Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về tiếp cận thông tin của công chúng về vẫn đề xây dựng nông thôn mới.Một số khái niệm, thuật ngữ liện quan tới đề tài.Tiếp cận thông tin 1. Công chúng và công chúng báo chí 1. Nông thôn mới và xây dựng nông thôn mới 1. Quyền tiếp cận thông tin 1.
Cơ sở lý thuyết nền tảng 1. Quá trình truyền thông 1. Lý thuyết tâm lý học báo chí - truyền thông 1. Lý thuyết “Sử dụng và hài lòng” 1.
Lý thuyết “Dòng chảy hai bước” 19 1. Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới. Vai trò của báo chí trong việc tuyên truyền xây dựng nông thôn mới Chương 2: Kết quả điều tra công chúng Nam Định tiếp cận thông tin về vấn đề xây dựng nông thôn mới qua bao chi. Đặc điểm của công chúng báo chí Nam Định 2.
Các yếu tố ảnh hưởng đến đặc điểm công chúng Nam Định 2. Đặc điểm của công chúng báo chí Nam Định 2. Các yêu tô tác động đến việc tiếp cận thông tin của công chúng Nam Định về van đề xây dựng nông thôn mới 2. Các nhân tô nhân khâu học tác động đến việc tiếp cận thông tin về xây dựng NTM của công chúng Nam Định 2.
Các yếu tố đặc điểm cá nhân tác động đến việc tiếp cận thông tin của công chúng 2. Khảo sát việc tiếp cận thông tin của công chúng Nam Định về xây dựng nông thôn mới qua báo chí. Tần suất tiếp cận thông tin 2. Phương thức tiếp cận 2.
Mục đích tiếp cận 2. Các nội dung thông tin mà công chúng tiếp cận về vấn đề xây dựng nông thôn mới 2. Việc chia sẻ và phản hồi thông tin của công chúng khi tiếp cận 2. Đánh giá, nhận xét của công chúng đối với những thông tin mà họ được tiếp cận.
Chương 3: Một số kết luận và đề xuất giải pháp cải thiện và nâng cao hiệu quả tiếp cận thông tin của công chúng Nam Định về vấn đề xây dựng nông thôn mới qua báo chí 3. Một số kết luận về tiếp cận thông tin của công chúng Nam Định về xây dựng NTM 20 3. Phương thức tiếp cận thông tin về xây dựng NTM qua báo chí của công chúng Nam Định hiện nay rất đa dạng và có sự chọn lọc. Việc cung cấp thông tin trên báo chí Nam Định nhìn chung mới chỉ đáp ứng được một phần nào đó trước nhu cầu thông tin về xây dựng nông thôn mới ngày càng cao cả về số lượng và chất lượng của người dân.
Tính tương tác của công chúng Nam Định dù đã ở mức cao nhưng vẫn còn hạn chế trong cách thức tương tác. Một vài giải pháp cơ bản 3. Kích thích sự phát triển nhu cầu tiếp cận thông tin về xây dựng NTM của công chúng Nam Định 3. Nâng cao tính chủ động của công chúng trong tiếp cận thông tin về xây dựng nông thôn mới 3.
Tăng cường nhận thức và trách nhiệm của báo chí, đặc biệt là báo chí địa phương trong việc phát huy quyền TCTT của CC về xây dựng NTM 3. Tăng cường cơ chế giám sát và phản biện xã hội của báo chí nhằm nâng cao hiệu quả TCTT của công chúng Nam Định về xây dựng NTM 3. Một số kiến nghị cụ thé đối với cá cơ quan, tô chức, ban ngành của tỉnh Nam Định 3. Đối với các cơ quan báo chí tỉnh 3.
Đối với các Sở, ban, ngành của tỉnh 3. Với Sở Thông tin và Truyền thông 3. Với Sở Văn hóa, Thé thao và Du lịch và Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Nam Định 21 CHUONG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THUC TIEN VE TIẾP CAN THONG TIN CUA CONG CHUNG VE VAN DE XAY DUNGNONG THON MOI Dựa vào lý do thực hiện dé tai, cơ sở lý thuyết và thực tiễn của dé tài va các phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong quá trình nghiên cứu trong phần mở đầu, trong chương này, tác giả luận văn sẽ đi vào giải thích một vài khái niệm cơ bản liên quan tới đề tài. Đồng thời trình bày Chương trình mục tiêu quốc gia của Chính phủ về XDNTM và tìm hiểu việc chuyển tải van đề này được trên báo chí.
Một số khái niệm, thuật ngữ liện quan tới đề tài 1. Tiếp cận thông tin Thông tin là nhu cầu thiết yêu trong mọi hoạt động của đời sống xã hội, là công cụ để điều hành quản lý, lãnh đạo của mỗi quốc gia, là phương tiện hữu hiệu dé mở rộng giao lưu hiểu biết giữa các quốc gia dân tộc, là nguồn cung cấp trí thức, cũng là nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội. Thông tin được coi là yếu tô quyết định cho cơ hội phát triển, thành đạt và tự chủ của mỗi quốc gia, tô chức và mỗi con người. Trong bai viết “Các nguyên tắc của Luật tự do Thông tin”, nhóm nghiên cứu định nghĩa về “thông tin” như sau: “7hông tin bao gồm tat cả các tài liệu được nắm giữ bởi một tổ chức, cơ quan nào đó.
Thông tin không phân biệt hình thức và cách thức được lưu trữ (văn bản, băng, bản ghi âm điện tử”, nguồn gốc thông tin (bat cứ đâu có thể tạo ra thông tin, ở các cơ quan công hay những nơi khác) và ngày sản xuất. Theo “Luật tiếp cận thông tin”: “7hông tin là tin, dữ liệu được chứa đựng trong văn bản, hồ sơ, tài liệu có sẵn, ton tại dưới dạng bản viết, bản in, bản điện tử, tranh, anh, bản vẽ, băng, đĩa, bản ghi hình, ghi âm hoặc các dạng khác do cơ quan nhà nước tạo ra”. Còn ở góc độ ngữ nghĩa thì “tiếp cận” là một động từ có nghĩa là từng bước, bằng những phương pháp nhất định, tìm hiểu về một van đề, công việc nào đó.Tiếp cận và tự do thông tin là quyên cơ bản với môi con người, của công dân thuộc nhóm 22 quyền dan sự - chính trị đã được ghi nhận trong Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền của Liên hợp quốc năm 1948, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 mà Việt Nam là thành viên. Ở nước ta, Hiến pháp năm 1992 lần đầu tiên xác định quyền được thông tin là quyền cơ ban của công dân.
Cụ thé hóa Hiến pháp, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật có quy định về thực hiện và bảo đảm thực hiện quyền được thông tin của công dân trong một số lĩnh vực. Hiến pháp Việt Nam năm 2013 cũng quy định tại điều 25: “Céng dan có quyên tự do ngôn luận, tự do báo chi, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tinh”. Wolfenshn, Chủ tịch nhóm Ngân hàng thé giới: Tiếp cận thông tin là một phần then chốt của chiến lược phát triển hiệu quả vì việc làm này sẽ phổ biến kiến thức và tăng cường tính minh bạch. Báo chí, truyền thông là cốt lõi của sự phát triển công bằng.
Nó cho phép người dân bày tỏ quan điểm khác nhau về sự quản lý của nhà nước và cải cách, cũng góp phan tạo ra sự đồng thuận trong công chúng để tạo ra sự thay đôi. Tuy nhiên, hiệu quả của truyền thông, báo chí có thé bị hạn chế do con người có học vấn thấp, công nghệ nghèo nàn. Như vậy, công nghệ có vai trò rất quan trọng trong vấn đề tiếp cận thông tin nói chung, thông tin báo chí, truyền thông nói riêng. Tiếp cận thông tin được quy định tại Khoản 3 Điều 2 Luật Tiếp cận thông tin 2016(có hiệu lực ngày 01/07/2018) như sau: “Tiép cận thông tinlà việc đọc, xem, nghe, ghi chép, sao chép, chụp thông tin” [40] Tiếp cận thông tin hiện đã trở thành một nhu cầu và một quyền cấp thiết cần phải bảo đảm không chỉ đối với các tổ chức và doanh nghiệp mà còn đối với mọi công dân bởi thông tin, đặc biệt là thông tin về pháp luật, chính sách và hoạt động của các cơ quan nhà nước được coi là yếu tố cốt yếu trong mọi hoạt động.
Quyền tiếp cận thông tin hay quyền được thông tin là quyền cơ bản của con người. Đây không phải là khái niệm mới nhưng nó chỉ trở thành mối quan tâm trên phạm vi quốc tế sau khi Liên Hợp Quốc ra đời. Tính đến nay, trên thế giới đã có 23 khoảng 103 nước ban hành Luật TCTT. Theo Tony Mendel (chuyên gia quốc tế về quyền tiếp cận thông tin) thì xu hướng ngày càng có nhiều luật về tự do thông tin được ban hành bởi quan điểm phổ biến trên thế giới hiện nay là các cơ quan công quyền nắm giữ thông tin không phải cho chính bản thân họ mà là vì lợi ích công cộng.
[22] Ở Việt Nam, QTCTT là một trong những quyền cơ bản của con người được thé hiện trong nhiều chủ trương, chính sách của Dang và Nhà nước. Hiến pháp 1946 và Hiến pháp 1992 của Nha nước ra đã khang định: “Công dân có quyển tự do ngôn luận, tự do báo chỉ; có quyên được thông tin; có quyên hội hop, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật”. Mười năm sau hiến pháp 1992, trong điều kiện đất nước, xã hội có nhiều thay đổi nhưng quyền được thông tin tiếp tục được khang định trong Hiến pháp năm 2013. Điều 25, Hiến pháp năm 2013 quy định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp.
QTCTT của công dân là quyền hiến định, được pháp luật ghi nhận day đủ và rõ ràng. Theo đó, công dân có quyền được biết những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, được TT những van dé cấp thiết, gan liền với cuộc sống hang ngày. Trước đây, vì nhiều lý do, nhất là trải qua chiến tranh nên việc tạo điều kiện cho công dân được TT còn hạn chế. Đến nay, chúng ta nhận thấy QTCTT là quyền rất cần thiết và quyền đó phải được thể hiện một cách chính thống thông qua một đạo luật dé quy định cụ thé những gì người dân được TT, những gì hạn chế cam TT.
Ngày 6 tháng 4 năm 2016, Luật Tiếp cận thông tin đã chính thức được Quốc hội nước CHXHCNVN khóa XVII, kỳ họp thứ 11 thông qua, trong đó nêu rõ “Moi công dân déu bình dang, không bị phân biệt đối xử trong việc thực hiện QTCTT. Thông tin được cung cấp phải chính xác, day đủ. Từ đó cho thay, QTCTT được quy định tương đối đầy đủ, rõ ràng trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ở nước ta. Quyền tiếp cận thông tin giúp hình thành nên các quan điểm ngôn luận, khách quan, giảm thiểu sự thiên vị, sai lệch.
Đó là việc tiếp cận những thông tin mới hoặc góc tiêp cận mới vê một vân đê hoặc sự kiện diễn ra trong xã hội.