp chăm sóc sức khoẻ cộng đồng.
Nhiều bài thuốc hay đã trở lên nổi tiếng và đƣợc nghiên cứu ứng dụng trên quy mô rộng. Để giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, tri thức bản địa tôi đã chọn đề tài:“Tìm hiểu bài thuốc tắm dân tộc Dao tại xã Tả Phìn, huyện Sapa, tỉnh Lào Cai” Ý nghĩa đề tài nghiên cứu Kết quả nghiên cứu là thông qua đi phỏng vấn lấy thông tin ngƣời dân và qua quá trình điều tra tại địa bàn nghiên cứu sẽ là cơ sở khách quan nhất trong việc đề xuất giải pháp trong quản lý và phát triển nguồn tài nguyên bền vững. Đề tài góp phần nghiên cứu về việc sử dụng các loài thực vật làm thuốc nhằm bảo tồn kiến thức bản địa. Chƣơng 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.
Nghiên cứu nƣớc ngoài Từ thời cổ xƣa, loài ngƣời đã biết khai thác và sử dụng cây thuốc vào công tác chăm sóc sức khỏe và các nhu cầu cuộc sống của mình. Theo Aristore (384-322 trƣớc công nguyên) đã tổng kết trên 4000 năm trƣớc, các dân tộc vùng Trung cận Đông đã biết đến cả ngàn cây thuốc, sau này ngƣời Ai Cập đã biết đến cách chế biến và sử dụng chúng. Tại Đông Á ngƣời Nhật Bản đã biết sử dụng cây Bạc Hà làm thuốc trị bệnh từ 2000 năm trƣớc đây. Theo Ahmad, U và M.Nibi (1967) đã nghiên cứu và tổng kết rằng nền y học Trung Quốc và Ấn Độ đƣợc ghi nhận trong lịch sử sử dụng cây cỏ làm thuốc cách đây 3000-5000 năm trƣớc Theo ƣớc tính của quỹ thiên nhiên thế giới (WWF) có khoảng 35000- 70000 loài trong số 250.000 loài cây đƣợc sử dụng vào mục đích chữa bệnh trên toàn thể giới.
Theo báo cáo của tổ chức Y tế thế giới (WHO) ngày nay có khoảng 80% dân số các nƣớc đang phát triển có nhu cầu chăm sóc sức khỏe ban đầu phụ thuộc vào nguồn dƣợc liệu.Theo Lewwington (1993) đã thống kê trên thế giới có hơn 35000 loài thực vật đang đƣợc sử dụng rong các nền văn hóa khác nhau vào mục đích chữa bệnh. Đầu những năm 60 thế kỷ trƣớc xu hƣớng chung của ngành dƣợc trên thế giới đã đi sâu vào nghiên cứu thuốc từ cây cỏ. Nƣớc Pháp ngành tân dƣợc đã rất phát triển đạt nhiều thành công trong phòng và chữa bệnh con ngƣời. Từ năm 1986 Bộ Y Tế Pháp chính thức công nhận thuốc thảo dƣợc.
Ngành dƣợc ở Pháp và nhiều nƣớc công nghiệp khác nhƣ Mỹ, Anh, Ý, Đức… đã đầu tƣ lớn cho nghiên cứu, chế biến và sản xuất thuốc từ thảo dƣợc. Các nƣớc nền y học cổ truyền lâu đời nhƣ Trung Quốc, Ấn Độ, Triều Tiên,Nhật Bản, một số nƣớc Đông Nam Á. đã có nhiều chính sách thúc đẩy ngành dƣợc sản xuất thuốc từ cây cỏ. Các nhà thực vật học, hóa học, nông học, dƣợc học, sinh học phối hợp cùng nghiên cứu chọn đất trồng tốt nhất, xác định bộ phận dùng cho cây, chiết tách các hợp chất, nghiên cứu tế bào và thử dƣợc lý, lâm sàng thành công với nhiều loại thảo dƣợc.
Nghiên cứu ở Việt Nam Việt Nam có một nền Y học cổ truyền (YHCT) hình thành từ đời Hùng Vƣơng, đã có bề dày lịch sử trên 4.000 năm dựng nƣớc và giữ nƣớc. Y học cổ truyền Việt Nam đã đƣợc hình thành qua quá trình cùng lao động, sản xuất của 54 dân tộc anh em trong những điều kiện thiên nhiên vô cùng khắc nghiệt và các cuộc chiến đấu giữ nƣớc dựng nƣớc, cũng nhƣ trong quá trình lâu dài giao lƣu trao đổi với các dân tộc trong khu vực và thế giới, nên hết sức phong phú, đa dạng và đặc sắc. Nhiều kinh nghiệm sử dụng thuốc đơn giản đã có từ hàng ngàn năm nay nhƣ : Ăn trầu để bảo vệ răng miệng, ngậm gừng để chống rét, chống ho, ăn diếp cá, riềng để chống rối loạn tiêu hóa, nằm đệm ngải cứu, lá tre để chống đau nhức xƣơng khớp. Nhiều cây thuốc nam đang đƣợc nhân dân sử dụng chữa bệnh có hiệu quả nhƣ Hoàn ngọc, Chó đẻ răng cƣa, Xuyên tâm liên, Cỏ sữa, Bạch tật lê,Tắc kè, Hải mã, Mật gấu chữa đƣợc nhiều loại bệnh thông thƣờng tại cộng đồng nhƣ ho, cảm cúm, thấp khớp, liệt do di chứng tai biến mạch máu não, xơ gan cổ trƣớng.
Từ một số cây thuốc nam, đã đƣợc y học hiện đại chiết xuất, tổng hợp đƣợc nhiều loại thuốc quý nhƣ: Aspirin từ cây Liễu đỏ làm thuốc hạ nhiệt giảm đau, Strychnin từ hạt Mã tiền làm thuốc bổ, kích thích thần kinh, Artesimin từ cây Thanh hao hoa vàng làm thuốc chữa sốt rét, Berberin từ cây Vằng đắng làm thuốc chữa lỵ, tiêu chảy, từ cây Trinh nữ hoàng cung chiết xuất ra thuốc chữa ung thƣ tiền liệt tuyến. Đặc biệt Bồ kết đã đóng vai trò quan trọng trong thành công dập tắc dịch SARS đầu năm 2004. Những kinh nghiệm trên đã đƣợc nhân dân ta lƣu truyền từ đời này sang đời khác đã trở thành một bộ phận quan trọng hình thành nên nền văn hóa dân tộc Việt Nam. Từ trƣớc đến nay có nhiều nhà khoa học quan tâm đến cây thuốc và các vị thuốc để chữa bệnh: Đỗ Huy Bích, Bùi Xuân Chƣơng và cộng sự đã xuất bản cuốn sổ tay cây thuốc Việt Nam”(1980) và “tài nguyên cây thuốc Việt Nam”(1993) đã thống kê hằng năm có khoảng 300 cây thuốc đƣợc khai thác và sử dụng ở mức độ khác nhau trên toàn quốc.
GS Đỗ Tất Lợi(1999) trong cuốn “những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”.giới thiệu 800 cây con làm thuốc. Sách “Cây thuốc Việt Nam” của lƣơng y Lê Trần Đức(1997) có ghi 830 cây thuốc.TS Võ Văn Chi(1997) viết cuốn “ từ điển cây thuốc Việt Nam” ghi 3200 cây thuốc trong đó có cả loài thuốc nhập nội… Theo tài liệu của viện dƣợc liệu năm 2000 thì Việt Nam có đến 3830 loài cây làm thuốc. Nhƣng qua điều tra con số này đƣợc nâng lên vì kiến thức sử dụng thuốc của một số đồng bào dân tộc thiểu số chúng ta nghiên cứu chƣa đầy đủ. Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam (Đỗ Tất Lợi, 2005).
Danh lục các loài thực vật Việt Nam (2001- 2005) , Sách đỏ Việt Nam, Phần II Thực vật (2007) , Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam, Tập I-II (Đỗ Huy Bích và cộng sự,2006). Trong hội thảo tổng kết 12 năm thực hiện dự án bảo tồn nguồn cây thuốc cổ truyền tại huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế, do viện dƣợc liệu tổ chức tổng kết (10/04/2010) về các loài cây thuốc và bài thuốc của cộng đồng dân tộc ở nhiều vùng trên cả nƣớc:ngƣời Dao (khu vực vƣờn quốc gia Ba vì) có 579 loài và 125 bài thuốc, ngƣời mƣờng (Cẩm Liên, Cẩm Thủy, Thanh Hóa) có 136 loài và 102 bài thuốc, ngƣời H’Mông( Kỳ Sơn, Nghệ An) có 206 loài và 32 bài thuốc, Ngƣời Tày (Vị Xuyên, Hà giang) có 292 loài, Ngƣời Tày –Nùng (Tràng Định, Lạng Sơn) có 126 loài và 51 bài thuốc, bản Mƣờng (xã Vĩnh Lạc, Lục Yên, Yên Bái) có 40 loài và 40 bài thuốc; 85 bài thuốc cộng đồng dân tộc Dao; 72 bài thuốc cộng đồng dân tộ H’Mông, 16 bài thuốc cộng đồng dân tộc Thái và Khơ Mu, 11 bài thuốc cộng đồng Bru- Vân Kiều… 1.Tình hình nghiên cứu cây thuốc của cộng đồng dân tộc Dao Dân tộc Dao ở Việt Nam có nguồn gốc từ Trung Quốc. Có lẽ sự di cƣ của họ vào đất nƣớc ta bắt đầu từ thế kỉ XIII cho đến những năm 40 của thế kỷ XX. Họ phân bố rải rác ở khắp nơi nhƣng chủ yếu là tại các vùng núi cao.
Ngƣời Dao có tên gọi khác là: Mán, Đông,Trại, Dìa Miền, Kim Miền, Lù Giang, Làn Tẻ, Đại Bản, Tiểu Bản, Cốc Ngáng, Cốc Mùn, Sơn Đầu… là một dân tộc thiểu số trong 54 dân tộc ở việt Nam. Theo tổng điều tra dân số 2009 ở Việt Nam có 751.067 ngƣời Dao phân bố 61 tỉnh thành trong cả nƣớc. Không biết từ bao đời nay, dù mùa đông mùa hè, theo truyền thống những thế hệ con cháu của đồng bào dân tộc Dao đều sử dụng những loài cây thuốc cỏ khá nhau để đun nƣớc tắm chữa bệnh, mỗi nhà đều tự nấu cho mình một nồi nƣớc tắm mỗi ngày. Thuốc tắm đã trở thành phƣơng tiện chăm sóc sức khỏe không thể thay thế đƣợc, mỗi khi trong nhà có ngƣời đau ốm, mệt mỏi.
Khi ngƣời mẹ sinh con, sau 3 ngày ngƣời mẹ tắm lá thuốc mỗi ngày 1 lần trong 7 ngày sẽ khỏe mạnh bình thƣờng và phòng đƣợc chứng bệnh yếu mỏi khi về già.