Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Văn hóa học (mã số: 9229040) với đề tài "Tiếp xúc văn hóa Việt – Pháp trong lĩnh vực giáo dục ở Nam Kỳ" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Ngô Thị Minh Hằng, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Trần Long và TS. Trần Thanh Nhàn tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (bảo vệ năm 2022). Hội đồng chấm luận án gồm các nhà khoa học: PGS. Lâm Nhân, PGS. Nguyễn Đức Lộc (Phản biện độc lập và Phản biện) cùng TS. Đinh Thị Dung (Phản biện).
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Giáo dục là lĩnh vực giữ vai trò thiết yếu đối với sự phát triển văn hóa, xã hội và kinh tế của mỗi quốc gia. Trước khi thực dân Pháp xâm lược, giáo dục Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu sắc của Nho giáo từ nhận thức, mô hình trường lớp, phương pháp giảng dạy đến chương trình và chế độ thi cử. Sau khi hoàn thành việc chinh phục quân sự, chính quyền thực dân Pháp đã thiết lập một hệ thống giáo dục mới theo mô hình phương Tây tại Nam Kỳ nhằm phục vụ mục đích cai trị và đào tạo đội ngũ công chức, viên chức thừa hành bản xứ.
Quá trình áp đặt mô hình giáo dục Pháp vào Nam Kỳ vừa mang tính cưỡng bức vừa là quá trình tiếp biến văn hóa sâu sắc. Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu về giáo dục thời thuộc Pháp dưới góc độ lịch sử học hay giáo dục học, các nghiên cứu tiếp cận sự tương tác này dưới lăng kính chuyên ngành văn hóa học vẫn còn hạn chế. Do đó, việc nghiên cứu tiếp xúc văn hóa giáo dục Việt – Pháp tại Nam Kỳ giúp tái hiện bức tranh toàn diện về sự biến đổi văn hóa trên các bình diện nhận thức, tổ chức và ứng xử trong trường học, từ đó đúc kết những đặc điểm, hệ quả và bài học kinh nghiệm cho giáo dục Việt Nam đương đại.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích tổng quát của luận án là nghiên cứu quá trình tiếp xúc và biến đổi văn hóa giáo dục ở Nam Kỳ giai đoạn 1858 – 1945 dưới góc nhìn văn hóa học, tập trung vào ba thành tố: nhận thức, tổ chức và ứng xử; giải thích cơ chế bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc trong bối cảnh bị áp đặt văn hóa; đồng thời rút ra các đặc điểm, hệ quả và bài học kinh nghiệm.
Để hiện thực hóa mục đích trên, luận án xác định các nhiệm vụ cụ thể:
- Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài.
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và vận dụng các lý thuyết chuyên ngành để giải quyết vấn đề nghiên cứu.
- Khái quát bối cảnh kinh tế - xã hội và các nhân tố tác động đến quá trình tiếp xúc văn hóa giáo dục tại Nam Kỳ.
- Làm rõ chính sách giáo dục của chính quyền thuộc địa và tiến trình xác lập hệ thống giáo dục Pháp – Việt.
- Phân tích quá trình tiếp nhận và biến đổi văn hóa giáo dục trên các phương diện văn hóa nhận thức, văn hóa tổ chức và văn hóa ứng xử trong nhà trường tại Nam Kỳ (1858 – 1945).
- Đúc kết đặc điểm, hệ quả (tích cực, hạn chế) và rút ra bài học kinh nghiệm cho giáo dục Việt Nam hiện nay.
Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
Luận án giải quyết 3 câu hỏi nghiên cứu:
- Bối cảnh kinh tế xã hội ở Nam Kỳ khi tiếp xúc với giáo dục Pháp? Sự ảnh hưởng của Pháp đến văn hoá Việt Nam trên các lĩnh vực văn hoá như thế nào?
- Sự tiếp xúc văn hoá giáo dục Pháp giai đoạn 1858 - 1945, người Việt Nam nói chung và Nam Kỳ nói riêng đã tiếp nhận những nội dung mới gì từ văn hoá Pháp? Quá trình tiếp nhận đó đã tạo nên những biến đổi văn hóa giáo dục của dân tộc trên các phương diện nhận thức, tổ chức, ứng xử như thế nào?
- Những đặc điểm, hệ quả tích cực và hạn chế của quá trình tiếp xúc văn hóa giáo dục Việt – Pháp ảnh hưởng đến Việt Nam thế nào? Những bài học kinh nghiệm rút ra gì cho nền giáo dục của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay?
Giả thuyết nghiên cứu: Trong quá trình tiếp xúc văn hóa giáo dục Việt – Pháp tại Nam Kỳ, văn hóa Việt Nam đã tiếp nhận các yếu tố văn hóa Pháp một cách có chọn lọc và biến đổi để thích ứng với nền tảng văn hóa dân tộc. Mặc dù chính quyền thực dân thiết lập nền giáo dục mới nhằm truyền bá văn minh mẫu quốc và phục vụ bộ máy thống trị, người Việt đã tiếp thu các tư tưởng tiến bộ, tự do, dân chủ và phương pháp tư duy khoa học phương Tây, biến chúng thành công cụ nhận thức và đấu tranh giải phóng dân tộc. Sự chuyển biến trên các phương diện nhận thức, tổ chức và ứng xử đã đặt nền móng cho quá trình hiện đại hóa giáo dục dân tộc.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Quá trình tiếp xúc văn hóa giáo dục Việt – Pháp tại Nam Kỳ giai đoạn 1858 – 1945, thể hiện qua sự biến đổi về văn hóa nhận thức, văn hóa tổ chức và văn hóa ứng xử trong nhà trường.
- Phạm vi không gian: Địa bàn Nam Kỳ thời thuộc Pháp (tương ứng với khu vực Nam Bộ hiện nay, gồm miền Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ).
- Phạm vi thời gian: Từ năm 1858 (thời điểm thực dân Pháp bắt đầu nổ súng xâm lược) đến năm 1945 (thời điểm chính quyền thuộc địa sụp đổ, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời).
- Phạm vi chủ thể: Người dân Nam Kỳ trong vai trò chủ thể tiếp nhận; chính quyền quản lý thực dân và các cấp quản lý giáo dục; đội ngũ giáo viên, học sinh và phụ huynh trong môi trường học đường.
- Giới hạn nội dung: Tập trung vào lĩnh vực giáo dục phổ thông và giáo dục dạy nghề (do Nam Kỳ thời kỳ này chưa thiết lập hệ thống trường cao đẳng và đại học); tập trung vào chiều kích tác động của văn hóa giáo dục Pháp vào Nam Kỳ và quá trình tiếp nhận chủ động của người bản xứ.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã phân loại và điểm luận 4 nhóm công trình nghiên cứu chính:
CÁC HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIỀN ĐỀ
Giáo dục thời Tiếp xúc & giao lưu Lịch sử giáo dục Tiếp xúc văn hóa
Nguyễn văn hóa Việt - Pháp Việt - Pháp giáo dục Việt - Pháp
(Nguyễn Tài Thư, (Léopold Pallu, Paul (Nguyễn Đỗ Mục, Vũ (Gail Kelly, Trịnh
Nguyễn Tiến Cường, Doumer, Phan Khoang, Đình Huề, Nguyễn Lân, Văn Thảo, Phan
Vũ Ngọc Khánh, Đinh Trần Ngọc Thêm, Phan Trần Văn Giàu, Tạ Thị Trọng Báu, Nguyễn
Văn Niêm, ...) Ngọc, ...) Thúy, ...) Thụy Phương, ...)
-
Nhóm công trình nghiên cứu về giáo dục thời Nguyễn:
Bao gồm các công trình của Nguyễn Tài Thư (1997) phân tích nội dung và vai trò của Nho học; Nguyễn Tiến Cường (1998) nghiên cứu lịch sử giáo dục và chế độ khoa cử; Nguyễn Khắc Viện (1998) trong cuốn Bàn về Đạo Nho luận giải về sự chuyển biến của tầng lớp nho sĩ; Đoàn Huy Oánh (2004) tóm lược lịch sử tổ chức giáo dục và thi cử triều Nguyễn; Vũ Ngọc Khánh (2012) với Thầy giáo Việt Nam 10 thế kỷ khảo cứu đạo học và văn hóa ứng xử sư phạm; Nguyễn Đình Tư (2014) khảo sát tiểu sử 235 cử nhân và 6 tiến sĩ Hán học Nam Bộ; Đinh Văn Niêm (2014) tổng thuật về chiếu dụ, học hàm, học vị và thi cử phong kiến.
-
Nhóm công trình nghiên cứu về tiếp xúc và giao lưu văn hóa Việt – Pháp:
Gồm tư liệu của Léopold Pallu (2008), Paul Doumer (1905) ghi chép về lối sống và xã hội Nam Kỳ; Phan Khoang (1950/2017, 1961) phục dựng quan hệ bang giao và biến đổi xã hội thuộc địa; Nguyễn Thế Anh (1970/2008) phân tích chính sách cai trị và phản ứng của sĩ phu; David G. Marr (1971) nghiên cứu phong trào Duy Tân và vai trò của chữ Quốc ngữ; Trần Ngọc Thêm (2001) xây dựng hệ thống loại hình văn hóa Việt Nam (nhận thức, tổ chức, ứng xử); Phan Ngọc (2006) luận giải về thao tác khúc xạ văn hóa và sự biến đổi cấu trúc xã hội; Nguyễn Thị Kim Loan (2015), Savitri Aditiany (2016), Nguyễn Thừa Hỷ (2016) nghiên cứu cơ chế tiếp biến và hỗn dung văn hóa qua văn học nghệ thuật, tôn giáo và kiến trúc.
-
Nhóm công trình nghiên cứu về lịch sử giáo dục Việt – Pháp:
Gồm các ghi chép của Nguyễn Đỗ Mục (1929), Vũ Đình Huề (1943); giáo trình của Nguyễn Lân (1958) và Trần Văn Giàu, Đinh Xuân Lâm, Kiều Xuân Bá (1963) phê phán chính sách giáo dục thực dân; luận văn của Hoàng Thị Trợ (1965) về chính sách trường học kiểu Pháp từ 1906; các bài báo của Nguyễn Anh (1967), Nguyễn Trọng Hoàng (1967) trên Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử phân tích cải cách giáo dục năm 1917; luận án của Dương Đức Nhu (1978) hệ thống hóa 8 cuộc cải cách và 10 mục tiêu giáo dục thời thuộc địa; Vũ Ngọc Khánh (1985), Nguyễn Q. Thắng (1993), Nguyễn Đăng Tiến (1996), Bùi Minh Hiền (2005), Phan Ngọc Liên (2006), Tạ Thị Thúy (2007) phân tích các cuộc cải cách giáo dục của Albert Sarraut (1917), Merlin (1924), Alexandre Varenne (1926); và ấn phẩm của Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I (2016) công bố khối văn bản pháp quy gốc tiếng Pháp.
-
Nhóm công trình nghiên cứu về tiếp xúc văn hóa giáo dục Việt – Pháp:
Gồm tài liệu L'enseignement Dans Le Pays Le Plus evolué de L'union Indochinoise (1931); Phạm Quỳnh (1945/2007) phân tích sự thay đổi tư duy văn hóa qua giáo dục Pháp; Raymond Jean (1956) khảo sát chương trình giảng dạy tiếng Pháp; Gail Kelly (1977, 1978, 1982) nghiên cứu sâu về trường học Pháp – Việt và phản ứng của đội ngũ giáo viên bản xứ; Trịnh Văn Thảo (1995/2019, 2013) phân tích đời sống giáo giới và hành trạng 220 trí thức qua ba thế hệ; Chương Thâu (1997, 2008) về trường Đông Kinh Nghĩa Thục; Phan Trọng Báu (2006, 2015) khảo cứu tiến trình cải cách giáo dục; Pierre Brocheux và Daniel Hémery (2006) nhận định Nam Kỳ là "phòng thí nghiệm giáo dục"; Trần Viết Nghĩa (2012), Trần Thị Hạnh (2012), Ngô Minh Oanh (2012) khảo cứu sự du nhập giáo dục phương Tây vào Nam Bộ; Trần Thị Ngọc Dư và cộng sự (2014) nghiên cứu trường Nữ trung học Đồng Khánh và Áo Tím; Hoài Hương Aubert-Nguyên và Michel Espagne (2018) về chuyển giao văn hóa; Nguyễn Thụy Phương (2018, 2020) nghiên cứu giáo dục mầm non và tính chất thuộc địa; Nguyễn Hoa Mai (2019) nghiên cứu tiếp biến văn hóa trong giáo dục Việt Nam.
Khoảng trống nghiên cứu của luận án: Các công trình đi trước phần lớn tiếp cận dưới góc độ sử học hoặc giáo dục học mang tính đơn ngành, tập trung vào mô tả sự kiện, chính sách hoặc đánh giá chính trị. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống: tiếp cận chuyên biệt dưới góc độ văn hóa học, khảo sát toàn diện và có hệ thống cấu trúc 3 thành tố (nhận thức – tổ chức – ứng xử) của văn hóa giáo dục Nam Kỳ, phân tích cơ chế tiếp biến và khúc xạ văn hóa trong giai đoạn 1858 – 1945.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng
Luận án vận dụng hai hệ thống lý thuyết cốt lõi kết hợp với các khái niệm chuyên ngành văn hóa học:
| Hệ thống lý thuyết / Khái niệm |
Tác giả / Nguồn lý thuyết |
Nội dung và vai trò vận dụng trong luận án |
| Lý thuyết tiếp xúc và giao thoa văn hóa |
Itamar Even-Zohar |
Xác lập cơ sở luận giải các hình thức tiếp xúc (trực tiếp, gián tiếp); các kênh tiếp xúc (thương mại, truyền giáo, trao đổi phi kinh tế, di cư, xâm lược); cơ chế chuyển giao văn hóa và quá trình "tái ngữ nghĩa hóa" trong bối cảnh xã hội thuộc địa. |
| Lý thuyết triết lý giáo dục |
Trần Ngọc Thêm |
Khung phân tích mô hình cấu trúc 3 tầng 6 thành tố: Sứ mệnh, Mục tiêu, Nguyên lý, Giá trị cốt lõi, Yêu cầu nội dung, Yêu cầu phương pháp; bộ ba "Tam triết"; và 4 nhóm thực hiện hóa (chính sách/tổ chức, văn hóa giáo dục, nội dung/phương pháp, hạ tầng giáo dục) chịu sự chi phối của chính trị, kinh tế, văn hóa. |
| Khái niệm Tiếp xúc, Tiếp biến văn hóa (Acculturation) |
Trần Quốc Vượng, Ngô Đức Thịnh, Đỗ Quang Hưng, R. Herskovits, A.L. Kroeber |
Phân tích quá trình tương tác giữa văn hóa ngoại sinh (Pháp) và văn hóa nội sinh (Việt Nam); quá trình tiếp nhận có chọn lọc, nhào nặn và bản địa hóa mô thức văn hóa mới trên nền tảng bản sắc truyền thống. |
| Khái niệm Khúc xạ văn hóa |
Phan Ngọc, Nguyễn Hoa Mai |
Luận giải hiện tượng nền văn hóa bản địa không tiếp nhận nguyên xi các giá trị ngoại lai mà điều chỉnh, khúc xạ qua lăng kính nhu cầu lịch sử và giá trị truyền thống của dân tộc. |
| Hệ thống cấu trúc loại hình văn hóa |
Trần Ngọc Thêm |
Khung phân tích thực nghiệm gồm 3 thành tố: Văn hóa nhận thức, Văn hóa tổ chức (và quản lý), Văn hóa ứng xử trong môi trường học đường. |
Phương pháp nghiên cứu
Luận án triển khai hướng tiếp cận định tính kết hợp liên ngành:
- Phương pháp hồi cứu tài liệu: Tập hợp, phân loại, kế thừa và tái đánh giá có phê phán các công trình nghiên cứu đi trước, xác định khoảng trống khoa học.
- Phương pháp so sánh văn hóa: So sánh đối chiếu văn hóa giáo dục Nam Kỳ thời phong kiến (triều Nguyễn) với văn hóa giáo dục thời thuộc Pháp trên các tiêu chí: triết lý, mục tiêu, cách thức tổ chức trường lớp, chế độ thi cử, mối quan hệ thầy trò, chuẩn mực ứng xử.
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Phân tích từng thành tố văn hóa giáo dục Pháp – Việt được thiết lập ở Nam Kỳ, sau đó tổng hợp nhằm làm rõ quy luật vận động và diện mạo của nền văn hóa giáo dục mới.
- Tiếp cận liên ngành: Kết hợp phương pháp lịch sử và phương pháp logic của Sử học để phục dựng bối cảnh và quy luật biến đổi; vận dụng tri thức của Giáo dục học, Xã hội học, Nhân học và Kinh tế - chính trị học để đánh giá tác động đa chiều của thể chế thực dân.
- Phương pháp thống kê, hệ thống hóa: Thống kê và hệ thống hóa văn bản pháp quy, số lượng trường học, các kỳ thi khoa cử Hán học và Pháp – Việt.
Nguồn tư liệu nghiên cứu
- Nguồn tư liệu lưu trữ: Khai thác tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I (Hà Nội), Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II (TP. Hồ Chí Minh), Thư viện Quốc gia Việt Nam, Thư viện Trường ĐH KHXH&NV – ĐHQG TP.HCM, Thư viện Khoa học Xã hội, Thư viện Tổng hợp TP.HCM.
- Khối văn bản pháp quy gốc: Các sắc lệnh, nghị định, quyết định, quy chế giáo dục do Toàn quyền Đông Dương và Thống đốc Nam Kỳ ban hành (tư liệu tiếng Pháp và Quốc ngữ).
- Tài liệu thư tịch cổ và sách chuyên khảo: Đại Nam thực lục, các sách nghiên cứu lịch sử, văn hóa, giáo dục của các tác giả người Pháp và người Việt công bố qua các thời kỳ.
Nội dung chính theo từng chương
Cấu trúc chương mục của luận án
Nội dung chính của luận án được triển khai qua 4 chương, phản ánh tiến trình từ cơ sở lý luận/thực tiễn, đối chiếu nền tảng truyền thống, phân tích thực trạng biến đổi đến tổng kết quy luật và bài học:
| Chương |
Tên chương |
Nội dung trọng tâm |
| Chương 1 |
Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn |
Hệ thống hóa khái niệm, lý thuyết tiếp xúc văn hóa và triết lý giáo dục; phân tích không gian, thời gian, chủ thể Nam Kỳ, bối cảnh biến đổi kinh tế - xã hội và quá trình xác lập hệ thống giáo dục Pháp. |
| Chương 2 |
Văn hóa giáo dục triều Nguyễn ở Nam Kỳ trước khi thực dân Pháp xâm lược |
Khảo cứu văn hóa giáo dục Nho giáo tại Nam Kỳ trên 3 phương diện: nhận thức (triết lý, mục đích học, người thầy, người học, phương pháp), tổ chức - quản lý (trường ốc, quản lý, thi cử) và ứng xử. |
| Chương 3 |
Biến đổi văn hóa giáo dục Việt – Pháp ở Nam Kỳ khi tiếp xúc giáo dục Pháp |
Phân tích thực trạng biến đổi văn hóa giáo dục theo 3 trục: nhận thức (triết lý mới, vai trò trí thức), tổ chức - quản lý (mô hình trường lớp, thi cử mới) và ứng xử sư phạm thời thuộc Pháp. |
| Chương 4 |
Đặc điểm và luận bàn về tiếp xúc văn hóa giáo dục Việt - Pháp ở Nam Kỳ |
Khái quát các đặc trưng cốt lõi; đánh giá hệ quả tích cực và mặt hạn chế của giáo dục Pháp – Việt; rút ra các bài học kinh nghiệm cho giáo dục Việt Nam đương đại. |
Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn
Chương 1 xây dựng khung khái niệm nền tảng về tiếp xúc văn hóa, tiếp biến văn hóa, chuyển giao và khúc xạ văn hóa; phân tích chi tiết lý thuyết giao thoa văn hóa của Itamar Even-Zohar và cấu trúc triết lý giáo dục của Trần Ngọc Thêm.
Về cơ sở thực tiễn, tác giả phân tích không gian văn hóa Nam Kỳ qua các biến chuyển địa giới hành chính: từ phủ Gia Định (1698), Gia Định Thành (1808), Nam Kỳ lục tỉnh (1832/1834) đến việc chính quyền Pháp chia Nam Kỳ thành 4 khu vực hành chính (1876) gồm Sài Gòn, Mỹ Tho, Vĩnh Long, Bassac và sau đó thành 20 tỉnh (1899). Về thời gian văn hóa, chương này làm rõ mốc khởi điểm từ sự kiện xâm lược Đà Nẵng (1858), chiếm Gia Định (1859), ký Điều ước Nhâm Tuất (1862) chiếm ba tỉnh miền Đông, và chiếm ba tỉnh miền Tây (1867) đến năm 1945. Chủ thể văn hóa Nam Kỳ được định hình qua tính chất năng động của cư dân vùng đất mới. Quá trình xác lập hệ thống giáo dục Pháp khởi đầu bằng việc thành lập Trường Thông ngôn Bá Đa Lộc (Évêque d'Adran) năm 1861 và từng bước mở rộng nhằm thay thế nền giáo dục Hán học.
Chương 2: Văn hóa giáo dục triều Nguyễn ở Nam Kỳ trước khi thực dân Pháp xâm lược
Chương 2 tập trung khảo sát diện mạo văn hóa giáo dục truyền thống tại Nam Kỳ dưới thời Nguyễn thông qua 3 bình diện:
- Văn hóa nhận thức: Triết lý giáo dục Nho giáo hướng đến mục tiêu duy trì trật tự xã hội quân chủ, đào tạo mẫu người thừa hành ("tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ"). Mục đích việc học chủ yếu để thi đỗ làm quan ("học nhi ưu tắc sĩ"). Nhận thức về người thầy mang tính tuyệt đối hóa vị thế ("quân - sư - phụ"); người học giữ vị thế thụ động, coi trọng học thuộc lòng, từ chương. Phương pháp dạy và học chủ yếu là truyền thụ một chiều, thiếu tính thực nghiệm và coi nhẹ khoa học kỹ thuật.
- Văn hóa tổ chức và quản lý: Hệ thống trường học gồm trường công (trường phủ, huyện, tỉnh) do các quan Đốc học, Giáo thụ, Huấn đạo quản lý và trường tư của các thầy đồ. Hệ thống thi cử tổ chức chặt chẽ qua thi Hương, thi Hội, thi Đình. Luận án trích dẫn số liệu lịch sử: từ khoa thi Tam trường đầu tiên tại Gia Định năm 1783, thi Hương năm 1812 đến kỳ thi cuối cùng năm 1864, Nam Kỳ chỉ đào tạo được khoảng 235 cử nhân Hán học và 6 tiến sĩ do đặc thù vùng đất mới khai hoang.
- Văn hóa ứng xử: Xây dựng trên nền tảng luân lý Nho giáo nghiêm ngặt giữa nhà trường với phụ huynh; quan hệ thầy - trò đề cao đạo tôn sư trọng đạo; quan hệ đồng môn gắn kết theo nghĩa tình huynh đệ.
Chương 3: Biến đổi văn hóa giáo dục Việt – Pháp ở Nam Kỳ khi tiếp xúc giáo dục Pháp
Chương 3 là phần trọng tâm phân tích sự chuyển dịch toàn diện của văn hóa giáo dục Nam Kỳ dưới tác động của giáo dục thực dân Pháp:
- Biến đổi văn hóa nhận thức: Triết lý giáo dục chuyển dịch từ đào tạo mẫu người quân tử Nho giáo sang đào tạo công chức, chuyên viên phục vụ bộ máy hành chính thuộc địa. Tuy nhiên, việc tiếp xúc với tư tưởng Khai sáng Pháp (tự do, bình đẳng, bác ái) đã làm biến đổi nhận thức của người học. Tư duy từ chương dần bị thay thế bởi tư duy phân tích khoa học, coi trọng thực nghiệm. Tầng lớp trí thức Tây học mới hình thành (tiêu biểu như Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, các sĩ phu phong trào Duy Tân...) đã sử dụng tri thức phương Tây để phản biện xã hội và thúc đẩy canh tân.
- Biến đổi văn hóa tổ chức và quản lý: Xóa bỏ hoàn toàn hệ thống trường Nho học, xác lập hệ thống giáo dục Pháp – Việt theo các bậc: ấu học, tiểu học, cao đẳng tiểu học và trung học cùng hệ thống trường dạy nghề (trường Bá Nghệ, trường Mỹ nghệ...). Quản lý giáo dục chuyển sang hệ thống hành chính tập quyền do Nha Học chính Đông Dương và Sở Học chính Nam Kỳ điều hành theo các văn bản quy phạm pháp luật chặt chẽ. Hệ thống thi cử chuyển từ chữ Hán sang chữ Quốc ngữ và chữ Pháp (thi lấy bằng Tiểu học yếu lược, Sơ học bản xứ, Thành chung, Tú tài bản xứ/Pháp). Lớp học được tổ chức theo niên chế, phân chia độ tuổi, cơ sở vật chất (bàn ghế, bảng đen, phấn trắng, phòng thí nghiệm) được chuẩn hóa.
- Biến đổi văn hóa ứng xử: Quan hệ ứng xử trong nhà trường chuyển dịch từ tôn ti phong kiến sang quan hệ hành chính - học thuật mang tính dân chủ hơn. Vị thế người thầy chuyển từ "khuôn vàng thước ngọc" truyền thống sang vị trí viên chức nhà nước có hợp đồng lao động và chế độ lương bổng. Vấn đề bình đẳng giới lần đầu tiên xuất hiện với sự ra đời của các trường nữ sinh (như trường Nữ trung học Áo Tím - Gia Long). Mối quan hệ giữa giáo viên và học sinh, giữa học sinh với học sinh xuất hiện tinh thần bình đẳng, tranh biện học thuật và ý thức cộng đồng xã hội mới.
Chương 4: Đặc điểm và luận bàn về tiếp xúc văn hóa giáo dục Việt - Pháp ở Nam Kỳ
Chương 4 đúc kết các vấn đề lý luận và thực tiễn qua tiến trình tiếp xúc:
- Đặc điểm của nền văn hóa giáo dục Pháp – Việt ở Nam Kỳ: Mang tính chất thực dân - thuộc địa rõ nét (phục vụ cai trị); là "phòng thí nghiệm" giáo dục công lập kiểu Pháp đầu tiên của toàn xứ Đông Dương; mang tính nhị nguyên (kết hợp yếu tố Pháp ngữ và chương trình bản xứ hóa); thúc đẩy sự phổ biến của chữ Quốc ngữ thành văn tự quốc gia.
- Những hệ quả tích cực: Đặt nền tảng cho sự ra đời của hệ thống giáo dục hiện đại tại Nam Kỳ; đưa các môn khoa học tự nhiên, khoa học xã hội phương Tây và kỹ thuật thực hành vào trường học; giải phóng tư duy giáo điều Nho giáo; thúc đẩy sự hình thành tầng lớp trí thức mới có tinh thần dân tộc; tạo điều kiện cho phụ nữ tiếp cận học vấn.
- Những mặt hạn chế: Tính chất thực dân nô dịch nhằm kìm hãm dân trí và phục vụ bóc lột thuộc địa; cơ cấu đào tạo què quặt (chỉ dừng lại ở bậc phổ thông và dạy nghề, không mở trường đại học tại Nam Kỳ); quy mô giáo dục hẹp, tỷ lệ thất học trong quần chúng lao động và phụ nữ nông thôn vẫn chiếm đa số; gây ra sự đứt gãy một bộ phận giá trị văn hóa truyền thống và hiện tượng sùng bái văn hóa ngoại lai ở một bộ phận thị dân.
- Những bài học kinh nghiệm cho giáo dục Việt Nam hiện nay: Bài học về việc kết hợp hài hòa giữa tiếp thu tinh hoa khoa học, phương pháp giáo dục hiện đại của thế giới với việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc; bài học về đổi mới triết lý giáo dục gắn với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội; bài học về quản lý trường học hiện đại, phát triển giáo dục nghề nghiệp và chuẩn hóa đội ngũ nhà giáo.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Luận án đã bổ sung và hoàn thiện khung phân tích chuyên ngành Văn hóa học vào nghiên cứu tiếp xúc và biến đổi giáo dục thông qua cấu trúc 3 thành tố: Văn hóa nhận thức – Văn hóa tổ chức/quản lý – Văn hóa ứng xử.
- Vận dụng hiệu quả lý thuyết tiếp xúc và giao thoa văn hóa (Itamar Even-Zohar), lý thuyết triết lý giáo dục và hệ thống văn hóa (Trần Ngọc Thêm) để làm rõ cơ chế chuyển giao văn hóa, quá trình tái ngữ nghĩa hóa và hiện tượng khúc xạ văn hóa trong môi trường giáo dục thuộc địa.
- Luận giải một cách có cơ sở khoa học về nghịch lý lịch sử: dù chính quyền thực dân áp đặt nền giáo dục nhằm đào tạo công cụ thống trị, nền tảng văn hóa nội sinh của dân tộc đã chọn lọc, thâu hóa và chuyển hóa các giá trị tiến bộ phương Tây thành công cụ nhận thức và vũ khí giải phóng dân tộc.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Phục dựng một cách hệ thống, khách quan toàn bộ tiến trình lịch sử và diện mạo tiếp xúc văn hóa giáo dục Việt – Pháp tại địa bàn Nam Kỳ từ năm 1858 đến năm 1945.
- Khai thác và hệ thống hóa khối tư liệu lưu trữ pháp quy gốc tiếng Pháp và tư liệu lịch sử liên quan đến các mô hình trường học phổ thông, trường dạy nghề, chế độ thi cử và đời sống học đường ở Nam Kỳ.
- Rút ra các bài học kinh nghiệm có giá trị thực tiễn cho công cuộc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo tại Việt Nam hiện nay trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của luận án:
- Phạm vi khảo sát về cấp bậc học bị giới hạn ở bậc phổ thông và dạy nghề, không bao quát bậc cao đẳng và đại học do tính đặc thù của chính sách thuộc địa tại Nam Kỳ thời kỳ 1858 – 1945 (các trường đại học, cao đẳng thời kỳ này chủ yếu đặt tại Bắc Kỳ).
- Luận án chủ yếu tập trung nghiên cứu chiều tác động và biến đổi văn hóa giáo dục từ Pháp vào Nam Kỳ cùng sự tiếp nhận của người bản xứ, chưa đi sâu khảo sát chiều tác động phản hồi ngược lại của các yếu tố văn hóa giáo dục Việt Nam đối với nền văn hóa Pháp.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Mở rộng nghiên cứu so sánh đối chiếu giữa mô hình văn hóa giáo dục Pháp – Việt ở Nam Kỳ với Bắc Kỳ và Trung Kỳ để làm rõ tính đặc thù vùng miền.
- Nghiên cứu sâu hơn về sự chuyển giao văn hóa hai chiều Việt – Pháp trong các lĩnh vực học thuật, xuất bản sách báo và đào tạo sau năm 1945.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo hữu ích cho:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên và giảng viên thuộc các chuyên ngành Văn hóa học, Lịch sử Việt Nam, Lịch sử Giáo dục, Xã hội học văn hóa khi tiếp cận phương pháp nghiên cứu liên ngành về tiếp biến văn hóa và triết lý giáo dục.
- Các nhà nghiên cứu lịch sử Nam Bộ quan tâm đến đời sống học đường, lịch sử chữ Quốc ngữ, báo chí và sự hình thành tầng lớp trí thức đầu thế kỷ XX tại Sài Gòn và các tỉnh Nam Kỳ.
- Các nhà quản lý, hoạch định chính sách giáo dục đương đại trong việc tham khảo các bài học lịch sử về quản lý trường ốc, cải cách chương trình, xây dựng triết lý giáo dục hiện đại gắn liền với bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án sử dụng những khung lý thuyết chủ đạo nào để phân tích tiếp xúc văn hóa giáo dục?
Luận án vận dụng hai lý thuyết nền tảng: Lý thuyết tiếp xúc và giao thoa văn hóa của Itamar Even-Zohar (luận giải cơ chế tiếp xúc trực tiếp/gián tiếp, sự chuyển giao tài sản văn hóa và quá trình tái ngữ nghĩa hóa) kết hợp với Lý thuyết triết lý giáo dục và hệ thống loại hình văn hóa của Trần Ngọc Thêm (phân tích văn hóa giáo dục qua mô hình cấu trúc 3 tầng 6 thành tố và 3 thành tố thực nghiệm: nhận thức, tổ chức/quản lý, ứng xử).
2. Tại sao luận án chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu ở giáo dục phổ thông và dạy nghề tại Nam Kỳ?
Trong chính sách cai trị thuộc địa của thực dân Pháp giai đoạn 1858 – 1945, Nam Kỳ được quy hoạch là xứ thuộc địa trực trị tập trung phát triển kinh tế nông nghiệp và thương mại, nên chính quyền Pháp chỉ thiết lập hệ thống trường tiểu học, trung học phổ thông và các trường dạy nghề (như trường Bá Nghệ, Thủ Dầu Một) nhằm đào tạo nhân viên thừa hành và thợ kỹ thuật; các cơ sở giáo dục bậc cao đẳng và đại học thời kỳ này chỉ được đặt tại Bắc Kỳ (Hà Nội).
3. Sự biến đổi văn hóa giáo dục ở Nam Kỳ được thể hiện qua các phương diện cốt lõi nào?
Sự biến đổi được phân tích qua 3 phương diện: (1) Văn hóa nhận thức (triết lý giáo dục chuyển từ Nho học sang thực nghiệm khoa học, xuất hiện nhận thức về bình đẳng giới và vai trò trí thức mới); (2) Văn hóa tổ chức và quản lý (thay đổi mô hình trường lớp theo niên chế, chuẩn hóa cơ sở vật chất, quản lý bằng hệ thống pháp quy và chuyển đổi thi cử sang chữ Quốc ngữ và chữ Pháp); (3) Văn hóa ứng xử (quan hệ nhà trường, thầy trò và đồng môn chuyển dịch từ tôn ti thứ bậc phong kiến sang quan hệ học thuật - hành chính mang tính dân chủ và bình đẳng hơn).
4. Nguồn tư liệu lưu trữ chính của luận án được khai thác từ những đâu?
Luận án khai thác khối tư liệu lưu trữ gốc (các nghị định, quyết định, quy chế giáo dục tiếng Pháp và chữ Quốc ngữ) tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I (Hà Nội), Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II (TP. Hồ Chí Minh), cùng hệ thống sách báo, tạp chí chuyên ngành tại Thư viện Quốc gia, Thư viện Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh và Thư viện Trường ĐH KHXH&NV – ĐHQG TP.HCM.
5. Vì sao giáo dục Pháp – Việt lập ra nhằm phục vụ cai trị nhưng lại đào tạo ra tầng lớp trí thức chống thực dân?
Do quy luật khúc xạ văn hóa và sức sống của nền văn hóa nội sinh dân tộc: khi tiếp thu tri thức khoa học, chữ Quốc ngữ và các tư tưởng Khai sáng phương Tây (tự do, bình đẳng, dân chủ) qua nhà trường Pháp – Việt, người học Việt Nam đã không tiếp nhận thụ động mà chủ động sử dụng chính các tri thức và phương pháp tư duy mới này làm vũ khí lý luận để phân tích hoàn cảnh xã hội thuộc địa, thức tỉnh tinh thần dân tộc và lãnh đạo phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Ngô Thị Minh Hằng là công trình nghiên cứu hệ thống, chuyên sâu về quá trình tiếp xúc và biến đổi văn hóa giáo dục tại Nam Kỳ thời kỳ 1858 – 1945 dưới lăng kính văn hóa học. Bằng việc vận dụng khung phân tích ba thành tố nhận thức, tổ chức và ứng xử, tác giả đã làm sáng tỏ cơ chế tiếp biến và khúc xạ văn hóa trong bối cảnh lịch sử thuộc địa phức tạp. Công trình khẳng định sức sống bền bỉ của bản sắc văn hóa dân tộc trong việc chủ động thâu hóa các yếu tố ngoại sinh tiến bộ để phục vụ cho sự phát triển của xã hội. Đồng thời, những phát hiện và đúc kết từ luận án mang lại nhiều bài học kinh nghiệm sâu sắc cho công cuộc đổi mới và hội nhập của giáo dục Việt Nam hiện nay.