Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Quản lý công (mã số: 9 34 04 03) của nghiên cứu sinh Nguyễn Mạnh Cường, thực hiện tại Học viện Hành chính Quốc gia năm 2022 dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Nguyễn Thị Thu Vân và TS. Đinh Duy Hòa, mang tên: “Xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng hoạt động của Bộ và cơ quan ngang Bộ”.

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng kể từ năm 1986, cùng với tiến trình đổi mới kinh tế, công cuộc cải cách bộ máy hành chính nhà nước tại Việt Nam được triển khai tích cực theo các định hướng của Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 Khóa VII (năm 1995), các Nghị quyết Đại hội IX, X, XI, XII, XIII và Nghị quyết số 18-NQ/TW Hội nghị Trung ương 6 Khóa XII về sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Mặc dù Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011–2020 theo Nghị quyết 30c/NQ-CP đã đạt một số kết quả, Báo cáo số 128/BC-BC tổng kết chương trình nêu rõ tồn tại: hoạt động của nhiều cơ quan, tổ chức chưa đạt kết quả như mong muốn; thiếu sự phân định rành mạch về chức năng, nhiệm vụ và kết quả đạt được; chưa rõ ràng về phân công, phân nhiệm và phối hợp hoạt động; đội ngũ công chức ở một số cơ quan còn thiếu động lực phấn đấu.

Trong thực tiễn, việc đánh giá cơ quan hành chính đã bước đầu được triển khai qua các công cụ như hệ thống quản lý chất lượng TCVN ISO 9001:2008, TCVN ISO 9001:2015, Chỉ số Cải cách hành chính (PAR INDEX từ năm 2012), Chỉ số Hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh (PAPI), Chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), cùng các quy định đánh giá đơn vị sự nghiệp, bệnh viện, trường đại học. Ở cấp độ trung ương, Quy định số 132-QĐ/TW ngày 08/3/2018 của Bộ Chính trị quy định kiểm điểm, đánh giá, xếp loại đối với tập thể, cá nhân trong hệ thống chính trị; Nghị định số 90/2020/NĐ-CP ngày 20/8/2020 của Chính phủ quy định tiêu chí đánh giá cán bộ, công chức, viên chức. Tuy nhiên, việc đánh giá cán bộ, công chức chưa phản ánh việc đánh giá chất lượng của chính cơ quan nơi họ công tác. Việc đánh giá hiện tại chỉ diễn ra ở từng khía cạnh riêng lẻ, chưa có một khung tiêu chí thống nhất, toàn diện, hướng tới định lượng để đo lường toàn bộ chất lượng hoạt động của Bộ và cơ quan ngang Bộ. Nghị quyết số 76/NQ-CP ngày 15/7/2021 ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2021–2030 tiếp tục đặt ra đòi hỏi phải hoàn thiện công cụ này.

Mục đích nghiên cứu của luận án là xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng hoạt động của Bộ và cơ quan ngang Bộ trên cơ sở thực tiễn hoạt động của các cơ quan này tại Việt Nam. Để đạt được mục đích đó, luận án xác định các nhiệm vụ nghiên cứu:

  • Hệ thống hóa, phân tích, đánh giá các công trình khoa học trong và ngoài nước liên quan đến đánh giá, đo lường, chất lượng và quản lý chất lượng khu vực công;
  • Nghiên cứu việc đánh giá kết quả hoạt động khu vực công và thực tiễn hoạt động của Bộ, cơ quan ngang Bộ ở Việt Nam để xây dựng Khung tiêu chí;
  • Nghiên cứu cách thức và quy trình xây dựng các tiêu chí đánh giá chất lượng hoạt động;
  • Xây dựng cơ sở lý luận về tiêu chí đánh giá chất lượng hoạt động của Bộ và cơ quan ngang Bộ;
  • Phân tích, đánh giá cơ sở thực tiễn sử dụng tiêu chí đánh giá tại Việt Nam, kinh nghiệm quốc tế và khảo sát thực tế tại các bộ;
  • Đề xuất quan điểm, giải pháp xây dựng tiêu chí và khuyến nghị triển khai áp dụng, bao gồm hoàn thiện thể chế pháp lý liên quan.

Hệ thống câu hỏi nghiên cứu gồm ba nhóm câu hỏi:

  1. Cần vận dụng các lý thuyết đánh giá, chất lượng, chất lượng hoạt động như thế nào để đánh giá cơ quan, tổ chức hành chính nhà nước?
  2. Tại sao phải có tiêu chí đánh giá chất lượng hoạt động của Bộ và cơ quan ngang Bộ? Cơ sở khoa học nào để xây dựng tiêu chí? Mục đích và nội hàm tiêu chí đánh giá chất lượng hoạt động của Bộ và cơ quan ngang Bộ là gì?
  3. Khung tiêu chí đánh giá chất lượng hoạt động của Bộ và cơ quan ngang Bộ được xây dựng dựa trên nền tảng nào, theo quy trình và nội dung cụ thể ra sao trong bối cảnh Việt Nam?

Giả thuyết nghiên cứu của luận án xác định: Kết quả hoạt động của Bộ và cơ quan ngang Bộ hiện chưa được đánh giá một cách rõ ràng, phản ánh đúng thực chất; hoạt động đánh giá chưa chỉ ra được cơ quan nào hoạt động tốt hay chưa tốt, mà một nguyên nhân căn bản là do thiếu hệ thống tiêu chí thống nhất, toàn diện, cụ thể. Nếu xây dựng và áp dụng Khung tiêu chí đầy đủ, khách quan, khoa học thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng hoạt động, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước của Bộ và cơ quan ngang Bộ tại Việt Nam.

Đối tượng nghiên cứu là tiêu chí đánh giá chất lượng hoạt động của Bộ và cơ quan ngang Bộ. Phạm vi nghiên cứu về nội dung bao quát các hoạt động của Bộ và cơ quan ngang Bộ dưới góc độ chất lượng và đánh giá chất lượng. Phạm vi không gian gồm 19 Bộ và cơ quan ngang Bộ tại Việt Nam (không bao gồm Văn phòng Chính phủ, Bộ Quốc phòng và Bộ Công an). Phạm vi thời gian tập trung từ năm 2011 đến năm 2019, gắn liền với giai đoạn thực hiện Nghị quyết số 30c/NQ-CP của Chính phủ.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tài liệu trong luận án được phân chia theo hai mảng lớn: tình hình nghiên cứu quốc tế và tình hình nghiên cứu trong nước.

Trên bình diện quốc tế, các học giả đã xây dựng nền tảng lý thuyết và công cụ đánh giá khu vực công qua nhiều giai đoạn:

  • Rogerio F. nghiên cứu mối quan hệ giữa hiệu quả hoạt động tổ chức và chất lượng cung ứng dịch vụ công;
  • Boyne (2003) xác định 5 cách tiếp cận nâng cao chất lượng dịch vụ công (nguồn lực, quy định hành chính, cấu trúc thị trường, tổ chức, cách thức quản lý) gắn với ba chức năng cơ bản là cung cấp (provision), sản xuất (production) và chuyển giao (delivery);
  • Powell xác lập 12 yếu tố cốt lõi của Quản lý chất lượng toàn diện (TQM);
  • Neely, Gregory và Platts (1995) định nghĩa hệ thống đánh giá theo kết quả (Performance measurement system) nhằm lượng hóa tính hiệu lực và hiệu quả, hỗ trợ hoạch định chiến lược, quản lý ngân sách và cải tiến quy trình;
  • Behn (2003) phân loại 8 mục tiêu đánh giá gồm: Đánh giá (Evaluate), Kiểm soát (Control), Ngân sách (Budget), Động lực (Motivate), Thúc đẩy (Promote), Khen ngợi (Celebrate), Học hỏi (Learn) và Cải thiện (Improve);
  • Các nghiên cứu năm 1999 về so sánh chuẩn (Benchmarking) và chỉ số đo lường hiệu suất (Performance Indicators) dưới ảnh hưởng của cải cách thời kỳ Thatcher tại Vương quốc Anh;
  • Geert Bouckaert và Wouter Van Dooren (2009) phân tích lịch sử quản lý theo kết quả từ thập niên 1940 đến các cải cách ngân sách thập niên 1980–1990;
  • Carol Propper và Deborah Wilson (2003) chỉ ra các nguy cơ sai lệch khi áp dụng thước đo hiệu suất trong khu vực công;
  • Pietro Micheli và Andy Neely (2010) đánh giá mô hình Thỏa ước dịch vụ công (Public Service Agreement - PSA) tại Anh;
  • Christopher Hood (1991) cùng các công trình về Quản lý công mới (NPM), Quản trị công mới (NPG), Berman (1998, 2008), John Isaac Mwita (2000), Diefenbach (2009), Carter;
  • Khung đánh giá tổng hợp (Common Assessment Framework - CAF) của Liên minh châu Âu (ra đời năm 2000, sửa đổi các năm 2002, 2006, 2013) gồm 9 tiêu chí (5 tiêu chí khả năng, 4 tiêu chí kết quả); Mô hình Giải thưởng chất lượng quốc gia Malcolm Baldrige (MBNQA) của Hoa Kỳ (1991, 1997).

Tại Việt Nam, các công trình nghiên cứu tiêu biểu bao gồm:

  • Nguyễn Hữu Hải và Nguyễn Tuấn Minh (2015) nghiên cứu các phương thức quản lý chất lượng (I, QC, QA, TQC, TQM);
  • Sách ISO 9000 trong dịch vụ hành chính (2003) nêu 8 nguyên tắc quản lý chất lượng;
  • Đào Thị Thanh Thủy (2014) và Nguyễn Thị Hồng Hải phân tích việc vận dụng quản lý theo kết quả và Quản lý công mới vào cải cách hành chính;
  • Đề tài khoa học cấp Bộ (2010) về Quản lý công mới và việc ứng dụng vào nền hành chính Việt Nam;
  • Chu Xuân Khánh (2000) với đề tài cấp Bộ “Xây dựng các tiêu chí đánh giá chất lượng hoạt động quản lý ở cấp Bộ nước ta”, bước đầu đưa ra tiêu chí về thể chế, tổ chức bộ máy, nhân sự nhưng còn mang tính vĩ mô, định tính, thiếu góc nhìn từ đối tượng thụ hưởng;
  • Lê Hồng Yến (2011) với đề tài cấp Bộ đề xuất 6 trục tiêu chí đánh giá cơ quan hành chính nhà nước cấp tỉnh (UBND cấp tỉnh);
  • Vũ Văn Thái (2010) nghiên cứu cơ chế đánh giá tổ chức định kỳ đối với cơ quan hành chính trung ương;
  • Nguyễn Ngọc Vân (2019) chủ nhiệm đề tài cấp nhà nước xây dựng bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động gồm 3 nhóm, 11 tiêu chí, 35 tiêu chí thành phần áp dụng chung cho cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp;
  • Ngô Thành Can và Nguyễn Thị Ngọc Lan (2016) phân tích mối quan hệ giữa năng lực, hiệu lực và hiệu quả tổ chức hành chính;
  • Nguyễn Đăng Thành (2012) phân tích 5 mô hình đánh giá hiệu quả quản lý hành chính;
  • Nguyễn Thị Thu Vân (2011, 2013) nghiên cứu ứng dụng mô hình CAF tại cơ quan nhà nước ở Việt Nam.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án chỉ ra: Các công trình quốc tế thường tập trung so sánh giữa các quốc gia hoặc thiên về đánh giá chỉ số cảm nhận, khó phản ánh nội tại biến động của từng tổ chức. Ở trong nước, các nghiên cứu chủ yếu tiếp cận theo góc độ "hiệu quả" nói chung mà chưa phân tích chuyên sâu về "chất lượng hoạt động", hoặc phạm vi đối tượng dàn trải, tập trung vào cấp tỉnh, đơn vị sự nghiệp, hoặc chỉ dừng lại ở các yếu tố đơn lẻ (nhân sự, tài chính, thể chế) mang tính định tính. Chưa có công trình khoa học nào xây dựng một Khung tiêu chí đồng bộ, kết hợp giữa yếu tố đầu vào, quá trình và kết quả đầu ra/tác động, có tính định lượng để đánh giá chất lượng hoạt động của Bộ và cơ quan ngang Bộ tại Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Về mặt lý thuyết, luận án xây dựng lập luận dựa trên sự tích hợp của các trào lưu và mô hình khoa học quản lý:

  • Lý thuyết Quản lý chất lượng toàn diện (TQM) và mô hình Khung đánh giá tổng hợp (CAF): xem xét tổ chức qua hai trục “Khả năng/Đầu vào - Quá trình” và “Kết quả”;
  • Lý thuyết Quản lý công mới (NPM) và Quản trị công mới (NPG): nhấn mạnh việc đo lường kết quả đầu ra (outputs), tác động (outcomes), định hướng khách hàng, minh bạch và trách nhiệm giải trình;
  • Mô hình Quản lý theo kết quả (Performance Management / Measurement): chuyển trọng tâm từ tuân thủ quy trình hành chính thuần túy sang kiểm soát mức độ hoàn thành mục tiêu chiến lược.

Về khái niệm công cụ, tác giả căn cứ Từ điển hành chính (2003), Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015 (Điều 39) và Nghị định số 123/2016/NĐ-CP (Điều 2) để xác định: Bộ và cơ quan ngang Bộ là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về một hoặc một số ngành, lĩnh vực và dịch vụ công thuộc ngành, lĩnh vực trong phạm vi toàn quốc; là cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền riêng. Chất lượng hoạt động của Bộ và cơ quan ngang Bộ được hiểu là mức độ đáp ứng các yêu cầu, tiêu chuẩn pháp lý về chức năng quản lý ngành, lĩnh vực và mức độ thỏa mãn nhu cầu phục vụ xã hội, người dân, doanh nghiệp thông qua việc sử dụng tối ưu các nguồn lực.

Phương pháp luận của luận án dựa trên chủ nghĩa duy vật biện chứng, kết hợp giữa nghiên cứu lý thuyết và kiểm chứng thực nghiệm. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể bao gồm:

  • Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Thu thập văn bản quy phạm pháp luật, chủ trương của Đảng, tài liệu lý thuyết trong nước và quốc tế;
  • Phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh: Phân tích các mô hình quốc tế (MBNQA của Hoa Kỳ, PSA của Anh, Khung kết quả của Australia, kinh nghiệm Trung Quốc, CAF của châu Âu) và tổng kết báo cáo, chỉ số thực tế tại Việt Nam;
  • Phương pháp điều tra, khảo sát bằng bảng hỏi: Thu thập dữ liệu thực nghiệm thông qua phiếu điều tra xã hội học trực tuyến (Google Forms). Mẫu khảo sát gồm 80 công chức phụ trách công tác cải cách hành chính tại 8 Bộ: Bộ Tư pháp, Bộ Y tế, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Nội vụ, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (mỗi Bộ chọn 10 công chức);
  • Phương pháp chuyên gia: Phỏng vấn, tham vấn ý kiến các nhà khoa học, nguyên Lãnh đạo Bộ, Lãnh đạo cấp Vụ của một số Bộ, cơ quan ngang Bộ về tính cần thiết và cấu trúc tiêu chí;
  • Phương pháp thống kê: Xử lý số liệu khảo sát định lượng, tổng hợp dữ liệu từ Báo cáo tổng kết 128/BC-BC, Chỉ số Cải cách hành chính (PAR INDEX), Chỉ số Hiệu quả hoạt động xây dựng và thi hành pháp luật về kinh doanh (MEI 2011, 2014) và Chỉ số Đánh giá nỗ lực cải cách hành chính (LDEA 2005–2009).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu về đánh giá chất lượng trong khu vực công

Chương 1 hệ thống hóa các dòng nghiên cứu lý luận và thực nghiệm về đánh giá chất lượng trong khu vực công trên thế giới và ở Việt Nam. Tác giả chỉ ra rằng đo lường kết quả không phải là ý niệm hoàn toàn mới, nhưng chỉ thực sự phát triển mạnh mẽ từ thập niên 1980–1990 dưới trào lưu Quản lý công mới. Các nghiên cứu quốc tế đã làm rõ sự phân biệt giữa đo lường đầu vào (input), quá trình (process), đầu ra (output) và tác động (outcome), đồng thời phân tích tính hai mặt của việc sử dụng chỉ số kết quả (nguy cơ sai lệch hành vi tổ chức, tốn kém chi phí thu thập dữ liệu).

Tại Việt Nam, các nghiên cứu trước đây chủ yếu bàn về hiệu quả quản lý, cải cách hành chính hoặc đánh giá cán bộ, công chức riêng lẻ. Chương này khẳng định khoảng trống tri thức: chưa có công trình nào xây dựng hệ thống tiêu chí định lượng hoàn chỉnh để đánh giá chất lượng hoạt động của Bộ và cơ quan ngang Bộ – cơ quan hoạch định chính sách cấp trung ương.

Chương 2: Cơ sở lý luận về xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng hoạt động của Bộ và cơ quan ngang Bộ

Chương 2 làm rõ bản chất pháp lý và hành chính của Bộ và cơ quan ngang Bộ theo Hiến pháp và Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015. Tác giả phân tích các đặc trưng hoạt động của Bộ: tính chất quản lý vĩ mô, thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật, quản lý chuyên ngành, lĩnh vực và cung ứng dịch vụ công.

Luận án xác lập các nguyên tắc xây dựng Khung tiêu chí: tính hợp pháp, tính hệ thống, tính khoa học, tính khả thi, tính định lượng và hướng tới đối tượng phục vụ. Tác giả luận giải cấu trúc khung đánh giá cần bao quát từ yếu tố đầu vào (địa vị pháp lý, tổ chức bộ máy, nguồn lực tài chính, nhân sự), quá trình thực thi (quy trình nghiệp vụ, ứng dụng công nghệ thông tin, phối hợp liên ngành) đến kết quả cuối cùng (văn bản ban hành, hiệu lực quản lý nhà nước) và mức độ hài lòng của xã hội. Chương này cũng phân tích 4 nhóm yếu tố ảnh hưởng đến việc xây dựng tiêu chí: yếu tố tổ chức - pháp lý; yếu tố tổ chức thực hiện; yếu tố thanh tra, kiểm tra, giám sát; và bối cảnh cải cách, hiện đại hóa nền hành chính.

Chương 3: Cơ sở thực tiễn của xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng hoạt động của Bộ và cơ quan ngang Bộ

Chương 3 phân tích thực trạng công tác đánh giá cơ quan hành chính tại Việt Nam và kinh nghiệm quốc tế. Ở Việt Nam, việc đánh giá trước đây chủ yếu dựa vào hệ thống báo cáo định kỳ (mang nặng tính định tính, hành chính nội bộ) và một số bộ chỉ số như LDEA, MEI, PAR INDEX.

Công cụ đánh giá Giai đoạn / Năm áp dụng Nội dung và phạm vi đánh giá Hạn chế nhận diện trong luận án
Chỉ số LDEA 2005–2009 Đánh giá nỗ lực cải cách hành chính qua các tiêu chí thành phần Chưa phản ánh toàn diện hoạt động quản lý ngành, lĩnh vực
Chỉ số MEI 2011, 2014 Đo lường hiệu quả xây dựng và thi hành pháp luật về kinh doanh của các Bộ Phạm vi hẹp, giới hạn trong lĩnh vực pháp luật kinh doanh
Chỉ số PAR INDEX Từ 2012 (dữ liệu phân tích 2012–2018) Đánh giá công tác cải cách hành chính theo các lĩnh vực (thể chế, thủ tục, bộ máy, công vụ, tài chính công, hiện đại hóa) Tập trung vào mức độ thực hiện nhiệm vụ CCHC, chưa bao quát toàn diện kết quả thực hiện chức năng quản lý nhà nước chuyên ngành

Kinh nghiệm quốc tế được chương 3 phân tích qua các mô hình: hệ thống đánh giá hiệu suất của Hoa Kỳ, thỏa ước dịch vụ công (PSA) và chỉ số hài lòng của Anh, Khung kết quả tác động và đầu ra của Australia, đánh giá tổ chức tại Trung Quốc, và việc áp dụng mô hình CAF tại các nước châu Âu (với 9 tiêu chí, 28 tiêu chí thành phần, thang điểm đánh giá truyền thống).

Chương 3 trình bày chi tiết kết quả khảo sát 80 công chức phụ trách cải cách hành chính tại 8 Bộ. Dữ liệu khảo sát làm cơ sở thực chứng để xác lập các trục đánh giá:

  • Trục 1: Địa vị pháp lý, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn;
  • Trục 2: Cơ cấu tổ chức bộ máy;
  • Trục 3: Nguồn nhân lực và các nguồn lực khác (tài chính, cơ sở vật chất, công nghệ);
  • Trục 4: Quy trình giải quyết công việc (thủ tục hành chính, quy chế làm việc);
  • Trục 5: Kết quả thực hiện nhiệm vụ (xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, chỉ đạo điều hành);
  • Trục 6: Ý kiến phản hồi từ các nhóm đối tượng liên quan (người dân, doanh nghiệp, công chức).

Chương 4: Đề xuất Khung tiêu chí đánh giá chất lượng hoạt động của Bộ và cơ quan ngang Bộ

Chương 4 là chương trọng tâm của luận án, đưa ra đề xuất hoàn chỉnh về Khung tiêu chí (Bảng 10 trong luận án). Khung tiêu chí được thiết kế tích hợp các trục nội dung, phân chia thành các tiêu chí cụ thể và tiêu chí thành phần, đi kèm cơ chế tính điểm và thang điểm định lượng:

Trục nội dung đánh giá Trọng tâm nội dung tiêu chí Phương thức đo lường / Nguồn dữ liệu
1. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn Sự phù hợp, tính đồng bộ của quy định pháp luật về chức năng, nhiệm vụ; mức độ chồng chéo, bỏ sót nhiệm vụ Rà soát văn bản quy phạm pháp luật, tài liệu kiểm chứng
2. Cơ cấu tổ chức bộ máy Mức độ tinh gọn của bộ máy, tỷ lệ phòng trong vụ, số lượng đầu mối trực thuộc, phân định cấp phó Thống kê cơ cấu tổ chức, biên chế theo đề án vị trí việc làm
3. Nguồn nhân lực và nguồn lực khác Cơ cấu ngạch công chức, trình độ đào tạo, tỷ lệ ứng dụng công nghệ thông tin, quản lý ngân sách nhà nước Hồ sơ nhân sự, báo cáo tài chính, tài liệu kiểm chứng kiểm toán
4. Quy trình giải quyết công việc Chuẩn hóa quy trình ISO, cải cách thủ tục hành chính, giải quyết dịch vụ công trực tuyến Tỷ lệ hồ sơ giải quyết đúng hạn, hệ thống một cửa điện tử
5. Kết quả thực hiện nhiệm vụ Tỷ lệ hoàn thành chương trình xây dựng luật, pháp lệnh; chất lượng ban hành thông tư, nghị định; tiến độ nhiệm vụ Chính phủ giao Báo cáo theo dõi thi hành pháp luật, cơ sở dữ liệu Văn phòng Chính phủ
6. Ý kiến phản hồi từ xã hội Mức độ hài lòng của công dân, tổ chức, doanh nghiệp và công chức nội bộ Điều tra xã hội học độc lập, tiếp nhận phản ánh kiến nghị

Tác giả đề xuất quy trình sử dụng Khung tiêu chí gồm các bước: tự đánh giá của Bộ; thẩm định độc lập; thu thập phiếu khảo sát bên ngoài; tổng hợp và công bố xếp hạng. Luận án nhấn mạnh yêu cầu thí điểm Khung tiêu chí trước khi ban hành chính thức, đồng thời xác lập các điều kiện đảm bảo thực thi: hoàn thiện chính sách pháp luật (thể chế hóa vào văn bản của Chính phủ); thành lập cơ quan đánh giá độc lập hoặc đơn vị chuyên trách đánh giá; phân bổ ngân sách cho công tác đo lường định kỳ; và tăng cường sự tham gia giám sát của các nhà khoa học, hiệp hội doanh nghiệp, người dân.

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt lý luận, luận án đã:

  • Làm rõ nội hàm các khái niệm: chất lượng hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước, đánh giá chất lượng hoạt động của Bộ và cơ quan ngang Bộ, tiêu chí đánh giá chất lượng hoạt động của Bộ và cơ quan ngang Bộ;
  • Luận giải mối quan hệ giữa đặc điểm tổ chức, nguyên tắc hoạt động của Bộ với các yêu cầu đánh giá chất lượng theo tiếp cận quản lý chất lượng toàn diện (TQM), quản lý theo kết quả và quản lý công mới;
  • Xác lập khung lý thuyết về các trục đánh giá toàn diện, bao gồm cả yếu tố đầu vào, quy trình nội bộ, kết quả đầu ra và tác động xã hội.

Về mặt thực tiễn, luận án đã:

  • Đánh giá có hệ thống thực trạng sử dụng các báo cáo và bộ chỉ số (LDEA, MEI, PAR INDEX) tại Việt Nam giai đoạn 2011–2019, chỉ ra các mặt hạn chế và nguyên nhân cốt lõi;
  • Phân tích SWOT đối với việc áp dụng tiêu chí đánh giá chất lượng hoạt động của Bộ và cơ quan ngang Bộ;
  • Xây dựng hoàn chỉnh Khung tiêu chí đánh giá chất lượng hoạt động của Bộ và cơ quan ngang Bộ (Bảng 10) với các tiêu chí, tiêu chí thành phần, thang điểm và tài liệu kiểm chứng;
  • Đề xuất giải pháp về mô hình tổ chức đánh giá (hình thành cơ quan đánh giá chuyên trách/độc lập), phương pháp thí điểm và các điều kiện đảm bảo về pháp lý, tài chính, công nghệ để vận hành Khung tiêu chí.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế, luận án bị giới hạn trong phạm vi không gian 19 Bộ và cơ quan ngang Bộ, loại trừ Văn phòng Chính phủ, Bộ Quốc phòng và Bộ Công an do đặc thù chức năng an ninh, quốc phòng và phục vụ chỉ đạo điều hành chung. Dữ liệu thực chứng thứ cấp chủ yếu tập trung trong giai đoạn 2011–2019 theo vòng đời triển khai Nghị quyết số 30c/NQ-CP. Mẫu khảo sát định lượng gồm 80 công chức phụ trách cải cách hành chính tại 8 Bộ, chưa mở rộng ra toàn bộ các đối tượng công chức thuộc tất cả các đơn vị chuyên môn trong cơ cấu của các bộ.

Về hướng nghiên cứu tiếp, luận án chỉ rõ các nội dung cần thực hiện:

  • Tổ chức nghiên cứu thực nghiệm triển khai thí điểm Khung tiêu chí tại một số Bộ được lựa chọn để hoàn thiện trọng số và thang điểm;
  • Nghiên cứu mô hình tổ chức chi tiết của cơ quan đánh giá độc lập trực thuộc Chính phủ hoặc cơ chế ủy thác đánh giá độc lập;
  • Tiếp tục mở rộng nghiên cứu tiêu chí đánh giá xuống các đơn vị trực thuộc (Tổng cục, Cục, Vụ) trong cơ cấu tổ chức nội bộ của Bộ và cơ quan ngang Bộ;
  • Hoàn thiện thể chế hóa Khung tiêu chí trong khuôn khổ triển khai Nghị quyết số 76/NQ-CP giai đoạn 2021–2030 và hướng dẫn thực hiện Điều 19 Quy định số 132-QĐ/TW của Bộ Chính trị.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho các đối tượng:

  • Các cơ quan trung ương, Ban Chỉ đạo cải cách hành chính của Chính phủ và Bộ Nội vụ trong việc tham mưu xây dựng quy định đánh giá, xếp loại chất lượng hoạt động của các bộ, ngành hàng năm;
  • Đội ngũ lãnh đạo và công chức chuyên trách cải cách hành chính tại các Bộ, cơ quan ngang Bộ làm công cụ tự đánh giá, rà soát chức năng, nhiệm vụ và tối ưu hóa quy trình nghiệp vụ;
  • Giảng viên, học viên sau đại học và nghiên cứu sinh thuộc các chuyên ngành Quản lý công, Khoa học hành chính, Luật học tại Học viện Hành chính Quốc gia, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh và các cơ sở đào tạo đại học.

Phần đáng tham khảo nhất của luận án là Chương 4 với bản thiết kế Khung tiêu chí chi tiết (Bảng 10), bảng tổng hợp kết quả điều tra thực nghiệm tại 8 Bộ (Chương 3 và hệ thống bảng từ Bảng 21 đến Bảng 35), cùng phương pháp luận kết hợp giữa khung đánh giá CAF quốc tế với bối cảnh quản lý nhà nước tại Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

Luận án tiếp cận khái niệm "chất lượng hoạt động của Bộ và cơ quan ngang Bộ" theo hướng nào?
Luận án tiếp cận chất lượng hoạt động dựa trên cơ sở kết hợp giữa việc hoàn thành đúng, đủ chức năng, nhiệm vụ do pháp luật quy định (theo Luật Tổ chức Chính phủ 2015, Nghị định 123/2016/NĐ-CP) và việc đáp ứng các tiêu chuẩn về đầu vào (nhân lực, bộ máy, thể chế), quy trình hoạt động (cải cách thủ tục, quy chế) cùng kết quả đầu ra và mức độ hài lòng của công dân, tổ chức, doanh nghiệp.

Đối tượng khảo sát thực tế của luận án được lựa chọn ra sao và có quy mô như thế nào?
Nghiên cứu sinh thực hiện khảo sát bằng bảng hỏi trực tuyến (Google Forms) trên mẫu gồm 80 công chức phụ trách công tác cải cách hành chính tại 8 Bộ: Bộ Tư pháp, Bộ Y tế, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Nội vụ, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (mỗi Bộ chọn đúng 10 công chức).

Vì sao luận án không đưa Văn phòng Chính phủ, Bộ Quốc phòng và Bộ Công an vào phạm vi nghiên cứu?
Do Văn phòng Chính phủ có vị trí, chức năng là cơ quan giúp việc, phục vụ hoạt động chung của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ; trong khi Bộ Quốc phòng và Bộ Công an có tính chất đặc thù về an ninh, quốc phòng và bảo mật nhà nước, khác biệt với tính chất quản lý nhà nước chuyên ngành, lĩnh vực kinh tế - xã hội thông thường của 19 Bộ và cơ quan ngang Bộ còn lại.

Khung tiêu chí đề xuất trong Chương 4 gồm những trục nội dung cơ bản nào?
Khung tiêu chí tại Bảng 10 được thiết kế dựa trên 6 trục nội dung: (1) Địa vị pháp lý, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn; (2) Cơ cấu tổ chức bộ máy; (3) Nguồn nhân lực và các nguồn lực khác; (4) Quy trình giải quyết công việc; (5) Kết quả thực hiện nhiệm vụ; (6) Ý kiến phản hồi từ các nhóm đối tượng liên quan.

Những mô hình quốc tế nào được luận án phân tích sâu nhất để rút ra bài học cho Việt Nam?
Luận án nghiên cứu sâu mô hình Khung đánh giá tổng hợp (CAF) của Liên minh châu Âu (với 9 tiêu chí và 28 tiêu chí thành phần), mô hình Giải thưởng chất lượng Malcolm Baldrige (MBNQA) của Hoa Kỳ, hệ thống Thỏa ước dịch vụ công (PSA) của Vương quốc Anh và Khung kết quả tác động và đầu ra của Australia.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của Nguyễn Mạnh Cường là công trình nghiên cứu hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về đánh giá chất lượng hoạt động của Bộ và cơ quan ngang Bộ tại Việt Nam theo các nguyên lý của Quản lý chất lượng toàn diện và Quản lý theo kết quả. Dựa trên số liệu khảo sát thực nghiệm tại 8 Bộ và tổng kết thực tiễn các bộ chỉ số giai đoạn 2011–2019, tác giả đã đề xuất Khung tiêu chí định lượng gồm 6 trục nội dung bao quát từ nguồn lực đầu vào, quy trình thực thi đến kết quả đầu ra và tác động xã hội. Công trình cung cấp luận cứ khoa học và giải pháp thực tiễn hỗ trợ cơ quan nhà nước hoàn thiện thể chế đánh giá tổ chức, góp phần thực hiện các mục tiêu cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2021–2030.