Luận văn thạc sĩ vnu nghiên cứu xây dựng tiêu chuẩn đánh giá chất lượng chương trình đào tạo đại học ngành báo chí truyền thông ở việt nam

Luận văn thạc sĩ VNU nghiên cứu tiêu chuẩn đánh giá chất lượng chương trình đào tạo đại học ngành báo chí truyền thông tại Việt Nam.

Trường đại học

Đại học quốc gia Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2015

249
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

0.1. Lý do chọn đề tài

0.2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

0.2.1. Mục đích nghiên cứu

0.2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

0.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.3.1. Đối tượng và khách thể nghiên cứu

0.3.2. Phạm vi nghiên cứu

0.4. Phương pháp nghiên cứu

0.4.1. Câu hỏi nghiên cứu

0.4.2. Phương pháp nghiên cứu định tính

0.4.3. Phương pháp nghiên cứu định lượng

0.5. Đóng góp mới về khoa học của luận án

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TIÊU CHUẨN ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC

1.1. Tổng quan các nghiên cứu về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng chương trình đào tạo đại học

1.1.1. Các nghiên cứu quốc tế

1.1.2. Các nghiên cứu tại Việt Nam

1.2. So sánh các tiêu chuẩn đánh giá chất lượng chương trình đào tạo

1.2.1. Các nghiên cứu về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng chương trình đào tạo ngành báo chí truyền thông

1.2.2. Các tiêu chuẩn đánh giá chất lượng chương trình đào tạo ngành Báo chí truyền thông trên thế giới

1.2.3. Các tiêu chuẩn đánh giá chất lượng chương trình đào tạo đại học ngành Báo chí truyền thông ở Việt Nam

1.2.4. So sánh các tiêu chuẩn đánh giá chất lượng chương trình đào tạo ngành Báo chí truyền thông trên thế giới

1.3. Các khái niệm cơ bản

1.3.1. Tiêu chuẩn và tiêu chí đánh giá

1.3.2. Chương trình đào tạo

1.3.3. Đánh giá chất lượng chương trình đào tạo

1.3.4. Chuẩn đầu ra chương trình đào tạo

1.3.5. Các mô hình đánh giá chất lượng chương trình đào tạo

1.3.6. Mô hình đảm bảo chất lượng chương trình đào tạo

1.4. Tiểu kết Chương 1

2. CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ KẾT QUẢ KHẢO SÁT

2.1. Bối cảnh đào tạo đại học ngành Báo chí truyền thông ở trong nước

2.2. Nguyên tắc xây dựng tiêu chuẩn đánh giá chất lượng chương trình đào tạo đại học ngành Báo chí truyền thông

2.3. Mô hình đảm bảo chất lượng chương trình đào tạo ngành Báo chí truyền thông ở Việt Nam

2.4. Yêu cầu của Đảng và Nhà nước đối với ngành Báo chí truyền thông ở Việt Nam

2.5. Chuẩn đầu ra chương trình đào tạo đại học ngành Báo chí truyền thông ở Việt Nam

2.6. Phương pháp nghiên cứu

2.6.1. Phương pháp nghiên cứu định tính

2.6.2. Phương pháp nghiên cứu định lượng

2.7. Diễn giải mô hình nghiên cứu

2.8. Mẫu nghiên cứu

2.9. Công cụ nghiên cứu

2.9.1. Phiếu khảo sát người sử dụng lao động

2.9.2. Phiếu phỏng vấn lãnh đạo các cơ quan báo chí, đài phát thanh - truyền hình

2.9.3. Phiếu khảo sát chuyên gia

2.9.4. Phiếu khảo sát giảng viên

2.9.5. Phiếu thử nghiệm tự đánh giá chất lượng CTĐT ĐH ngành BCTT

2.10. Quy trình khảo sát và thử nghiệm

2.10.1. Bước 1: Khảo sát người sử dụng lao động

2.10.2. Bước 2: Phỏng vấn lãnh đạo các cơ quan báo chí và đài phát thanh - truyền hình

2.10.3. Bước 3: Phân tích kết quả khảo sát và phỏng vấn

2.10.4. Bước 4: Khảo sát chuyên gia

2.10.5. Bước 5: Khảo sát giảng viên

2.10.6. Bước 6: Thử nghiệm các tiêu chuẩn đánh giá chất lượng chương trình đào tạo đại học ngành Báo chí truyền thông

2.11. Kết quả khảo sát

2.11.1. Kết quả khảo sát chuyên gia

2.11.2. Kết quả khảo sát người sử dụng lao động và phỏng vấn lãnh đạo cơ quan báo chí, đài phát thanh - truyền hình

2.12. Thực trạng đào tạo đại học ngành Báo chí truyền thông ở Việt Nam

2.13. Yêu cầu của người sử dụng lao động đối với sinh viên tốt nghiệp ngành Báo chí truyền thông

2.14. Kết quả khảo sát các trường đại học, học viện đào tạo đại học ngành Báo chí truyền thông

2.15. Mức độ cần thiết của các tiêu chuẩn, tiêu chí

2.16. Đánh giá độ tin cậy của các tiêu chuẩn bằng mô hình Rasch

2.17. Tiểu kết Chương 2

3. CHƯƠNG 3: TIÊU CHUẨN ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC NGÀNH BÁO CHÍ TRUYỀN THÔNG Ở VIỆT NAM VÀ KẾT QUẢ THỬ NGHIỆM

3.1. Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng chương trình đào tạo

3.2. Hướng dẫn sử dụng tiêu chuẩn đánh giá

3.3. Qui trình tự đánh giá

3.4. Hướng dẫn tìm minh chứng và viết báo cáo tự đánh giá

3.4.1. Hướng dẫn tìm minh chứng

3.4.2. Viết báo cáo tự đánh giá

3.5. Thử nghiệm tự đánh giá chất lượng chương trình đào tạo đại học ngành Báo chí truyền thông

3.6. Kết quả thử nghiệm tự đánh giá

3.7. Kết quả thực nghiệm viết báo cáo tự đánh giá

3.8. Tiểu kết Chương 3

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

DANH MỤC SƠ ĐỒ

CHỮ VIẾT TẮT

Tóm tắt

I. Tổng quan về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng chương trình đào tạo báo chí truyền thông

Chương trình đào tạo báo chí truyền thông tại Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức trong việc đảm bảo chất lượng. Việc xây dựng tiêu chuẩn đánh giá chất lượng chương trình đào tạo là cần thiết để nâng cao hiệu quả đào tạo và đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động. Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng không chỉ giúp các cơ sở giáo dục cải thiện chương trình mà còn tạo ra sự cạnh tranh lành mạnh giữa các trường.

1.1. Khái niệm về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng chương trình đào tạo

Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng chương trình đào tạo là tập hợp các tiêu chí và chỉ số dùng để đo lường, đánh giá mức độ hoàn thiện và hiệu quả của chương trình đào tạo. Các tiêu chuẩn này thường được xây dựng dựa trên các mô hình quốc tế và điều chỉnh cho phù hợp với thực tiễn Việt Nam.

1.2. Vai trò của tiêu chuẩn trong giáo dục đại học

Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng chương trình đào tạo đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giáo dục. Nó giúp các cơ sở giáo dục xác định điểm mạnh, điểm yếu và từ đó có những điều chỉnh cần thiết để cải thiện chất lượng đào tạo.

II. Thách thức trong việc đánh giá chất lượng chương trình đào tạo báo chí truyền thông

Việc đánh giá chất lượng chương trình đào tạo báo chí truyền thông tại Việt Nam gặp nhiều khó khăn. Một trong những thách thức lớn nhất là thiếu các tiêu chuẩn đánh giá cụ thể cho ngành này. Điều này dẫn đến việc các cơ sở giáo dục không có cơ sở vững chắc để tự đánh giá và cải tiến chương trình đào tạo.

2.1. Thiếu hụt tiêu chuẩn đánh giá cụ thể

Hiện tại, các tiêu chuẩn đánh giá chất lượng chương trình đào tạo báo chí truyền thông chưa được xây dựng một cách đồng bộ và cụ thể. Điều này gây khó khăn cho các cơ sở giáo dục trong việc thực hiện đánh giá và cải tiến chương trình.

2.2. Khó khăn trong việc thu thập dữ liệu

Việc thu thập dữ liệu để đánh giá chất lượng chương trình đào tạo cũng gặp nhiều khó khăn. Nhiều cơ sở giáo dục không có hệ thống quản lý dữ liệu hiệu quả, dẫn đến việc thiếu thông tin cần thiết cho quá trình đánh giá.

III. Phương pháp xây dựng tiêu chuẩn đánh giá chất lượng chương trình đào tạo

Để xây dựng tiêu chuẩn đánh giá chất lượng chương trình đào tạo báo chí truyền thông, cần áp dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học. Việc tham khảo các mô hình tiêu chuẩn quốc tế và điều chỉnh cho phù hợp với thực tiễn Việt Nam là rất quan trọng.

3.1. Nghiên cứu và tham khảo các mô hình quốc tế

Việc nghiên cứu các mô hình tiêu chuẩn đánh giá chất lượng chương trình đào tạo quốc tế sẽ giúp các cơ sở giáo dục có cái nhìn tổng quan và áp dụng những kinh nghiệm tốt nhất vào thực tiễn Việt Nam.

3.2. Tham vấn ý kiến từ các chuyên gia

Tham vấn ý kiến từ các chuyên gia trong lĩnh vực giáo dục và báo chí truyền thông sẽ giúp xây dựng tiêu chuẩn đánh giá chất lượng một cách chính xác và phù hợp với nhu cầu thực tế.

IV. Ứng dụng thực tiễn của tiêu chuẩn đánh giá chất lượng chương trình đào tạo

Việc áp dụng tiêu chuẩn đánh giá chất lượng chương trình đào tạo sẽ mang lại nhiều lợi ích cho các cơ sở giáo dục. Nó không chỉ giúp cải thiện chất lượng đào tạo mà còn nâng cao uy tín của cơ sở giáo dục trong mắt người học và xã hội.

4.1. Cải thiện chất lượng đào tạo

Khi áp dụng tiêu chuẩn đánh giá, các cơ sở giáo dục sẽ có cơ hội nhận diện và khắc phục những điểm yếu trong chương trình đào tạo, từ đó nâng cao chất lượng đào tạo cho sinh viên.

4.2. Tăng cường sự cạnh tranh giữa các cơ sở giáo dục

Việc có tiêu chuẩn đánh giá chất lượng rõ ràng sẽ tạo ra sự cạnh tranh lành mạnh giữa các cơ sở giáo dục, từ đó thúc đẩy các trường cải tiến chương trình đào tạo để thu hút sinh viên.

V. Kết luận và hướng phát triển tương lai của chương trình đào tạo báo chí truyền thông

Chất lượng chương trình đào tạo báo chí truyền thông tại Việt Nam cần được cải thiện để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường lao động. Việc xây dựng và áp dụng tiêu chuẩn đánh giá chất lượng là một bước đi quan trọng trong quá trình này.

5.1. Tầm quan trọng của việc cải tiến chất lượng

Cải tiến chất lượng chương trình đào tạo không chỉ giúp sinh viên có được kiến thức và kỹ năng cần thiết mà còn góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho ngành báo chí truyền thông.

5.2. Định hướng phát triển trong tương lai

Trong tương lai, cần tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện các tiêu chuẩn đánh giá chất lượng chương trình đào tạo báo chí truyền thông, đồng thời tăng cường hợp tác quốc tế để học hỏi kinh nghiệm từ các nước có nền giáo dục phát triển.

22/07/2025
Luận văn thạc sĩ vnu nghiên cứu xây dựng tiêu chuẩn đánh giá chất lượng chương trình đào tạo đại học ngành báo chí truyền thông ở việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 bao gồm tổng quan các nghiên cứu về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng CTĐT ĐH nói chung, CTĐT ĐH ngành BCTT nói riêng và làm rõ các khái niệm: Chất lượng, tiêu chuẩn, tiêu chí đánh giá, CTĐT, đánh giá chất lượng CTĐT, chuẩn đầu ra của CTĐT. Tổng quan các nghiên cứu về tiêu chuẩn đánh giá chất lƣợng chƣơng trình đào tạo đại học 1. Các nghiên cứu về tiêu chuẩn đánh giá chất lƣợng chƣơng trình đào tạo đại học 1. Các nghiên cứu quốc tế Hoa Kỳ là cái nôi của đánh giá, kiểm định chất lượng (KĐCL) giáo dục, do vậy lịch sử đánh giá, kiểm định chất lượng giáo dục thế giới gắn liền với nguồn gốc đánh giá, kiểm định chất lượng giáo dục của quốc gia này.

Việc KĐCL chương trình thời kỳ đầu được tiến hành như các chiến dịch tham quan, khảo sát và công bố danh sách các chương trình đạt các tiêu chuẩn chất lượng quy định. Cho đến năm 1951, đã có 22 tổ chức thực hiện việc đánh giá, KĐCL các chương trình chuyên ngành như Y, nha khoa, luật, quản trị kinh doanh… [44, 68]. Chuyên ngành Y khoa được đánh giá, kiểm định đầu tiên. Giữa năm 1876 và 1903, đại diện các trường cao đẳng Y khoa ở Hoa Kỳ đã tiến hành một số bước để lập ra một danh sách các trường đáp ứng những tiêu chuẩn về chất lượng.

Hiệp hội Y khoa Mỹ (AMA) được hình thành từ cá nhân những người làm nghề y chứ không phải từ những nhà giáo dục đã thành lập một Hội đồng giáo dục Y khoa và năm 1905 họ tự xây dựng hệ thống đánh giá cho mình. Năm 1907, họ đã công bố một danh sách các trường có thể chấp nhận dựa trên các cuộc thanh tra, khảo sát của họ. Những việc làm này và các hoạt động sau đó của hiệp hội Y khoa Hoa Kỳ là cơ sở cho những gì trở thành đánh giá, kiểm định chương trình Y khoa cũng như trong các lĩnh vực nghề nghiệp khác [44, 68]. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hiệp hội Y khoa Hoa Kỳ đã xây dựng các tiêu chuẩn, chỉ báo về thực hiện tốt và tiến hành thanh tra việc mở rộng các chương trình cụ thể đã đáp ứng được những tiêu chuẩn do họ xây dựng.

Đáng chú ý là những phát hiện được công bố và có tác động ngay đến các CTĐT Y khoa đang được tổ chức triển khai vào thời gian đó. Thậm chí AMA còn hợp tác làm việc với đại diện của các trường cao đẳng, ĐH Y khoa, nhưng từng mảng được đặt hàng cho nhóm cá nhân những người hành nghề để họ dẫn đầu trong các tiêu chuẩn đặt ra [44, 68]. Năm 1951, tổ chức kiểm định CTĐT ở Hoa Kỳ chính thức được công nhận. Từ những năm cuối của thế kỷ 20, ở châu Âu các cơ quan đánh giá, kiểm định chất lượng CTĐT hoạt động cùng với sự giúp đỡ của các cơ sở đào tạo đã xây dựng tiêu chuẩn, tiêu chí, bộ chỉ số đánh giá chất lượng cho từng CTĐT và nghiên cứu khoa học trong giáo dục ĐH.

Nhiều công trình nghiên cứu đã được công bố trên thế giới trong đó các kết quả được đánh giá cao là các công trình của các nước trong khối Thịnh Vượng Chung như Cave et al (1988); Johnes & Taylor (1990); Linke (1991); Kells (ed), (1993) [13, 76, 100, 103, 105]. Giai đoạn 1995 - 1998 một số nhà nghiên cứu như Craft (1994), Dill (1995); Linkes (1995); Davis (1996); Andrews (1998) đã thống kê và kết luận có khoảng 300 chỉ số có thể ảnh hưởng quyết định đến chất lượng CTĐT ĐH. Đồng thời các nhà nghiên cứu giáo dục trên cơ sở thực nghiệm tại nhiều nước khác nhau đã khẳng định do điều kiện kinh tế chính trị và cơ chế xã hội của mỗi nước với những đặc thù khác nhau nên có một số nhóm chỉ số có thể áp dụng chung cho tất cả các nước, ngoài ra mỗi nước có thể có những chỉ số phản ánh đặc thù của xã hội và cơ chế quản lý giáo dục riêng của nước mình và của riêng từng nhóm trường/nhóm ngành đào tạo [71,81, 85, 86, 105 ]. Các nghiên cứu của nhóm 15 nước trong khối phát triển (Vương quốc Anh, Pháp, Canada, Australia, Hà Lan, Áo, Phần Lan, Thuỵ Điển, Tây Ban Nha, Ái Nhĩ Lan.) phân loại tiêu chuẩn theo Quá trình gồm các chỉ số đầu vào, chỉ số quá trình đào tạo, chỉ số đầu ra liên quan đến sinh viên, đội ngũ cán bộ và tài chính; Các chỉ số chung (Genaral indicators) gồm: đánh giá của Hội đồng, Uy tín của trường ĐH và các chỉ số chung khác [13].

11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Liên bang Úc có các nghiên cứu phân loại tiêu chuẩn trong phạm vi nhà trường; Các dịch vụ chuyên môn và nghiên cứu; Sự tham gia bình đẳng. Thái Lan có các nghiên cứu phân loại tiêu chuẩn theo: Sứ mạng/Mục tiêu/Kế hoạch; Giảng dạy và học tập; các hội đồng vui chơi giải trí của sinh viên; Nghiên cứu; Dịch vụ giáo dục phục vụ xã hội; Giữ gìn văn hoá và nghệ thuật; Quản lý hành chính; Ngân sách và Đảm bảo và nâng cao chất lượng. Các nghiên cứu trên đây là những nghiên cứu phân tích định tính, chưa có định lượng để khẳng định những tiêu chí nào tốt có thể sử dụng để đánh giá CTĐT nói chung. Thêm vào đó các tác giả này cũng chưa thực nghiệm để có căn cứ khoa học chỉ ra các chỉ số, tiêu chí nào đạt được yêu cầu của xã hội hay đạt được chuẩn đầu ra của CTĐT.

Khi đánh giá chất lượng CTĐT chúng ta cũng sử dụng những tiêu chuẩn của đánh giá chất lượng cơ sở giáo dục hay nói cách khác tiêu chuẩn đánh giá ở hai cấp độ này có sự giao thoa nhất định. Chẳng hạn như đánh giá CTĐT chúng ta cũng phải xem xét đến các chỉ số về sứ mạng, mục tiêu, kế hoạch các dịch vụ cho sinh viên, giảng viên, nghiên cứu khoa học… Tuy nhiên khi đánh giá chất lượng CTĐT chúng ta chỉ xem xét những chỉ báo, chỉ số liên quan trực tiếp đến CTĐT mà thôi chứ không xem xét trong mối tương quan với các CTĐT ngành khác. Nếu như đánh giá chất lượng cơ sở đào tạo chú trọng đến cách điều hành hoạt động của toàn trường thì đánh giá chất 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lượng CTĐT đã đi sâu vào đào tạo chuyên môn của một ngành học để đảm bảo nhà trường đã tạo nguồn nhân lực có những kiến thức, kĩ năng và phẩm chất đạo đức đáp ứng chuẩn nghề nghiệp do các hiệp hội đánh giá, kiểm định nghề nghiệp đề ra và đáp ứng các yêu cầu của một ngành nghề trong xã hội. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và cạnh tranh gay gắt giữa các trường ĐH và cao đẳng trên toàn quốc, việc tự khẳng định mình thông qua con đường đánh giá, kiểm định chất lượng bởi các tổ chức đánh giá, kiểm định uy tín của khu vực và trên thế giới đang là sự lựa chọn của nhiều trường ĐH, trong đó có cả trường công lập và ngoài công lập.

Từ đây cho thấy ưu điểm của các nghiên cứu trên đây là đã chỉ ra được các tiêu chuẩn, tiêu chí được sử dụng để đánh giá chất lượng đào tạo nói chung mà chưa đi sâu vào việc phân loại tiêu chuẩn dùng để đánh giá chất lượng CTĐT và hơn thế nữa là cho mỗi một CTĐT cụ thể. Chất lượng một CTĐT được đánh giá dựa trên các tiêu chuẩn, tiêu chí. Các tiêu chuẩn, tiêu chí này được xây dựng dựa trên cơ sở đáp ứng được các mục tiêu đào tạo, các chuẩn mực, các điều kiện thực hiện chương trình. Chất lượng của một chương trình được xem là đạt yêu cầu khi cơ sở đào tạo có đủ nguồn lực và tổ chức đào tạo đáp ứng được các chuẩn mực của CTĐT và chuẩn đầu ra (người học có đủ phẩm chất của ngành nghề đào tạo).

Năm 1919, Hiệp hội các trường kinh doanh Hoa Kỳ AACSB (American Assembly of Collegiate schools of Bussiness) đã đưa ra các tiêu chí đánh giá chương trình đầu tiên của ngành Quản trị kinh doanh và ngành Kế toán. Hai bộ tiêu chí này về cơ bản giống nhau, ít tiêu chí khác nhau và đây là hai ngành đào tạo thuộc khối ngành Kinh tế - Quản trị kinh doanh. Quá trình kiểm định của AACSB dựa trên hai yếu tố: tự đánh giá và đánh giá chéo. Trước khi bắt đầu quá trình kiểm định, cơ sở giáo dục phải trở thành thành viên của AACSB [65, 66].

Tiêu chuẩn về quản lý chiến lược Tiêu chuẩn về hoạt động và nguồn nhân lực: Sứ mệnh của nhà trường, tính chất của lực lượng sinh viên của trường, chất lượng và trình độ của đội ngũ giảng 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com viên nhà trường là những yếu tố liên quan trực tiếp đến chất lượng chung của nhà trường. Do đó những tiêu chí trong mục này chú trọng việc duy trì một sự hoà trộn giữa hoạt động của giảng viên và sinh viên để mang đến chất lượng giáo dục cao, góp phần hiện thực hoá sứ mệnh của nhà trường. Tiêu chuẩn về đảm bảo chất lượng học tập: Hoạt động học tập của SV chính là học động cốt lõi của giáo dục ĐH. Các tiêu chuẩn về đảm bảo chất lượng học tập đánh giá sự thành công của nhà trường trong việc thực hiện các mục tiêu giáo dục của họ.

Vì những sự khác nhau về sứ mệnh, đối tượng SV, đối tượng nhà tuyển dụng, và những yếu tố khác, các mục tiêu học tập của các chường trình đào tạo sẽ phải khác nhau tùy theo mỗi trường. Việc biết được mức độ đạt được của SV so với những mục tiêu học tập của nhà trường là một điều cực kỳ quan trọng. Việc đo lường và đảm bảo được chất lượng học tập sẽ giúp nhà trường nâng cao uy tín với cộng đồng, giúp GV và nhà trường cải tiến các CTĐT. Tình hình áp dụng ở Việt Nam Hiện nay, với làn sóng hợp tác quốc tế mạnh mẽ trong các cơ sở giáo dục ĐH công lẫn ngoài công lập, mối quan tâm đến việc đăng ký kiểm định AACSB của các trường ĐH ở Việt Nam đã hiện hữu và ngày càng lớn dần.

Có 04 trường đã đăng ký làm thành viên và tiếp cận với bộ tiêu chuẩn đánh giá này đó là: Trường ĐH Quốc tế - ĐHQG TP Hồ Chí Minh, Trường ĐH Quốc tế RMIT Việt Nam, Trường ĐH Quốc tế Sài Gòn, Trường ĐH Kinh tế và Tài chính TP Hồ Chí Minh. Các trường như ĐH Kinh tế ĐHQG TP Hồ Chí Minh, ĐH Kinh tế - Tài chính TP Hồ Chí Minh (UEF)… đang nghiên cứu khả thi việc tham gia và đăng ký kiểm định chất lượng bởi AACSB.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ