Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC VÀ XÂY DỰNG TIÊU CHUẨN CHỨC DANH CÁN BỘ, CÔNG CHỨC 1. Khái niệm cán bộ, công chức, tiêu chuẩn, chức danh và tiêu chuẩn chức danh cán bộ, công chức 1. Khái niệm Cán bộ Khái niệm “Cán bộ” được sử dụng khá lâu tại các nước Xã hội chủ nghĩa và bao hàm một diện rất rộng các loại nhân sự thuộc khu vực Nhà nước và các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội. Thuật ngữ khi đó thường dùng là “Cán bộ, công nhân viên chức”, bao gồm tất cả những người làm công hưởng lương từ ngân sách Nhà nước, kể từ những người đứng đầu một cơ quan tới các nhân viên phục vụ như lái xe, bảo vệ hay lao động tạp vụ.
Theo Đại từ điển Tiếng việt “Cán bộ là người làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, một tổ chức, phân biệt với người thường, không có chức vụ” [40; tr 109]. Ở nước ta, từ “Cán bộ” được dùng phổ biến trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Ban đầu từ này được dùng trong quân đội để phân biệt chiến sỹ và cán bộ, chỉ những người làm nhiệm vụ chỉ huy từ tiểu đội phó trở lên. Dần dần từ “Cán bộ” được dùng những người hoạt động kháng chiến thoát ly, để phân biệt với Nhân dân.
Ngày nay, cán bộ được dùng để chỉ những người được biên chế vào làm việc trong bộ máy chính quyền, Đảng, Đoàn thể, Doanh nghiệp Nhà nước và sỹ quan trong lực lượng vũ trang. Ngoài ra cán bộ còn được coi là những người có chức vụ, vai trò nòng cốt trong một cơ quan, tổ chức, có tác động ảnh hưởng đến hoạt động của cơ quan, tổ chức và liên quan đến vị trí lãnh đạo, chỉ huy, quản lý, điều hành, góp phần quyết định xu hướng phát triển của cơ quan tổ chức. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Cụ thể hóa Pháp lệnh Cán bộ, công chức, Chính phủ đã ban hành các Nghị định số 114/2003/NĐ-CP về cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn; Nghị định số 115/2003/NĐ-CP về chế độ công chức dự bị; Nghị định 116/2003/NĐ-CP về tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức trong các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; Nghị định số 117/2003/NĐ-CP về tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức trong các cơ quan Nhà nước. Trên cơ sở nghiên cứu quy định của pháp lệnh và các nghị định chúng ta có thể hiểu "cán bộ" là: Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong các cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, ở cấp tỉnh và cấp huyện.
Khoản 1, Điều 4 của Luật Cán bộ, công chức quy định cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị- xã hội ở Trung ương, ở cấp tỉnh, ở cấp huyện, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước. Theo quy định này thì tiêu chí xác định cán bộ gắn với cơ chế bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ. Những người đủ các tiêu chí chung của cán bộ, công chức mà được tuyển vào làm việc trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị- xã hội thông qua con đường bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ chức danh theo nhiệm kỳ thì được xác định là cán bộ. Thực tế cho thấy, cán bộ luôn gắn liền với chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ; hoạt động của họ gắn với quyền lực chính trị được nhân dân hoặc các thành viên trao cho và chịu trách nhiệm chính trị trước Đảng, Nhà nước và nhân dân.
Việc quản lý cán bộ phải thực hiện theo các văn bản Pháp luật tương ứng chuyên ngành điều chỉnh hoặc theo Điều lệ. Do đó, căn cứ vào các tiêu chí do Luật cán bộ, công chức 2008 quy định, những ai là cán bộ trong cơ quan của Đảng, tổ chức chính trị xã hội sẽ được các cơ quan có thẩm quyền của Đảng căn cứ Điều lệ của Đảng, của tổ chức chính trị- xã hội quy định cụ thể. Những ai là cán bộ trong cơ quan Nhà nước sẽ được xác định theo quy định của Luật tổ 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chức Quốc hội, Luật tổ chức Chính phủ, Luật tổ chức Toà án Nhân dân, Luật tổ chức Viện Kiểm sát Nhân dân, Luật tổ chức Hội đồng Nhân dân và Uỷ ban Nhân dân, Luật Kiểm toán Nhà nước và các quy định khác của pháp luật có liên quan và do Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định cụ thể. Cùng với xu hướng toàn cầu hóa về kinh tế, những thành tựu của sự phát triển kinh tế - xã hội chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, tăng cường mở rộng giao lưu hợp tác nhiều mặt với các nước, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại.
Đồng thời, công cuộc cải cách hành chính ngày nay đặt ra nhu cầu chuyên biệt hóa trong sự điều chỉnh pháp luật ngày càng rõ nét, đòi hỏi phải có sự thống nhất về nhận thức trong sự phân định các khái niệm có liên quan. Luật Cán bộ, công chức được Quốc hội ban hành tháng 11/2008, có hiệu lực từ ngày 01/01/2010 đã quy định cụ thể: “Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước” [42]. Như vậy, đến nay khái niệm cán bộ đã được quy định rõ ràng, cụ thể, xác định rõ nội hàm, đó là những người giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong các cơ quan thuộc hệ thống chính trị Việt Nam, từ Trung ương đến cấp huyện, quận và tương đương. Tùy góc độ và mục tiêu xem xét có thể phân biệt đội ngũ cán bộ thành các nhóm khác nhau: - Xét về loại hình có thể phân thành: cán bộ đảng, đoàn thể; cán bộ Nhà nước; cán bộ kinh tế và quản lý kinh tế; cán bộ khoa học, kỹ thuật.
- Theo tính chất và chức năng, nhiệm vụ có thể phân thành: nhóm chính khách; nhóm lãnh đạo, quản lý; nhóm chuyên gia; nhóm công chức, viên chức. + Nhóm chính khách: Những cán bộ lãnh đạo ở tầm vĩ mô của đất nước còn được gọi là những nhà lãnh đạo chính trị cấp quốc gia hoặc là các chính khách. Các nhà chính trị có thể được phân loại theo những căn cứ khác 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhau như: Nhà chính trị chuyên nghiệp và nhà chính trị không chuyên nghiệp; nhà chính trị tham gia bộ máy Nhà nước và nhà chính trị không tham gia bộ máy Nhà nước. Họ không thuộc đội ngũ công chức Nhà nước và ở mức độ nhất định, họ có vị trí "độc lập" trong quan hệ với nền hành chính Nhà nước.
Do hoàn cảnh và điều kiện chính trị - xã hội đặc thù của Việt Nam nên trong đời sống xã hội cũng như trong các chế định pháp lý chưa có sự phân định rõ ràng chức danh và trách nhiệm của các nhà hoạt động chính trị. Vấn đề chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức và đặc biệt là đội ngũ cán bộ lãnh đạo chính trị quốc gia có tầm quan trọng đặc biệt đối với công cuộc đổi mới đất nước. Do đó, bồi dưỡng, đào tạo và rèn luyện để hình thành rõ nét tâm lý - ý thức của các nhà lãnh đạo chính trị để họ đạt tới tầm chính khách, đồng thời có quy chế hợp lý để các chính khách thực hiện tốt vai trò, sứ mệnh của mình là việc làm hết sức cần thiết nhằm góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức Nhà nước. + Nhóm cán bộ lãnh đạo, quản lý: bao gồm những người giữ chức vụ và trách nhiệm điều hành trong một cơ quan, tổ chức, đơn vị, có ảnh hưởng lớn đến hoạt động của tổ chức, có vai trò quyết định và định hướng, điều khiển hoạt động của cả bộ máy.
Thông thường, cán bộ lãnh đạo và cán bộ quản lý được hiểu tương đồng, vì cán bộ lãnh đạo, quản lý đều phải là người giỏi nghiệp vụ chuyên môn, có đủ năng lực và phẩm chất để định hướng, điều khiển, chỉ huy, phải có khả năng tổ chức công việc và đoàn kết tập thể. Tuy nhiên, khái niệm “lãnh đạo” và khái niệm “quản lý” không hoàn toàn đồng nhất với nhau. Vì, "lãnh đạo" thường dùng để chỉ khả năng định hướng, xác định mục đích lâu dài và khả năng lôi cuốn, thúc đẩy mọi người, thường được gắn liền với việc thiết lập đường lối, chính sách. Hoạt động lãnh đạo thường huy động mối quan hệ với con người dựa vào tài năng và đức độ của người lãnh đạo để thu phục và ảnh hưởng đến con người.
Còn "quản lý" dùng để chỉ khả năng tổ chức, xác định mục tiêu cụ thể để thi hành các đường 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com lối chính sách ấy. Quản lý sử dụng các phương tiện, thiết lập lề lối, mẫu mực, thủ tục huy động hữu hiệu các phương tiện, trong đó con người chỉ là một thành tố. Chức năng quản lý là sự tiếp tục của chức năng lãnh đạo, là bước đi kế tiếp của lãnh đạo, đó là khâu tất yếu để thực hiện sự lãnh đạo. Trên thực tế sự phân biệt này chỉ là tương đối nhưng lại rất cần cho công tác tổ chức cán bộ, làm cơ sở cho việc xác định tiêu chuẩn, chức năng của người cán bộ lãnh đạo và người cán bộ quản lý.
+ Nhóm chuyên gia: gồm những người giỏi một nghề, một ngành, có trình độ lý thuyết cao và năng lực hành động thực tiễn, năng lực nghiên cứu, sáng tạo, giải quyết một vấn đề lý luận hay thực hành. Họ phải có trình độ văn hóa rộng, hiểu biết chuyên môn sâu, có năng lực và vốn trí tuệ ngoại ngữ để cập nhật những thông tin mới. Đây là nhóm nhân lực bậc cao của xã hội, có vai trò như một bộ phận, mũi nhọn của sự phát triển. Ở bất cứ lĩnh vực, ngành nghề nào nếu thiếu chuyên gia thì công việc ở đó không thể đạt tới trình độ, chất lượng cao, cho nên khi nói đến đỉnh cao của chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức phải nói đến chuyên gia.