CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG CỦA ĐỀ TÀI 1. Cơ sở lý luận về hội nhập 1. Khái niệm về hội nhập, hội nhập kinh tế, hội nhập kinh tế quốc tế Hiện nay, những cụm từ như “Hội nhập”, “Hội nhập quốc tế”, “Hội nhập kinh tế” hay rộng hơn nữa là “Hội nhập kinh tế quốc tế” được sử dụng ngày càng phổ biến.
Trên các phương tiện truyền thông đại chúng, các nguồn tư liệu chính thống của nhà nước, các diễn đàn, hội thảo trong nước và quốc tế, các cụm từ này được dẫn giải bằng nhiều cách, nhiều quan niệm, nhiều phạm trù và lý giải khác nhau do được tiếp cận dưới nhiều góc độ. Chúng tôi xin dẫn ra một số ví dụ để tiện đường tham khảo. * Thứ nhất về vấn đề hội nhập Theo các từ điển tiếng Anh thì thuật ngữ “Intergration” được dịch ra với rất nhiều nghĩa như “Hòa nhập”; “Hợp nhất”; “Liên kết”; “Nhất thể hóa” hay “Hội nhập”. Trong đó “Hội nhập” với nghĩa chung nhất là sự tham gia vào một tổ chức, một khu vực, một quá trình nào đó, mà ở đó “Hội nhập” vừa mang tính chủ động đi vào, chủ động đi theo, chủ động tham gia nhưng đồng thời cũng sẽ bị tác động, cuốn hút ngược lại bởi quá trình khu vực hóa và toàn cầu hóa.
Ở Việt Nam, thuật ngữ “Hội nhập” lần đầu tiên được sử dụng vào những năm 90 cùng với quá trình Việt Nam gia nhập vào tổ chức khu vực ASEAN, tham gia khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA). Điều này đã được thể hiện rõ trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII: “Xây dựng nền kinh tế mở hội nhập với khu vực và thế giới” [14, 84 - 85]. Và “Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, đảm bảo độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa” [15, 43]. Nguyên Phó thủ tướng Vũ Khoan thì cho rằng: “Hội nhập là gắn kết nền kinh tế nước mình với nền kinh tế khu vực và thế giới.
Tham gia vào sự phân công 20 lao động quốc tế, gia nhập các tổ chức kinh tế đa phương, chấp nhận tuân thủ những quy định chung được hình thành trong quá trình hợp tác và đấu tranh giữa các thành viên của tổ chức ấy (nhiều người gọi là luật chơi chung)” [82, 19 - 21]. * Thứ hai về vấn đề hội nhập kinh tế Trong Luận án Tiến sĩ với đề tài Hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam và Vai trò điệp báo chiến lược trong quá trình đó, tác giả Ma Đức Khải đã viết: “Hội nhập kinh tế là sự xóa bỏ sự khác biệt kinh tế giữa các nền kinh tế thuộc các quốc gia khác nhau. Hội nhập kinh tế khu vực hay còn gọi là chủ nghĩa khu vực để phân biệt với chủ nghĩa toàn cầu” [30, 10]. Hay lại có tác giả thì viết: “Hội nhập kinh tế là việc thiết lập những luật lệ và nguyên tắc vượt phạm vi một quốc gia để cải thiện thương mại kinh tế và sự hợp tác giữa các nước.
Ở một giác độ nào đó sự hội nhập kinh tế sẽ là kết quả trong một thị trường tự do toàn cầu trong đó tất cả các quốc gia có một đồng tiền chung và có thể xuất bất cứ hàng hóa nào mà họ muốn cho những nước khác. Ở khía cạnh đối nghịch, những quốc gia không có sự hội nhập kinh tế thì họ coi như là đã có đủ mọi thứ và không cần giao dịch thương mại với bất kỳ nước nào” [6, 97 - 98]. * Thứ ba về vấn đề hội nhập kinh tế quốc tế Thuật ngữ hội nhập kinh tế quốc tế (International Economic Intergration) xuất hiện vào những năm cuối thế kỷ XX và được hiểu với nhiều góc độ khác nhau như: “Liên kết kinh tế quốc tế hay hội nhập kinh tế quốc tế được sử dụng để chỉ cùng một nội dung với ý nghĩa là quá trình gắn kết nền kinh tế và thị trường của một quốc gia với nền kinh tế và thị trường thế giới và khu vực thông qua các biện pháp tự do hóa và mở cửa thị trường trên các cấp độ đơn phương, song phương và đa phương” [5, 55]. “Hội nhập kinh tế quốc tế thực chất quá trình từng bước xây dựng nền kinh tế mở, gắn kết với thị trường khu vực và thế giới nhằm phát huy các nguồn lực bên ngoài để phát triển” [74, 15].
21 Nguyễn Anh Tuấn và Nguyễn Văn Lịch trong Giáo trình Kinh tế đối ngoại Việt Nam thì nhận định rằng: “Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình trong đó hai hay nhiều chính phủ ký với nhau các hiệp định để tạo nên khuôn khổ pháp lý chung cho sự phối hợp và điều chỉnh quan hệ kinh tế giữa các nước. Mức độ hội nhập tuy có khác nhau, nhưng tất cả đều nhằm thuận lợi hóa và tự do hóa hoạt động kinh tế đối ngoại của mỗi nước, góp phần sử dụng các nguồn lực có hiệu quả hơn và nâng cao mức sống của người dân” [33, 323 - 324]. Còn tác giả Đoàn Phúc Thanh viết “Hội nhập kinh tế quốc tế là việc các nước đi tìm kiếm một số điều kiện nào đó mà họ có thể thống nhất được với nhau, kể cả dành cho nhau những ưu đãi, tạo những điều kiện công bằng, có đi có lại trong quan hệ hợp tác với nhau nhằm khai thác khả năng lẫn nhau phục vụ cho nhu cầu phát triển kinh tế của mình” [23, 21 - 31]. Một tác giả khác thì cho rằng “Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình chủ động hợp tác về kinh tế giữa các quốc gia hoặc song phương hoặc đa phương để hình thành các tổ chức kinh tế khư vực hay toàn cầu” [32, 75 - 91].
Trong cuốn Mối quan hệ giữa tự do hóa thương mại và bảo hộ mậu dịch trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam, Lê Quang Lân nhận định “Hội nhập kinh tế quốc tế là một quá trình chủ động của một quốc gia trong xu thế toàn cầu hóa, xóa bỏ sự khác biệt và ngăn cách giữa các nền kinh tế. Hội nhập kinh tế quốc tế thành công hay đạt hiệu quả không biểu hiện bằng mức độ cam kết mở cửa thị trường hay mức độ chặt chẽ của các thiết chế tham gia vào phân công lao động quốc tế và vị thế của quốc gia trong hệ thống sản xuất, thương mại toàn cầu” [27, 16 - 17]. Tác giả Nguyễn Thị Bích Hường thì bày tỏ quan điểm của mình về vấn đề “Hội nhập kinh quốc tế” trong cuốn Chuyển đổi cơ cấu ngành kinh tế ở Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế là “Hội nhập kinh tế quốc tế có các nội dung chủ yếu như: tự do hóa thương mại, đầu tư, dịch vụ: tự do lưu chuyển các luồng hàng hóa, công nghệ, lao động v. Những biểu hiện cụ thể của hội nhập 22 kinh tế là ở giá trị xuất khẩu của quốc gia, mức độ tự do hóa thương mại, đầu tư và dịch vụ: Tỷ lệ đóng góp của công ty quốc tế vào tăng trưởng kinh tế quốc gia v.
Trong đề tài Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế đến tư duy và đời sống kinh tế xã hội ở Việt Nam, các tác giả Tô Xuân Dân - Nguyễn Thành Công (chủ biên) đã đúc kết: “Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình liên kết kinh tế có mục tiêu, định hướng nhằm gắn kết nền kinh tế thị trường của từng nước vào nền kinh tế khu vực và thế giới” [62, 15]. Còn Nguyễn Xuân Thắng thì đưa ra nhận định của mình trong cuốn Khu vực mậu dịch tự do ASEAN và tiến trình hội nhập của Việt Nam như sau: “Hội nhập kinh tế quốc tế là tiến trình nhất thể hóa nền kinh tế thế giới, tức là xóa bỏ những khác biệt và sự phân biệt về kinh tế giữa các quốc gia và khu vực” [54, 47 - 53]. Khái quát qua một số khái niệm trên có thể nhận ra rằng, nhận thức về “Hội nhập” vẫn là vấn đề nóng bỏng, mang tính thời sự vì có nhiều quan điểm coi hội nhập kinh tế quốc tế là sự tham gia của các tổ chức quốc tế và khu vực trên phương diện trao đổi buôn bán, thương mại. Và cũng có quan điểm coi hội nhập kinh tế quốc tế là sự mở cửa, tham gia vào mọi mặt của đời sống quốc tế từ phân công lao động, hợp tác nghiên cứu, phát minh sản xuất, mở rộng không gian cho đến môi trường thương mại, đầu tư.
Song tùy theo cách tiếp cận người ta sẽ đưa các nhận định khác nhau nhưng nhìn chung, trong điều kiện ngày nay, theo thiển ý của người viết thì: Hội nhập kinh tế quốc tế chính là sự gắn kết sâu rộng bằng những chính sách tự do hóa kinh tế thông thoáng nhất trên tất cả các lĩnh vực như thương mại, đầu tư, dịch vụ, công nghệ, lao động, vốn., của tất các nước trong khu vực và trên thế giới vì mục tiêu hòa bình, ổn định và phát triển. Mục đích hội nhập kinh tế của Việt Nam Việt Nam hội nhập ASEAN là một tất yếu khách quan, là một quyết sách đúng đắn, hợp thời để chấm dứt tình trạng đối đầu căng thẳng trong quá khứ bởi ảnh hưởng của trật tự thế giới hai cực Ialta. Các nước chuyển sang một kỷ nguyên mới, 23 kỷ nguyên của hòa hợp và phát triển kinh tế, cùng nhau đoàn kết dưới một mái nhà chung ASEAN, cùng hợp tác, gắn kết, hướng đến tương lai thịnh vượng, bắt kịp xu thế khu vực hóa và toàn cầu hóa của nền kinh tế thời đại. Tăng cường hợp tác với các nước ASEAN là mục tiêu hàng đầu của Việt Nam vì để tránh nguy cơ tụt hậu về kinh tế, bất ổn chính trị xã hội.
Việc hợp tác chặt chẽ với nền kinh tế khu vực sẽ giúp Việt Nam sớm thu hẹp khoảng cách phát triển và nhanh chóng hội nhập sâu rộng vào cộng đồng kinh tế thế giới. Trong bài trả lời phỏng vấn trước các phóng viên báo chí nhân dịp kỷ niệm 12 năm ngày Việt Nam chính thức là thành viên của ASEAN (28/07/1995 – 28/07/2007) và kỷ niệm 40 năm ngày thành lập ASEAN (08/08/1967 - 08/08/2007).