chương 1. Những năm qua, du lịch làng nghề đã và đang thu hút được sự quan tâm của du khách và các hàng lữ hành, góp phần làm phong phú sản phẩm du lịch Việt Nam. Tuy nhiên, để khai thác hiệu quả du lịch làng nghề cần có những giải pháp tháo gỡ các trở ngại và những hạn chế để các làng nghề thật sự trở thành điểm đến hấpdẫn. Hiện nay, cả nước có hơn 5.000 làng nghề và làng có nghề, trong đó 1.748 làng nghề được công nhận và hơn 4.000 làng nghề truyền thống, với hơn 53 nhóm nghề, ước tính có hơn 200 loại sản phẩm thủ công khác nhau, trong đó nhiều sản phẩm truyền thống có từ lâu đời.
Những sản phẩm làng nghề không chỉ mang giá trị sử dụng, giá trị kinh tế mà còn hàm chứa giá trị văn hóa và là một phần của di sản văn hóa dân tộc. Chủ tịch Hiệp hội Làng nghề Việt Nam Lưu Duy Dần cho rằng: “Làng nghề bao hàm cả một môi trường kinh tế, làng quê, văn hóa, xã hội và công nghệ lâu đời. Văn hóa làng nghề luôn gắn với làng quê, các hoạt động lễ hội, phường hội mang đậm nét dân gian và chứa đựng tính nhân văn sâu sắc. Các làng nghề thường là những làng Việt cổ với kiến trúc độc đáo, một số làng nghề là làng khoa bảng, làng cách mạng…Đó là yếu tố cơ bản để du lịch làng nghề phát triển”.
Loại hình du lịch này còn góp phần bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa độc đáo của làng quê Việt Nam, đồng thời giúp các làng nghề quảng bá, bán được sản phẩm và không ngừng đổi mới cho phù hợp yêu cầu xãhội. Hiện nay, bên cạnh việc làm nghề, nhiều làng nghề trong cả nước đang hướng tới phát triển du lịch, thu hút khách đến. Một số làng nghề ở các thành phố, trung tâm du lịch đã và đang trở thành các điểm tham quan nổi tiếng, được 12 c đưa vào chương trình của nhiều đơn vị lữ hành như tại Hà Nội: gốm sứ Bát Tràng, lụa Vạn Phúc, tạc tượng Sơn Đồng, khảm trai Chuyên Mỹ, thêu Quất Động, mây tre đan Phú Vinh, sơn mài Hạ Thái,…Những làng nghề này được quan tâm đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, dịch vụ và hàng năm đón chục nghìn lượt khách đến tham quan, mua bán. Nhận thức được tầm quan trọng của du lịch làng nghề, nhiều địa phương như Bắc Ninh, Thừa Thiên-Huế, Thành phố Đà Nẵng, Thái Bình, An Giang,…đã triển khai các hoạt động quảng bá, xúc tiến trên internet và ở các sự kiện du lịch để giới thiệu làng nghề, quảng bá thương hiệu sản phẩm nhằm kích cầu du lịch làngnghề.
Tiềm năng rất lớn, tuy nhiên thực tế thì du lịch làng nghề chưa thực sự được khai thác hiệu quả và phần lớn còn mang tính tự phát, chưa được đầu tư đúng tầm để trở thành các điểm đến hấp dẫn. Những hạn chế và yếu kém của du lịch làng nghề thể hiện ở chỗ chưa có một chiến lược phát triển dài hạn và nguồn nhân lực chuyên nghiệp cho du lịch các làng nghề còn thiếu và yếu, hầu như chưa được chú ý từ các cấp, bản thân làng nghề chưa có kỹ năng khai thác. Giá trị làng nghề, sản phẩm làng nghề tuy nhiều và phong phú nhưng sức cạnh tranh kém, ít sản phẩm có thương hiệu mang tầm quốc gia và quốc tế. Nhiều địa phương chưa có cơ chế, chính sách phù hợp để phát triển làng nghề, trong khi cơ sở hạ tầng và các dịch vụ hỗ trợ không đảm bảo cho du lịch.
Môi trường nhiều làng nghề bị ô nhiễm trầm trọng, hệ thống thoát nước thải rấtkém,… Nhiều chuyên gia du lịch và đại diện các hãng lữ hành cho rằng, muốn đưa vào phục vụ các hoạt động du lịch thì làng nghề phải đáp ứng được những yêu cầu, tiêu chí của du lịch. Ở đây không chỉ giới thiệu về sản xuất mà còn giới thiệu cả không gian văn hóa làng nghề. Du khách ngoài việc thăm nơi sản xuất, thậm chí còn có thể tham gia vào một phần quá trình tạo ra sản phẩm, thưởng ngoạn phong cách làng quê, tìm hiểu phong tục tập quán, lễ hội của các vùng nông thôn. Để đón du khách, hệ thống cơ sở hạ tầng, đường sá đi lại phải được đầu tư cùng những dịch vụ tối thiểu.
Những tiêu chí cần đạt tới cho các điểm du lịch làng nghề theo chuẩn quốc tế với các khu chức năng chính, gồm: hệ thống bãi xe phục vụ du lịch, sản xuất và dịch vụ, khu ẩm thực phục vụ nhu cầu của du khách, hạ tầng kỹ thuật bao gồm hệ thống nội bộ, hệ thống cáp điện và thông tin liên lạc, hệ thống hạ tầng dịch vụ và du lịch ( vệ sinh công cộng, các biển báo chỉ dẫn…), hạ tầng vui chơi giải trí, hệ thống thoát nước và xử lý nước thải, thu gomrácthải,hệthốngchiếusáng,khuvựccôngtrình,địađiểmdànhchosinh 13 c hoạt văn hóa cộng đồng, khu vực thương mại giới thiệu và bán sản phẩm nghề truyền thống, khu vực bảo tồn các công trình di tích lịch sử, công trình có giá trị văn hóa, cơ sở sản xuất nghề truyền thống, khu vực xây dựng bảo tàng hoặc nhà truyền thống làng nghề. Sự đầu tư lớn ấy đòi hỏi sự quan tâm của Nhà nước và các bộ, ngành nhất là ngành Văn hóa, thể thao và du lịch, của lành đạo các địa phương. Có nhiều việc chỉ riêng làng nghề không thể gánh vác nổi như đầu tư cơ sở hạ tầng, vay vốn, xử lý ô nhiễm môi trường, sắp xếp lại sản xuất theo hướng doanh nghiệp nhỏ và vừa…Cần nâng cao nhận thức các vai trò, vị thế của làng nghề và du khách làng nghề trong sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, từ đó Nhà nước có cơ chế chính sách phù hợp với lĩnh vực này. Bản thân các làng nghề tạo ra sức hấp dẫn của riêng mình bằng những sản phẩm tinh hoa độc đáo, có thương hiệu nổi tiếng.
Bên cạnh đó, nhiều nghệ nhân có tay nghề giỏi đã cao tuổi và đang dần ra đi, cho nên cần có chính sách chăm lo, tôn vinh các nghệ nhân cao tuổi và tạo điểu kiện để họ tuyên truyền cho thế hệ trẻ kế cận, không để nghề truyền thống bị maimột. 14 c CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH LÀNG NGHỀ TẠI LÀNG MỘC LA XUYÊN – NAM ĐỊNH. Giới thiệu chung về làng mộc LaXuyên. Vị trị địalí.
Làng mộc La Xuyên thuộc xã Yên Ninh, huyện Ý Yên, Nam Định. Làng mộc La Xuyên cách Thành phố Hải Phòng khoảng 170 km. Từ Hải Phòng thì có thể đi theo tuyến quốc lộ 10, qua Thành phố Nam Định khoảng 15km sẽ gặp thị trấn Gôi, đi thêm 3km nữa tới Cầu Tào, đi qua Cầu Tào 50m rẽ trái sẽ vào làng mộc La Xuyên. Làng mộc La Xuyên có diện tích khoảng 3km2, dân số khoảng 5.
Làng mộc La Xuyên nổi tiếng khắp vùng với những sản phẩm chạm khắc tinh xảo và tính mỹ thuật cao. Gần 10 thế kỷ với nhiều biến động của thời gian, đồ gỗ mỹ nghệ ở La Xuyên được nhiều người đánh giá đã đạt đến độ hoàn hảo của nghệ thuật chạm khắc cung đình. Với bàn tay khéo léo và tính sáng tạo, các nghệ nhân đã thổi hồn vào từng thớ gỗ, khắc họa lên những thân gỗ tưởng như vô hồn nhưng tích cảnh sinh động qua từng đường đục, nét tỉa tàihoa Khoảng chục năm trở lại đây, từ La Xuyên, nghề mộc đã nhanh chóng được mở rộng sang các địa phương lân cận đóng vai trò sản xuất vệ tinh và hoàn thiện sản phẩm. Nghề chế tác gỗ mỹ nghệ đóng góp rất lớn trong việc nâng cao thu nhập, ổn định đời sống người dân và làm thay đổi bộ mặt nôngthôn.
Lịch sử hình thành và phát triển của làng mộc LaXuyên. Lịch sử hình thành của làng mộc LaXuyên. Theo một số tài liệu nghiên cứu, nghề mộc nước ta bắt đầu “tựu hình” vào thế kỷ X, bắt đầu từ thời nhà Đinh. Theo sử sách ghi lại, ông tổ của nghề này chính là Ninh Hữu Hưng ( 936-1020 ).
Cụ được sinh ra và lớn lên trong một gia đình có truyền thống làm nghề mộc ở xã Chi Phong, tổng Trường Yên, huyện Gia Viễn ( nay là Hoa Lư – Ninh Bình ) nên đã tiếp thu được truyền thống đó của tổ tiên và trở thành một thợ giỏi nổi tiếng cảvùng. 15 c Khi vua Đinh Tiên Hoàng dẹp loạn 12 sứ quân, thống nhất đất nước, cho tuyển nhiều nhân tài và thợ giỏi ở khắp các địa phương về giúp triều đình, trong đó có Quan Ninh Hữu Hưng. Cụ được nhà vua giao cho việc xây dựng cung điện trong kinh đô. Đây là dịp để cụ thể hiện tài năng.
Cụ được vua Đinh phong cho chức Công Tượng Lục Phủ Giám Sát TướngQuân. Sau triều Lê thay triều Đinh, khi đánh thắng quân Tống, Hoàng đế Đại Hành cho xây dựng lại cung thất, cụ Ninh Hữu Hưng càng được trọng dụng. Là người có vũ dũng, cụ được chọn vào đội quân Thiên cận đi bảo vệ nhà vua. Vua Lê Đại Hành thường đi thăm nhiều nơi và cụ Ninh Hữu Hưng được chọn đi theo xa giá.
Một lần vua Lê qua vùng Cái Nành ( nay là đất làng La Xuyên ) thấp thoáng có bóng ngôi miếu cổ. Nhà vua cho dừng thuyền vào thăm, thấy đây là vùng đất đẹp nhưng dân cư thưa thớt, chỉ có vài nhà lác đác ven sông, nhà vua đã cho cụ Ninh Hữu Hưng ở lại đất này. Từ đó, cụ định cư tại đây rồi đem cả con cháu, họ hàng đến vùng đất mới lập thành ấp lớn. Cụ bỏ tiền chiêu dân, khuyến khích việc canh tác, phát triển nghề thủ công.
Nghề mộc, chạm khắc được cụ truyền lại cho dân sở tại ngày càng phát triển. Cụ mất ngày 6 tháng 4 năm Kỷ Mùi (1019). Để tỏ lòng biết ơn và tôn kính, dân làng đã lập đình thờ cụ và gọi cụ là Lão La Đại Thần. Từ xa xưa đã có tục lệ cứ vào thời khắc giao thừa, dân làng lại mang đuốc ra Đình Làng, lấy lửa về xông nhà, với mong ước ngọn lửa sẽ xua tan cái cũ, mang lại hồng phúc cho một năm mới làm ăn đầy may mắn, phát tài.
Từ mấy năm trở lại đây, cả làng nghề thường tổ chức làm lễ cúng cụ vào ngày 24 tháng 4 âm lịch. Vào ngày này, toàn dân ra đình ăn cỗ và tưởng nhớ tới công đức củacụ. Theo giai thoại, gia phả của một số dòng họ, nghề mộc ở làng La Xuyên thịnh đạt cho tới ngày nay đã hơn 1000 năm lịch sử. Ban đầu, những người thợ thủ công chỉ làm nhà ở, rồi dựng chùa, tạc tượng, làm đình, chạm khắc phù điêu trang trí, hành nghề cha truyền con nối.