CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ KHU VỰC NGHIÊN CỨU 1. VỊ TRÍ VÙNG NGHIÊN CỨU Sông Hậu là một trong hai phân lưu được tách ra khỏi sông Mekong trên lãnh thổ Camphuchia và còn được gọi là sông Bassac. Trên lãnh thổ Việt nam, sông Hậu chạy qua tỉnh An Giang, làm ranh giới tự nhiên giữa các tỉnh Đồng Tháp và Cần Thơ, Vĩnh Long và Cần Thơ, Hậu Giang và Vĩnh Long, Trà Vinh và Sóc Trăng. Sông Hậu đổ ra biển Đông qua cửa Tranh Đề và cửa Định An.
Tuy nhiên, trong luận văn thạc sĩ này, vùng nghiên cứu chỉ giới hạn trong phạm vi châu thổ ngầm của sông Hậu. Theo đặc điểm địa hình - địa mạo, Wright đã phân chia cấu trúc của châu thổ thành 3 phần: đồng bằng (delta plain), tiền châu thổ (delta front) và sườn châu thổ (prodelta). Khu vực rìa ngoài châu thổ (tiền và sườn châu thổ) là nơi diễn ra tương tác trực tiếp giữa lục địa và đại dương (hình 1.1) được gọi là châu thổ ngầm. Sơ đồ phân loại châu thổ theo địa hình - địa mạo (theo Wright) 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Vì vậy, giới hạn châu thổ ngầm hiện đại của sông Hậu theo chiều từ lục địa ra biển là bắt đầu từ mực thủy triều trung bình đến độ sâu khoảng 20 - 25m nước.
- Về địa hình: 1) Độ sâu từ 0m đến 2,5; 3m địa hình có dạng bằng phẳng (hình 1. 3), đây là phần tiền châu thổ; 2) Độ sâu 2,5 - 20; 22,5m nước địa hình có độ dốc lớn và độ sâu từ 20 đến 25m nước địa hình lại thoải dần trước khi chuyển sang địa hình tương đối bằng phẳng, đây là phần sườn châu thổ. - Về phân bố trầm tích tầng mặt: Trầm tích phân dị độ hạt theo độ sâu. Quy luật chung là gần bờ hạt thô, xa bờ hạt mịn.
Ở độ sâu khoảng 20m nước gần như đã kết thúc quá trình phân dị hiện đại, đây là ranh giới ngoài cùng của trường trầm tích hạt mịn nhất. Ngoài độ sâu này trầm tích lại thô dần lên, thậm chí xuất hiện các trường cát sạn, sạn cát. Như vậy, trường bùn như là một trục đối xứng về phân bố trầm tích theo độ hạt. Phía ngoài trường này là trường bùn cát, rồi đến cát bùn, đây chính là đới pha trộn giữa trường trầm tích hiện đại (Q23) và trầm tích cổ (Q21-2).
Ranh giới ngoài chấm dứt sự lan tỏa của vật liệu lục nguyên hiện đại chính là ranh giới ngoài của châu thổ ngầm. Hoàn toàn phù hợp với địa hình đáy biển. - Về đặc điểm địa chất: Ranh giới ngoài của châu thổ ngầm hiện đại cũng trùng với ranh giới tuổi Holocen muộn (Q23)/Holocen sớm - giữa (Q21-2) [3] Ranh giới phía Tây Nam của châu thổ ngầm sông Hậu hiện đại chính là đường kéo dài ra biển từ điểm ranh giới giữa tỉnh Sóc Trăng và Bạc Liêu. Khi gần tới đường ranh giới này vùng tiền châu thổ bị thu hẹp lại, địa hình có dạng thoải dần đều do các yếu tố động lực biển ưu thế hoàn toàn.
Qua thu thập, tổng hợp và đánh giá tài liệu đã nghiên cứu trước đây về mặt địa hình - địa mạo, địa chất tầng nông, trầm tích và thủy - thạch động lực cho thấy giới hạn của châu thổ ngầm hiện đại của sông Hậu theo chiều từ lục địa ra biển là bắt đầu từ mực thủy triều trung bình đến độ sâu khoảng 20 - 25m nước. Do vậy, vị trí vùng nghiên cứu được giới hạn trong vùng độ sâu 0 - 25m nước kéo dài từ địa phận tỉnh Trà Vinh tới đường ranh giới giữa tỉnh Sóc Trăng và Bạc Liêu (hình 1.2), được giới hạn bởi 7 điểm tọa độ như bảng 1.1 sau: 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Tọa độ giới hạn vị trí vùng nghiên cứu STT Điểm giới hạn Vĩ độ Bắc Kinh độ Đông 1 I 1060 32’ 90 35’ 2 II 1060 40’ 90 26’ 3 III 1060 28’ 90 15’ 4 IV 1060 07’ 90 06’ 5 V 1050 55’ 90 04’ 6 VI 1050 49’ 90 14’ 7 VII 1060 35’ 90 35’ Hình 1. Sơ đồ vị trí vùng nghiên cứu 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN 1. Đặc điểm khí hậu Vùng nghiên cứu có khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa cận xích đạo, không chịu ảnh hưởng của gió mùa cực đới, nhưng lại bị tác động mạnh mẽ của gió Đông Nam từ biển thổi vào. Nắng: Trà Vinh và Sóc Trăng là hai tỉnh nằm ở vĩ độ thấp của vùng nhiệt đới, mặt trời chiếu sáng quanh năm, nên ban ngày dài hơn ban đêm. Mùa khô kéo dài đến 6 - 7 tháng, ít mây nên rất dồi dào về ánh sáng.
Nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình năm từ 26,0 đến 27,6OC, khá ổn định. Biên độ nhiệt trung bình giữa các thông số biến thiên từ 3 đến 5OC. Nhiệt độ cao nhất tuyệt đối vào tháng 4 (36,7OC); nhiệt độ thấp nhất tuyệt đối vào tháng 1 (18,5OC). Bức xạ: Lượng bức xạ ở khu vực lớn và ổn định.
Lượng bức xạ tổng cộng trung bình ngày lớn nhất vào tháng 3 (548 calo/cm2/ngày) và nhỏ nhất vào tháng 9 (397 calo/cm2/ngày). Với chế độ nắng, bức xạ, nhiệt này, cây trồng có thể phát triển quanh năm. Nông nghiệp có thể gieo trồng ba vụ lúa trong năm, nếu có điều kiện về đất và nước, chuyển dịch thời vụ ít có ảnh hưởng tới năng suất và sản lượng. Độ ẩm: do nằm trong khu vực gió mùa cận xích đạo và chịu ảnh hưởng trực tiếp của khí hậu biển nên vùng nghiên cứu có độ ẩm cao.
Sự chênh lệch độ ẩm qua các tháng không lớn. Độ ẩm trung bình tháng thay đổi từ 76,7% (tháng 2 - 4) đến 87,3% (tháng 7 - 9), sai biệt tối đa của độ ẩm trung bình giữa các tháng là 10,6%. Mưa: Vùng nghiên cứu được chia làm 2 mùa rõ rệt là mùa mưa và vùa khô. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau.
Lượng mưa tập trung trong mùa mưa tới 85,6% tổng số lượng mưa cả năm, với số ngày mưa trung bình đạt từ 110-150 ngày. Ngoài ra, trong mùa mưa vùng nghiên cứu còn bị ảnh hưởng mạnh bởi những đợt lũ đã làm thay đổi đáng kể biến trình mực nước và thường gây ra lũ lớn. Còn mùa khô lại hầu như không mưa dẫn tới tình trạng thiếu nước cho sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt. Gió: theo số liệu của trạm quan trắc Côn Đảo, căn cứ vào các hoa gió và các bảng tần xuất, được tính trung bình từ chuỗi quan trắc dài ngày.
Chế độ gió ở đây 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com được phân thành hai mùa rõ rệt: mùa gió Đông Bắc và mùa gió Tây Nam. Mùa gió Đông Bắc bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau. Mùa gió Tây Nam bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 9. Mùa gió Đông Bắc chủ yếu thịnh hành hướng gió Đông Bắc (NE) và Đông (E).
Tần xuất hướng gió này theo các tháng dao động từ 66 - 86%. Mùa gió Tây Nam chủ yếu thịnh hành hướng gió Tây Nam (SW) và Tây (W), Tần xuất giữa các tháng dao động 42-85%. Tháng 4 và tháng 10 là hai tháng giao thời, hướng và tốc độ gió luôn thay đổi. Thời tiết đặc biệt: Bão và áp thấp nhiệt đới (ATNĐ) rất ít khi đổ bộ trực tiếp vào khu vực, mà chỉ ảnh hưởng khi có bão hoặc ATNĐ hoạt động ở Nam biển Đông hoặc đổ bộ vào khu vực miền Trung.
Khi có tình thế thời tiết trên, ở khu vực gió không mạnh nhưng có mưa lớn. Ở Nam biển Đông, bão và ATNĐ đều có khả năng xuất hiện vào tất cả các tháng trong năm, nhưng tập trung nhiều vào các tháng 9, 10, 11 và 12, các tháng 1, 2, 3, 4 và 5 khả năng xuất hiện nhỏ (<5%). Tần suất bão và ATNĐ ở phía Nam Biển Đông (1961-1980) (%) Tháng 6 7 8 9 10 11 12 Tần suất xuất hiện % 6,3 5,1 3,8 12,7 16,4 31,6 10,1 1. Đặc điểm thủy văn Vùng ven biển châu thổ sông Hậu thuộc hạ lưu lưu vực sông Mê Kông.
Khi chảy qua biên giới Việt Nam-Campuchia, dòng sông Mekong chia ra hai nhánh lớn là sông Tiền và sông Hậu, trong đó sông Tiền vận chuyển khoảng 70% lượng nước và bùn cát, sông Hậu vận chuyển khoảng 30% tổng lượng nước và bùn cát lơ lửng của cả hệ thống Mekong. Bên trong lãnh thổ Việt Nam nước giữa hai nhánh sông lớn được phân chia và điều hoà lại, một phần nước sông Tiền chảy sang sông Hậu qua nhánh sông Vàm Nao (thuộc địa phận tỉnh An Giang), do vậy trước khi chảy ra biển lượng nước trên sông Tiền và sông Hậu xấp xỉ như nhau, độ chênh lệch lưu lượng nước giữa hai nhánh sông lớn này không lớn, ít khi vượt quá 2%. Nhìn chung, mạng lưới sông, kênh, rạch phát triển mạnh mẽ, mật độ mạng lưới thuộc vào loại lớn nhất trên lãnh thổ nước ta, dao động từ 2 đến 4km/km2. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Đặc điểm hải văn a. Chế độ sóng: Sóng biển đóng một vai trò đặc biệt quan trọng trong các quá trình động lực ven bờ, đặc biệt là vận chuyển trầm tích. Nói chung vùng biển nghiên cứu, chế độ sóng phù hợp hoàn toàn với chế độ gió. Tháng 1 là tháng đặc trưng cho gió mùa Đông Bắc, sóng tập trung chủ yếu vào hướng Đông Bắc (chiếm 86,69%).
Độ cao sóng trong gió mùa Đông Bắc khá lớn. Tính trung bình có khoảng 6% số trường hợp quan trắc được độ cao sóng từ 2m trở lên (cấp V trở lên). Tháng 7 là tháng đặc trưng cho mùa gió Tây Nam, trường sóng tập trung vào các hướng Tây và Tây Nam chiếm 44,11% và 36,41% tổng số trường hợp tương ứng. Độ cao sóng cũng nhỏ hơn so với gió mùa Đông Bắc trong tháng 1.
Tháng 4 và tháng 10 là hai tháng đặc trưng cho thời kỳ chuyển tiếp giữa hai mùa gió nên có tần suất xuất hiện phân bố tương đối rộng theo tất cả các hướng. Chế độ thủy triều: Tính chất thuỷ triều ở vùng biển ven bờ đồng bằng sông Cửu Long nói chung và sông Hậu nói riêng thuộc loại hỗn hợp triều, thiên về bán nhật triều. Hầu hết số ngày trong tháng có hai lần nước lên và hai lần nước xuống với sự chênh lệch đáng kể của hai độ lớn triều trong ngày. Độ lớn triều trong kỳ nước cường có thể đạt tới trên dưới 3m.
Kỳ nước cường thường xảy ra vào thời kỳ trăng non và trăng tròn (tức là vào đầu tháng và giữa tháng âm lịch). Tốc độ thủy triều ở khu vực này lên xuống khá nhanh, có thể đạt 0,5-0,6 m/giờ. Biên độ triều lớn nhất quan sát được ở Vũng Tàu và có xu hướng giảm dần về phía mũi Trà Vinh.