Chương 1 Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX – nửa đầu thế kỷ XX và cuộc tiếp biến văn hóa Đông Tây 1. Những tiền đề của cuộc tiếp biến văn hóa Đông Tây ở Việt Nam đầu thế kỷ XX 1. Những tiền đề gián tiếp 1. Bối cảnh lịch sử phương Đông: * Trung Quốc: Cuối triều Mãn Thanh, xã hội phong kiến Trung Quốc bước vào giai đoạn khủng hoảng.
Triều đình nhà Thanh không đủ sức lực bảo vệ đất nước khi thực dân phương Tây xâm lược. Sự thâm nhập của chủ nghĩa thực dân đã tàn phá nền kinh tế Trung Quốc. Nhân dân Trung Quốc, nhất là nông dân, chịu mọi hậu quả nặng nề của chính sách nô dịch. Thế nhưng, lo sợ trước sức ép của đế quốc phương Tây và phong trào nổi dậy của quần chúng nông dân, chính quyền Mãn Thanh, thay vì bảo vệ đất nước, lại câu kết chặt chẽ với đế quốc nhằm bảo vệ ngai vàng và trấn áp làn sóng đấu tranh của quần chúng.
Trong khi đó, các nước đế quốc cũng tìm đủ mọi cách lợi dụng tình hình rối ren để mở rộng việc xâm nhập và chia cắt Trung Quốc. Điểm nổi bật trong thời kỳ cuối thế kỷ XIX ở Trung Quốc là sự hình thành và phát triển của các nhân tố kinh tế tư bản chủ nghĩa, tạo tiền đề vật chất cho những xu hướng tư tưởng mới mang tính chất tư sản ra đời và phát triển. Khang Hữu Vi và phong trào Duy Tân: Là linh hồn của phong trào Duy Tân cuối thế kỷ XIX, tháng 6 năm 1896, Khang Hữu Vi đưa thư đề nghị biến pháp. Được vua Quang Tự đồng tình, phong trào Duy Tân ngày càng có đà phát triển.
Để chuẩn bị lý luận, tư tưởng và tổ chức cho cuộc biến pháp, tháng 7/1896, Khang Hữu Vi ra báo Trung ngoại ký văn tuyên truyền tư tưởng Duy Tân. Tháng 8/1896, Khang Hữu Vi tổ chức 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Cường học hội. Ông cùng học trò Lương Khải Siêu đi diễn thuyết về Duy Tân ở khắp nơi trên đất Trung Hoa. Nội dung Cương lĩnh hoạt động của phong trào Duy Tân ở Trung Quốc cuối thế kỷ XIX gồm những điểm sau: Về kinh tế, chủ trương bảo hộ và khuyến khích công thương nghiệp, lập hội nông nghiệp, mua sách báo, máy móc và du nhập kỹ thuật của phương Tây.
Ngoài ra, phái Duy Tân đề nghị lập Cục thương vụ, xây dựng xưởng chế tạo máy và yêu cầu triều đình nhà Thanh cho thương nhân tự do lập công xưởng. Phái Duy Tân cũng kêu gọi khuyến khích phát minh khoa học kỹ thuật, chỉnh đốn, quản lý tài chính, xây dựng đường sắt, tiến hành khai mỏ, v. Về chính trị, các chủ soái của phong trào Duy Tân khuyến khích mọi tầng lớp nhân dân đăng đàn diễn thuyết về các vấn đề chính trị, kinh tế, xã hội; đồng thời cũng hô hào cách chức quan lại tham nhũng. Phái Duy Tân đề ra cơ sở xây dựng chế độ chính trị dựa trên nguyên tắc “Hán Mãn bất phân, quân dân cộng trị”.
Về quân sự, phái Duy Tân chủ trương xây dựng quân đội theo kiểu phương Tây. Về văn hóa giáo dục, chủ trương lập trường học, tổ chức học theo kiểu phương Tây, cải cách chế độ thi cử, mở nhà in sách báo, cử người đi học ở nước ngoài. Dưới ảnh hưởng của phái Duy Tân, năm 1898, vua Quang Tự đã liên tục ban hành một số pháp lệnh như mở trường học, làm đường sắt, cải cách chế độ quan lại, giảm biên chế các tổ chức hành chính. Tuy nhiên, lúc bấy giờ, giới quan lại thuộc phái thủ cựu vẫn nắm nhiều chức vụ trọng yếu ở trung ương và địa phương.
Vì thế, mặc dù mệnh lệnh của Quang Tự và phái Duy Tân ban ra rất nhiều, nhưng cấp dưới không nghe, không thực hiện. Bên cạnh đó, phái Bảo thủ ngày càng tiếm quyền. Kết quả, phái Duy Tân thất bại. Như vậy, có thể thấy, những nhà Duy Tân ở Trung Quốc nửa cuối thế kỷ XIX muốn thông qua con đường cải cách ôn hòa để cải tạo quan hệ sản xuất, mở đường cho sức sản xuất phát triển, chứ không đi theo con đường tiêu diệt tận gốc cơ sở kinh tế xã hội của chế độ phong kiến.
Mặt khác, phong trào Duy Tân chưa thu hút được đông đảo quần chúng nhân dân lao động, mà mới chỉ tập hợp được một bộ phận sĩ phu, quan lại, địa chủ, phú thương và tư sản dân tộc cấp 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Và cũng chính vì không dựa vào quần chúng lao động, trong khi cơ sở kinh tế tư bản tuy phát triển nhưng vẫn còn nhỏ bé, địa vị của giai cấp tư sản chưa lớn mạnh, nên phong trào Duy Tân đã thất bại. Tuy vậy, phong trào Duy Tân cuối thế kỷ XIX ở Trung Quốc vẫn là một phong trào yêu nước mang ý nghĩa tiến bộ. Những yêu cầu về độc lập dân tộc, phát triển chủ nghĩa tư bản, học tập kỹ thuật phương Tây, v.
mà phong trào Duy Tân đề ra là phù hợp với lợi ích dân tộc lúc bấy giờ. Hơn nữa, nhờ phong trào Duy Tân mà các học thuyết chính trị xã hội của giai cấp tư sản phương Tây và phổ biến khoa học tự nhiên được truyền bá rộng rãi Trung Quốc. Phái Duy Tân tuyên truyền tư tưởng dân chủ tư sản, phản đối chuyên chế phong kiến, giới thiệu tư tưởng tự do bình đẳng, yêu cầu giải phóng cá tính, chống đối luân lý và đạo đức phong kiến. Đây là những đòn giáng mạnh vào hệ tư tưởng phong kiến, mở đường cho các tư tưởng tư sản tiến bộ phát triển.
Chính vì những lý do đó, phong trào Duy Tân và các nhà hoạt động Duy Tân được đánh giá rất cao. ảnh hưởng của phong trào đã lan sang các nước láng giềng ở Đông Nam á, trong đó có Việt Nam. Đối với Việt Nam, cuộc vận động biến pháp Mậu Tuất đã tạo điều kiện khách quan thuận lợi cho phong trào Duy Tân đầu thế kỷ XX. Trên cơ sở biến đổi kinh tế xã hội Việt Nam, cộng với ảnh hưởng của cuộc vận động biến pháp từ ngoài vào, tư tưởng dân chủ tư sản bắt đầu xuất hiện trên vũ đài chính trị Việt Nam qua các tác phẩm của Lương Khải Siêu, Khang Hữu Vi, Rousseau, Montesquieu, v.
Một số sĩ phu yêu nước Việt Nam đã tiếp thu tư tưởng cải cách và trở thành những nhà tư tưởng Duy Tân đầu thế kỷ XX. Cách mạng Tân Hợi (1911): Cách mạng Tân Hợi mà người đứng đầu là lãnh tụ Tôn Trung Sơn là cuộc cách mạng tư sản do giai cấp tư sản Trung Quốc lãnh đạo, được đông đảo quần chúng tham gia. Xét về cương lĩnh, đường lối, sách lược đấu tranh cụ thể cũng như các biện pháp cải cách xã hội, thì cách mạng Tân Hợi khẳng định xu thế mới nhằm tiến tới xây dựng một đất nước Trung Hoa dân chủ, phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Mục tiêu chính của cách mạng Tân Hợi là đánh đổ triều đại Mãn Thanh, và trên thực tế, đã lật đổ được triều đại này.
Bên cạnh đó, những người làm cách mạng Tân Hợi muốn thông qua cách mạng để tiến hành các biện pháp dân chủ, ban bố dân quyền nhằm tạo điều kiện cho xã hội Trung Quốc tiến mạnh trên con đường tư bản chủ nghĩa. Thế nhưng, cách mạng chưa hề đụng đến vấn đề ruộng đất - một trong những vấn đề cơ bản của các cuộc cách mạng. Chính vì vậy, họ không động viên được đông đảo quần chúng nông dân tham gia để đẩy cách mạng đi lên, đánh lùi các thế lực phản động. Cũng do vậy, chế độ cộng hòa chưa được triển khai trên thực tế mà mới chỉ thành lập về hình thức.
Một nguyên nhân khác hạn chế thắng lợi của Cách mạng Tân Hợi, đó là đường lối cách mạng thiếu chính xác, lực lượng giai cấp tư sản dân tộc Trung Quốc, giai cấp lãnh đạo cuộc cách mạng còn yếu ớt. Mặt khác, Cách mạng Tân Hợi 1911 không giành được thắng lợi triệt để cũng vì hạt nhân lãnh đạo non yếu về đường lối và tổ chức nên nhanh chóng tan rã khi kẻ thù tấn công quyết liệt. Tuy vậy, Cách mạng Tân Hợi vẫn có ý nghĩa lịch sử vô cùng to lớn. Cách mạng Tân Hợi đã giúp lịch sử Trung Quốc kết thúc nền thống trị mấy nghìn năm của chế độ quân chủ phong kiến, làm cho tư tưởng cộng hòa dân chủ ăn sâu bắt rễ vào quần chúng.
Cách mạng Tân Hợi cũng tạo điều kiện cho tư tưởng dân chủ cách mạng xâm nhập và phát triển trên đất Trung Hoa. Và cho dù chế độ cộng hòa chưa trở thành hiện thực vững chãi, thì chế độ quân chủ phong kiến phản động cũng không thể lập lại hoàn toàn ở Trung Quốc. Đó là một thành công to lớn của Cách mạng Tân Hợi. Hơn nữa, trong quá trình đấu tranh, ý thức dân tộc, ý thức cách mạng cũng đã phát triển mạnh mẽ.
Phong trào cách mạng của quần chúng làm cho giai cấp thống trị phải có một số nhượng bộ nhất định. Cách mạng Tân Hợi và tư tưởng của Tôn Trung Sơn đã có ảnh hưởng nhất định đến nhiều nước Đông Nam á. Một số nhà yêu nước Việt Nam, Indonesia, Malaysia đầu thế kỷ XX cũng mang ít nhiều màu sắc của trào lưu đó. Cuộc vận động Ngũ Tứ (ngày 4/5/1919) đòi khoa học, dân chủ: Phong trào Ngũ Tứ đánh dấu một giai đoạn cách mạng mới ở Trung Quốc.
Ngày 4/5/1919, hơn 3000 học sinh, sinh viên Bắc Kinh tập hợp tại quảng 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trường Thiên An Môn phản đối chính sách ngoại giao bán nước của Chính phủ. Trung tâm của phong trào từ Bắc Kinh lan đến Thượng Hải, Nam Kinh, Hàng Châu, Thiên Tân, Đường Sơn, v., và trở thành phong trào yêu nước rộng rãi, tập hợp các tầng lớp công nhân, học sinh, thương nhân. Lực lượng đấu tranh rộng lớn của nhân dân Trung Quốc đã buộc Chính phủ phản động phải thả số học sinh bị bắt, cách chức ba quan chức bán nước Tào Nhữ Lâm, Chương Tông Đường, Lục Tông Dư. Từ sau ngày bãi chức ba quan chức này, yêu cầu cự tuyệt ký vào Hòa ước Versailles trở thành nội dung trung tâm của phong trào yêu nước Ngũ Tứ.
Hàng trăm đoàn thể của các tầng lớp nhân dân, với sự hậu thuẫn của hàng vạn quần chúng, cử đại biểu đến Phủ Tổng thống đưa đơn thỉnh nguyện. Ngày ký Hòa ước (28/6), công nhân Trung Quốc và lưu học sinh vây quanh trụ sở đoàn đại biểu Trung Quốc tại Paris, không cho họ đi ký. Dưới áp lực mạnh mẽ của nhân dân toàn quốc, đoàn đại biểu Trung Quốc từ chối ký Hòa ước Versailles.