MỞ ĐẦU I. Tính cấp thiết và lý do chọn đề tài II. Mục tiêu nghiên cứu III. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài IV.
Ý nghĩa khoa học V. Ý nghĩa trong thực tiễn 1.2: PHẦN 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU I.3: PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU I. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu II. Nội dung nghiên cứu III.
Phương pháp nghiên cứu IV. Địa điểm và thời gian tiến hành V. Các chỉ tiêu dùng trong phân tích m 4 1.4: PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN I. Đặc điểm điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội của của địa bàn nghiên cứu II.
Thực trạng kinh doanh du lịch của các hộ điều tra 1.5: PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ I. Kết luận II. Giải pháp tăng cường tiếp cận các dịch vụ ngân hàng trong phát triển du lịch cộng đồng tại địa bàn nghiên cứu m 5 PHẦN 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Du lịch cộng đồng Định nghĩa: Du lịch cộng đồng là loại hình du lịch được phát triến trên cơ sở các giá trị văn hóa của cộng đồng, do cộng đồng dân cư quản lý, tổ chức khác thác và hưởng lợi “Theo khoản 15 điều 3 luật du lịch 2017 (có hiệu lục từ ngày 01/01/2018)”.
“Du lịch cộng đồng là loại hình du lịch được phát triển trên cơ sở các giá trị văn hóa của cộng đồng, do cộng đồng dân cư quản lý, tổ chức khai thác và hưởng lợi.” Du lịch cộng đồng được coi là loại hình du lịch mang lại nhiều lợi ích phát triển kinh tế bền vững của cộng đồng dân tộc thiểu số ở Việt Nam (Lê & cộng sự, 2016). Theo nhà nghiên cứu Nicole Hausle và Wollfgang Strasdas (2009): “Du lịch sinh thái cộng đồng là một hình thái du lịch trong đó chủ yếu là người dân địa phương đứng ra phát triển và quản lý. Lợi ích kinh tế có được từ du lịch sẽ đọng lại nền kinh tế địa phương”. Theo tổ chức Respondsible Ecological Social Tours (1997) thì du lịch sinh thái cộng đồng là “phương thức tổ chức du lịch đề cao về môi trường, văn hóa xã hội.
Du lịch sinh thái cộng đồng do cộng đồng sở hữu và quản lý, vì cộng đồng và cho phép khách du lịch nâng cao nhận thức và học hỏi về cộng đồng, về cuộc sống đời thường của họ.” Tóm lại: Du lịch cộng đồng là loại hình du lịch do cộng dồng tổ chức, dựa vào thiên nhiên và văn hóa địa phương với mục tiêu là bảo vệ môi trường. Du lịch cộng đồng đề cao quyền làm chủ, chú ý phân bổ lợi ích rộng rãi và nâng cao chất lượng cuộc sống cho cộng đồng. Với khách du lịch, m 6 DLCĐ tạo cơ hội tìm hiểu, nâng cao nhận thức về môi trường và giao lưu văn hóa, trải nghiệm cuộc sống hàng ngày của cộng đồng. Các hình thức du lịch cộng đồng: + Du lịch sinh thái: du lịch sinh thái là một hình thức du lịch diễn ra trong khu vực tự nhiên (đặc biệt là trong khu vực cần được bảo vệ và môi trường xung quanh nó) kết hợp tìm hiểu bản sắc văn hóa - xã hội của địa phương có sự quan tâm đến vấn đề môi trường.
Nó thúc đẩy một hệ sinh thái bền vững thông qua một quá trình quản lý môi trường có sự tham gia của tất cả các bên liên quan… + Du lịch văn hóa: là một trong những thành phần quan trọng nhất của du lịch dựa vào cộng đồng từ khi văn hóa, lịch sử, khảo cổ học, là yếu tố thu hút khách chủ yếu của cộng đồng địa phương. Ví dụ về du lịch dựa vào văn hóa bao gồm khám phá các di tích khảo cổ học, địa điểm tôn giáo nổi tiếng hay trải nghiệm cuộc sống địa phương tại một ngôi làng dân tộc thiểu số. + Du lịch nông nghiệp: đây là một hình thức du lịch tại các khu vực nông nghiệp như vườn cây ăn trái, trang trại nông lâm kết hợp, trang trại thảo dược và các trang trại động vật, đã được chuẩn bị phục vụ cho khách du lịch. Khách du lịch xem hoặc tham gia vào thực tiễn sản xuất nông nghiệp như làm việc với công cụ của nhà nông hoặc thu hoạch mùa mà không ảnh hưởng đến hệ sinh thái hoặc năng suất của gia đình chủ nhà.
Một sản phẩm mới đặc biệt là nghỉ ngơi ở các trang trại hữu cơ, nơi du khách có thể tìm hiểu thêm về thiên nhiên và học tập các phương pháp canh tác không dùng thuốc trừ sâu… + Du lịch bản địa: du lịch bản địa/ dân tộc đề cập đến một loại du lịch, nơi đồng bào dân tộc thiểu số hoặc người dân bản địa tham gia trực tiếp vào hoạt động du lịch, nền văn hóa vốn có của họ chính là yếu tố thu hút khách du lịch. m 7 + Du lịch làng: khách du lịch chia sẻ các hoạt động trong cuộc sống thôn bản và các làng nông thôn thu được lợi ích kinh tế từ các hoạt động du lịch. Dân làng cung cấp các dịch vụ như: ăn ở, nhà trọ cho khách nghỉ ngơi qua đêm. Nhà trọ chính là các điểm kinh doanh, trong đó du khách ở lại du lịch qua đêm trong những ngôi nhà làng, cùng với một gia đình.
Khách du lịch có thể chọn nhà nghỉ, các nhà nghỉ này được hoạt động bởi một hợp tác xã, làng, hoặc các nhân, cung cấp cho du khách không gian riêng tư hơn, thoải mái cho cả họ và đôi khi cũng là thoải mái hơn cho chủ nhà. + Nghệ thuật và thủ công mỹ nghệ: nghệ thuật và sản xuất thủ công mỹ nghệ ở địa phương có một lịch sử lâu dài. Nó không phải là một hình thức độc lập của du lịch, mà chính là một thành phần của các loại hình khác nhau của du lịch. Du lịch không chỉ mang lại cơ hội kinh doanh tốt hơn cho ngành công nghiệp thủ công mỹ nghệ của khu vực, doanh số bán hàng của hàng thủ công mỹ nghệ có thể giúp người dân địa phương để tìm hiểu thêm về di sản văn hóa và nghệ thuật phong phú, độc đáo của họ.
Vai trò của du lịch cộng đồng: trong số các mô hình thì du lịch cộng đồng là mô hình có sự kết hợp vai trò của cộng đồng dân cư có ý nghĩa rất lớn như: - Giải quyết việc làm cho dân tại địa phương: thông qua các hoạt động cụ thể tại các điểm du lịch. Doanh nghiệp cùng với chính quyền địa phương và ngành chức năng giúp cho cộng đồng hiểu được lợi ích từ làm du lịch để họ đồng lòng ủng hộ. Từ đó giải quyết việc làm cho dân địa phương. - Du lịch cộng đồng bảo vệ và thúc đẩy di sản tự nhiên và văn hóa, góp phần phục hồi phát triển các giá trị văn hóa, truyền thống, cải tạo, bảo vệ tài nguyên thiên và môi trường.
Du lịch cộng đồng tạo ra các cơ hội để giao lưu văn hóa và kinh tế Việt Nam với các nước khác. Đây là yếu tố quan trọng bảo m 8 tồn và phát huy các giá trị văn hóa, truyền thống và là cơ hội phát triển kinh tế của các vùng khó khăn… - Du lịch cộng đồng thúc đẩy sự công bằng trong phát triển du lịch với việc mang lại cho toàn bộ cộng đồng những lợi ích từ việc cung cấp các dịch vụ du lịch và cơ sở hạ tầng, bất kể họ có tham gia tích cực vào du lịch hay không, nghĩa là hệ thống các cơ sở hạ tầng được cải thiện tốt hơn, điều kiện tiếp cận tốt hơn như: khả năng tiếp cận các nguồn nước sạch, viễn thông vv. - Du lịch bền vững- Xóa đói giảm nghèo. - Du lịch cộng đồng góp phần nâng cao thu nhập cho cộng đồng địa phương, đặc biệt ở các vùng sâu vùng xa nơi nghèo đói.
Điều này cực kỳ quan trọng vì nó làm giảm áp lực của con người lên các nguồn lực tự nhiên và cảnh quan tự địa phương. Các yếu tố ảnh hưởng đến du lịch cộng đồng: Hiện nay tại Việt Nam tỷ lệ hộ nghèo vẫn còn gia tăng ở các vùng phía bắc đặc biệt là tây bắc. Cơ cấu kinh tế vùng DTTS, MN và vùng KT-XH ĐBKK chủ yếu vẫn là nông, lâm nghiệp (tỷ trọng nông, lâm nghiệp chiếm trên 50%), cơ sở hạ tầng kỹ thuật còn thấp kém, chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Đồng bào các DTTS được tiếp cận và hưởng thụ các dịch vụ xã hội cơ bản ở mức rất thấp so với bình quân chung cả nước: còn hơn 21% người DTTS trên 15 tuổi chưa đọc thông viết thạo tiếng Việt; khoảng 30% học sinh DTTS chưa được đi học đúng độ tuổi; Vùng DTTS chủ yếu là núi cao, biên giới, địa hình chia cắt, khí hậu khắc nghiệt, kết cấu hạ tầng kém nhất cả nước, xuất phát điểm rất thấp; biến đổi khí hậu, sự cố môi trường.
Về cơ sở hạ tâng thiết yếu: “Chính phủ đã có nhiều chương trình, chính sách, dự án đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng thiết yếu ở vùng đồng bào DTTS&MN như Chương trình MTQG giảm nghèo bền vững giai đoạn 2015 - 2020, Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới, Chương trình 135, m 9 Chương trình 30A, Quyết định số 714/QĐTTg ngày 14/6/2018 của Thủ tướng Chính phủ về điều chỉnh bổ sung cơ chế chính sách Chương trình xây dựng cụm, tuyến dân cư và nhà ở vùng ngập lũ đồng bằng sông Cửu Long… Trong giai đoạn 2016 - 2018, chỉ tính riêng Chương trình 135, Chính phủ đã đầu tư 9.106 công trình, duy tu, bảo dưỡng 3.295 công trình. Về tổng thể, hiện nay đã có 98,4 % xã có đường ô tô đến trung tâm; trên 98% hộ DTTS được sử dụng điện lưới quốc gia; 100% xã có trường lớp mầm non, trường tiểu học, trung học cơ sở; 99,3% xã có trạm y tế; trên 90% xã được phủ sóng phát thanh, truyền hình; 100% xã có hạ tầng viễn thông và được phủ sóng di động đáp ứng nhu cầu thông tin liên lạc của người dân. Tuy nhiên, nhu cầu về đầu tư xây dựng CSHT thiết yếu trên địa bàn vẫn còn rất lớn. Về giao thông: Theo báo cáo của các tỉnh vùng đồng bào DTTS&MN, 100% các tỉnh đều đã có đường đến trung tâm các huyện lỵ, chủ yếu là đường cấp V, cấp VI rải nhựa bán thâm nhập.
Còn 187 xã chưa có đường ô tô được cứng hóa đến trung tâm, nhiều tuyến đường tới trung tâm xã ở vùng đồng bào DTTS&MN đã xuống cấp nghiêm trọng, chỉ đi lại được vào mùa khô; mới có hơn 80 % thôn, bản có đường giao thông được cứng hóa đi đến trung tâm xã, còn 9.