Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VIỆC TIẾP CẬN THÔNG TIN VỀ CÁC DỊCH VỤ XÃ HỘI CƠ BẢN CỦA NGƯỜI DÂN Nghiên cứu tiếp cận thông tin về các dịch vụ xã hội cơ bản của người dân hiện nay có ý nghĩa quan trọng trong việc đảm bảo quyền của người dân về tiếp cận thông tin, tìm hiểu người dân có được đảm bảo tiếp cận đầy đủ các thông tin hay không, đồng thời lĩnh vực mà người dân tiếp cận thông tin là các dịch vụ xã hội cơ bản - đây là các dịch vụ đáp ứng nhu cầu cơ bản, tối thiểu nhất của con người nhằm đảm bảo cho họ được hưởng thụ, phát triển và ngăn ngừa rủi ro tạo nên sự ổn định và công bằng xã hội. Để làm rõ nội dung trên, trước hết cần tiến hành tổng quan các công trình nghiên cứu hiện có về tiếp cận thông tin và quyền tiếp cận thông tin trên thế giới và Việt Nam. Song song với nó tác giả cũng tìm hiểu các công trình nghiên cứu về tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. Trên cơ sở đó, sẽ giúp tác giả luận án kế thừa được những kết quả nghiên cứu và tìm ra những khoảng trống từ những nghiên cứu trước đó và tiếp tục thực hiện nghiên cứu chuyên sâu dưới góc độ chuyên ngành xã hội học để có những đóng góp mới cho ngành xã hội học nói riêng và khoa học nhân văn nói chung.
HƯỚNG NGHIÊN CỨU TÌM HIỂU VỀ TIẾP CẬN THÔNG TIN 1. Điểm luận các nghiên cứu về tiếp cận thông tin và quyền tiếp cận thông tin trên thế giới và Việt Nam Trong phần này tác giả tập trung tìm hiểu các bài viết, công trình nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam về quyền tiếp cận thông tin, vai trò của thông tin trong đời sống xã hội để khẳng định rằng tiếp cận thông tin là một quyền cơ bản, quan trọng không thể thiếu được của mỗi công dân. Quyền tiếp cận thông tin là một trong những hình thức, phương thức, phương tiện để nhân dân làm chủ đất nước, thật sự tham gia vào quản lý nhà nước và quản lý xã hội. Đó là yếu tố thúc đẩy sự phát triển, thịnh vượng của mỗi quốc gia.
18 Khái niệm quyền được thông tin xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1766 tại Thụy Điển trong Luật về Tự do báo chí [32]. Đạo luật này, một mặt, cho phép tự do ngôn luận “trừ trường hợp báng bổ và chỉ trích Nhà nước”, mặt khác, công nhận cho công dân có quyền được “tiếp cận tài liệu công” [32]. Đây là hai khía cạnh cơ bản, quan trọng nhất trong nội hàm của khái niệm quyền tiếp cận thông tin. Về mặt lịch sử lập pháp, có lẽ trong suốt gần hai thế kỷ sau khi các nhà lập pháp Thụy Điển cho ra đời khái niệm quyền được thông tin nói trên, chưa ghi nhận được văn bản pháp lý nào chứa đựng những quy phạm tiến bộ hơn và sâu sắc hơn khái niệm quyền được thông tin của Luật về Tự do báo chí của Thụy Điển.
Nghiên cứu của tác giả Matrix Chamber về “Luật liên minh Châu Âu và tự do thông tin” đã đề cập đến nhiều vấn đề về quyền tiếp cận thông tin ở Châu Âu một cách tổng quát nhất. Theo tác giả quyền tiếp cận thông tin là một quyền cơ bản của công dân và được liên minh Châu Âu công nhận: “bất cứ công dân nào là công dân của liên minh - bất kỳ cá nhân hoặc pháp nhân cư trú hoặc có trụ sở tại một nước thành viên của liên minh - có quyền tiếp cận với các tài liệu của các tổ chức của liên minh châu Âu”. Trong nghiên cứu tác giả chỉ ra sự khác nhau giữa tự do thông tin và bảo vệ sự riêng tư vì hai vấn đề này có liên quan đến nhau nhưng độc lập với nhau. Bài nghiên cứu cho chúng ta thấy được cái nhìn tổng quát nhất về pháp luật của Liên minh với quyền tự do thông tin, khái quát những điểm quan trọng cũng như cần thiết trong pháp luật liên minh Châu Âu [32].
Công trình: “Tự do thông tin - một khảo sát pháp lý so sánh” của Toby Mendel cũng đưa ra đánh giá của mình về quyền tự do thông tin trong pháp luật của một số quốc gia dưới góc nhìn luật so sánh. Một công trình không thể thiếu của tác giả Mukhatar Ahmad Ali: “Tự do thông tin ở Nam Á- đánh giá so sánh về các sáng kiến xã hội dân sự”, đã tập trung phân tích bối cảnh xã hội ở các quốc gia Nam Á, với việc đề cập đến những điều kiện thuận lợi cho sự ra đời của Luật về tự do thông tin như: ảnh hưởng của làn sóng dân chủ tràn qua khu vực này vào giữa thập niên 80 của thế kỷ trước, sự tác động ngày càng mạnh mẽ của công nghệ thông tin, kinh tế và 19 nhận thức của công dân. Như vậy, với công trình nghiên cứu này tác giả đã đề cập đến dưới góc độ giới hạn quyền tự do thông tin ở một số quốc gia Nam Á để từ đó đi đến kết luận rằng khả năng mở rộng quyền tiếp cận thông tin ở khu vực này còn bị hạn chế bởi sự viện cớ yếu tố văn hóa hoặc bí mật quốc gia [33]. Theo tác giả David Sandukhchyan - Giám đốc Trung âm Armenia Intrernews về Luật thông tin và chính sách, OSCE/ODIHR với công trình: “Tiếp cận thông tin và bảo vệ dữ liệu” đã cho rằng, quyền tự do thông tin là quyền tự do tìm kiếm và tiếp nhận thông tin.
Tác giả cũng đề cập đến đặc điểm cơ bản của quyền tự do thông tin: quyền tự do thông tin là một trong bốn đạo luật cơ bản của Hiến pháp Thụy Điển. Bên cạnh đó, tác giả còn đề cập đến nhiều vấn đề khác của pháp luật liên quan đến tự do thông tin như: thủ tục tiếp cận thông tin, trường hợp ngoại lệ mà công dân không được phép truy cập các tài liệu này hoặc nếu có phải được sự đồng ý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền [81]. Công trình: “Luật tự do thông tin Pakistan 2008 - Phân tích sơ bộ và khuyến nghị” của Nhóm tác giả Ms. Maja Daruwala, Venkatesh Nayak và Jame Ferguson (các tác giả làm việc tại Trung tâm sáng kiến nhân quyền Liên bang thuộc Ủy ban nhân quyền Pakistan - CHRI/HRCP).
Nhóm tác giả đã phân tích các thuật ngữ pháp lý được sử dụng trong Luật tự do thông tin của nước này. Còn khái niệm về thông tin - tức là những thông tin được tiếp cận thì vô cùng hạn chế. Các loại hồ sơ công dưới sự kiểm soát của chính quyền theo quy định của luật này cũng bị hạn chế nhiều so với quy định tuyên bố của chính quyền liên bang và cả chính quyền tỉnh. Các tác giả cũng đánh giá rằng, việc các cơ quan công quyền cung cấp thông tin mà không được đòi hỏi lý do từ phía người yêu cầu là điều cần thiết, tuy nhiên lại chưa được ghi nhận [32].
Bên cạnh đó, công trình: “Quyền tự do thông tin và quyền phụ nữ ở Châu Phi” được thực hiện bởi Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) phối hợp với mạng truyền thông và phát triển phụ nữ Châu Phi (FEMNET) do tác giả Carlyn Hambuba biên soạn. Mặc dù nghiên cứu được thực hiện thiên về góc độ quyền của phụ nữ ở Châu Phi, nhưng trong đó đã tiếp cận thông qua những tác động của quyền tự do thông tin đối với việc nâng cao bảo 20 đảm các quyền của phụ nữ. Do vậy, nghiên cứu này có những đánh giá tổng quát về pháp luật bảo đảm quyền tự do thông tin ở nhiều quốc gia trong khu vực [33]. Nghiên cứu mang tên: “Đạo luật tự do thông tin đầu tiên trên thế giới - sự kế thừa của Anders Chydenius ngày nay” của Thomas S.Blanton đề cập đến sự phát triển thành công của đạo luật tự do thông tin ở Châu Âu cũng như Châu Mỹ sau hơn 240 năm kể từ khi đạo luật đầu tiên về tự do thông tin ra đời.
Nói đến sự phát triển của đạo luật tự do thông tin trong cái nhìn lâu dài của lịch sử cũng như xu hướng phát triển mạnh mẽ của nó tác giả viết: “tự do thông tin là kết quả tự nhiên của một quá trình dài hàng thế kỷ nhằm hợp lý hóa chính phủ, hệ thống quan liêu, hay nói một cách khác nó tạo ra sự đối trọng của các cơ quan hành chính nhà nước”. Cũng theo nghiên cứu của mình, tác giả đã đưa ra năm nguyên tắc của tự do thông tin đã được công nhận bởi cộng đồng quốc tế lúc bấy giờ như: nhà nước không sở hữu thông tin, bất kỳ ngoại lệ nào cũng phải được thu thập hết mức có thể, luật phải thể hiện bằng văn bản và không thay đổi theo chính quyền; các cơ quan như thanh tra, tòa án…độc lập với các cơ quan hành chính trong việc giữ thông tin, sẽ chịu trách nhiệm giải quyết các tranh chấp trong lĩnh vực thông tin [33, tr. Những nghiên cứu trên chủ yếu đề cập đến việc ban hành luật tiếp cận thông tin và hầu hết tất cả các quốc gia trên thế giới đều coi đó là một luật cơ bản và quan trọng, thậm chí là quy định mang tính chất của Hiến pháp. Như vậy, tiếp cận thông tin là một trong những quyền quan trọng, cơ bản nhất của con người được hầu hết các quốc gia trên thế giới quan tâm và ban hành thành luật.
Chính vì vậy, Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế chung của sự phát triển nhân loại. Luật tiếp cận thông tin ở Việt Nam chính thức có hiệu lực từ tháng 7/2018. Để thực hiện quyền này, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản, quy phạm pháp luật về thực hiện quyền được thông tin và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc cung cấp thông tin do cơ quan nhà nước tạo ra và nắm giữ.