phần mở đầu, kết luận, kiến nghị và tài liệu tham khảo, sẽ đƣợc trình bày trong 3 chƣơng: Chƣơng 1. Tổng quan nghiên cứu đánh giá di sản địa chất, địa mạo và các phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 2. Đặc điểm địa chất, địa mạo vùng cát đỏ Phan Thiết tỉnh Bình Thuận Chƣơng 3. Tiềm năng di sản địa chất, địa mạo vùng cát đỏ Phan Thiết tỉnh Bình Thuận TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ DI SẢN ĐỊA CHẤT, ĐỊA MẠO VÀ CÁC PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1.
ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI - NHÂN VĂN 1. Vị trí địa lý Cát đỏ rất dễ dàng nhận ra nhờ màu đỏ đặc trƣng, đã tạo nên một ấn tƣợng mạnh về mặt địa chất. Dọc ven biển Tuy Phong, Bắc Phan Thiết, Nam Phan Thiết và Hàm Tân, cát đỏ phân bố với diện lộ khác nhau và các độ cao khác nhau từ 0m đến hơn 100m. Từ các bãi triều ở bờ biển Nam Phan Thiết, Tuy Phong đến các cao nguyên trùng điệp nhƣ ở Sông Lũy, Mũi Né rồi đến các bậc thềm biển phân bậc rõ ràng, cát đỏ có sự phân bố khá đa dạng.
Diện tích vùng nghiên cứu đƣợc thể hiện trên sơ đồ vùng nghiên cứu (Hình 1. Có thể chia vùng nghiên cứu thành 2 khu vực sau: Khu vực Tuy Phong - Bắc Phan Thiết Khu vực Tuy Phong - Bắc Phan Thiết nằm về phía đông bắc thành phố Phan Thiết, theo dải ven biển từ phƣờng Phú Hài thuộc thành phố Phan Thiết kéo dài khoảng 70 km đến thị trấn Liên Hƣơng, huyện Tuy Phong. Diện tích nghiên cứu thuộc địa phận các xã: Bình Thạnh, Chí Công, Hòa Minh, Hòa Phú, thị trấn Liên Hƣơng, Phan Rí Cửa thuộc huyện Tuy Phong; các xã: Phan Rí Thành, Hồng Thái, Lƣơng Sơn, Sông Luỹ, Bình Tân, Hồng Phong, Hòa Thắng, huyện Bắc Bình; các xã: Hồng Liêm, Hồng Sơn, Hàm Đức, huyện Hàm Thuận Bắc; các phƣờng: Phú Hải, Hàm Tiến, Mũi Né, thành phố Phan Thiết. Khu vực Nam Phan Thiết Khu vực Nam Phan Thiết nằm phía Nam - Tây Nam thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận (cách trung tâm thành phố khoảng 1,5 km).
Về địa giới hành chính bao gồm: xã Tiến Thành, thành phố Phan Thiết; các xã: Hàm Mỹ, Hàm Kiệm, Hàm Cƣờng, Hàm Minh, Thuận Quý, Tân Thành, huyện Hàm Thuận Nam; TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Đặc điểm địa lý tự nhiên Đặc điểm địa hình: Dải ven biển từ Ninh Thuận đến bắc Bà Rịa - Vũng Tàu, với chiều dài gần 300 km có mặt các dạng địa hình: địa hình núi, địa hình đồi, địa hình đồng bằng. Địa hình núi chiếm diện tích nhỏ, thƣờng phân bố ở phía tây đới ven bờ; địa hình này có độ cao từ 500 m đến 1.000 m, thƣờng có đỉnh nhọn, sƣờn dốc, địa hình phân cắt khá mạnh. Địa hình đồi, đồi thấp phân bố rải rác ven bờ, có khi tạo thành các mũi nhô ra biển.
Địa hình đồng bằng chiếm phần lớn diện tích, bề mặt nghiêng thoải dần ra biển với độ cao tuyệt đối từ vài mét đến gần hai trăm mét. Mạng sông, suối, bàu nước và bờ biển Trong vùng nghiên cứu có các sông điển hình nhƣ: sông Lũy, sông La Ngà, sông Cái. các đặc trƣng chính của các sông thể hiện theo. Vào mùa khô phần lớn các sông đều có dòng chảy yếu, nhiều chỗ có thể lội qua đƣợc.
Mùa mƣa nƣớc khá lớn, có thể gây lũ lụt song chỉ mang tính tức thời. Nhìn chung, các sông không có khả năng giao thông đƣờng thủy. Trên lƣu vực các sông là mạng lƣới các suối nhỏ, phần hạ lƣu mật độ khá dày. Các suối này về mùa khô phần lớn bị cạn kiệt hoặc dòng chảy rất yếu.
Các bàu nƣớc tù có trữ lƣợng lớn là nguồn cung cấp nƣớc chủ yếu cho sinh hoạt và nông nghiệp tại một số địa phƣơng nhƣ: Bàu Trắng, Bàu Me, Bàu Tàn, Bàu Thêu… Quá trình xâm thực, tích tụ và phát triển đƣờng bờ tạo ra dạng địa hình bờ đặc trƣng với các bán đảo, mũi nhô ra biển: Mũi La Gàn, Mũi Né, Mũi Kê Gà, các vũng, vịnh lõm sâu vào nội địa: vũng Trâu Nằm, vịnh Phan Thiết, vũng Tàu, vũng Ninh Chữ. các yếu tố đó làm cho địa hình đƣờng bờ thêm phức tạp, nhƣng gây nhiều ấn tƣợng. Thảm thực vật: Hầu hết đồi núi đều bị trọc hóa bởi hoạt động phát triển của con ngƣời. Hiện nay, một số núi thực vật đƣợc trồng mới hoặc tái sinh nhƣng chƣa đủ phủ xanh hoàn toàn đồi trọc.
Thảm thực vật tự nhiên ở núi, đồi và các bãi cát chủ yếu là cây thân thảo, cây dây leo, cây thân mộc kém phát triển. Tuy nhiên, có một số khu vực thực vật tự nhiên đƣợc bảo tồn khá tốt nhƣ: rừng đặc dụng Tà Kou, Hàm TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Thuận Nam, Bình Thuận. Khí hậu, hải văn Khí hậu: Ven biển Nam Trung Bộ nói chung có khí hậu mang tính chất nhiệt đới miền duyên hải, nhiệt độ trung bình hàng năm 26,40C. Khí hậu đƣợc chia làm hai mùa tƣơng đối rõ rệt: mùa mƣa từ tháng 6 đến tháng 11, tổng lƣợng mƣa trung bình 1.500mm, độ ẩm tƣơng đối 75- 85% ; mùa khô từ tháng 12 đến tháng 5 năm sau, tổng lƣợng mƣa mùa khô 110 - 130mm, các tháng ít mƣa nhất là tháng 1 đến tháng 3, độ ẩm tƣơng đối 70- 80%; Hƣớng gió cũng thay đổi theo mùa, mùa mƣa gió thịnh hành hƣớng tây bắc, tây nam; mùa khô gió thịnh hành hƣớng đông bắc, đông nam.
Tốc độ gió cao nhất 3,2m/s, thấp nhất 0,8m/s. Hải văn: Ven biển Nam Trung Bộ thuỷ triều mang tính bán nhật triều và nhật triều, các ngày trong tháng một hoặc hai lần triều dâng và triều rút. Đặc điểm kinh tế - xã hội - nhân văn Giao thông: Khu vực nghiên cứu có Quốc lộ 1A chạy qua, cách bờ biển từ vài trăm mét đến vài chục kilomet. Đặc biệt, để phục vụ cho phát triển kinh tế và nhu cầu đi lại những năm gần đây các đƣờng liên huyện, liên xã đƣợc mở rộng, nâng cấp hoặc làm mới; đƣờng ven biển đƣợc trải nhựa có thể đi dọc ven biển.
Hệ thống đƣờng sắt đi qua có ga chính, thuận tiện cho giao thông và vận chuyển hàng hóa. Tỉnh Bình Thuận có cảng Phan Thiết và sắp mở cảng Kê Gà phục vụ cho giao thông đƣờng thủy. Dân cư: Dân cƣ trong vùng chủ yếu là ngƣời Kinh, ngoài ra có ít ngƣời Chăm, ngƣời Hoa. Ngƣời dân tập trung với mật độ cao ở các thị trấn, thị xã và thành phố.
Họ sống với các ngành nghề đa dạng: Công, nông, ngƣ nghiệp và buôn bán. Các miền quê ven biển mật độ dân thƣa thớt hơn, nghề nghiệp chủ yếu nông, ngƣ nghiệp, một bộ phận buôn bán nhỏ. Trên diện tích điều tra chủ yếu là các cồn cát, bãi cát khô hạn nên mật độ dân cƣ rất thƣa thớt. Cơ sở hạ tầng: điện, đƣờng, trƣờng, trạm…đƣợc xây mới hoặc cải tạo nâng cấp khang trang hơn.
Điều kiện trƣờng học và chế độ chăm sóc y tế tƣơng đối tốt. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tuy nhiên, hiện nay một số địa phƣơng ven biển ngƣời dân có trình độ dân trí còn thấp, nạn mù chữ vẫn chƣa đƣợc xóa bỏ một cách triệt để. Tóm lại, đặc điểm địa lý tự nhiên, kinh tế - xã hội - nhân văn vùng nghiên cứu tƣơng đối thuận lợi cho hoạt động điều tra địa chất. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VÙNG CÁT ĐỎ PHAN THIẾT Giai đoạn trước năm 1975 Trƣớc ngày miền Nam giải phóng (năm 1975), các tài liệu nghiên cứu địa chất và khoáng sản nói chung và sa khoáng ven biển nói riêng ở các tỉnh phía Nam còn mang tính sơ lƣợc.
- Từ năm 1922 đến 1952, có sự nghiên cứu đáng kể của các nhà địa chất Pháp: E.Saurin, Fromaget, Hoffet, Shepard thể hiện qua việc lập các bản đồ địa chất tỷ lệ 1:500.000 tờ Nha Trang, bản đồ địa chất tỷ lệ 1:2.000 toàn Đông Dƣơng, bản đồ địa chất đáy biển tây Thái Bình Dƣơng. - Từ năm 1954 đến năm 1975 có các công trình nghiên cứu liên quan đến sa khoáng ven biển của các nhà địa chất: Plarala, Nguyễn Hữu Khổ, Nông Văn Bé, Noskes, Fontaine, Nguyễn Tấn Thi, Phạm Tuyết Nhung. Tuy nhiên, các công trình này hoặc mang tính dàn trải hoặc cục bộ, không đƣợc ứng dụng thực tiễn. Giai đoạn sau năm 1975 Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, các công trình nghiên cứu địa chất và khoáng sản đƣợc xúc tiến khá toàn diện và có hệ thống.
- Năm 1975 - 1979, Nguyễn Xuân Bao, Trần Đức Lƣơng và nnk đã thành lập bản đồ địa chất tỷ lệ 1:500.000 toàn lãnh thổ Miền Nam. - Năm 1980 - 1982, chuyên gia Liên Xô (cũ) cùng các nhà địa chất của Viện Nghiên cứu Địa chất và Khoáng sản Việt Nam tiến hành đề tài nghiên cứu ilmenit ven biển Việt Nam. - Năm 1983, Đào Thanh Bình - Phạm Văn Hát đã tiến hành tìm kiếm tỉ mỉ ilmenit Chùm Găng, Hàm Tân, Thuận Hải. Phạm vi nghiên cứu thuộc địa phận 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com xã: xã Tân Thành, huyện Hàm Thuận Nam; xã Tân Hải, Tân Bình, huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận.
Trong công trình này, các tác giả đã xác định tích tụ cát vàng có nguồn gốc gió vQ23 ven biển Hàm Tân (từ sông Dinh đến mũi Kê Gà) có triển vọng về sa khoáng ilmenit, zircon. Hàm lƣợng ilmenit từ 20 - 80 kg/m3, zircon từ 8 đến 20 kg/m3. Riêng khu mỏ Chùm Găng các tác giả đã tính trữ lƣợng cấp C2 cho ilmenit là 374. - Năm 1984, Nguyễn Viết Thắm và nnk hoàn thành “Báo cáo kết quả tìm kiếm đánh giá triển vọng cát trắng và sa khoáng dọc biển từ Hòn Gốm đến Vũng Tàu”.
Trong báo cáo này các tác giả đã đề cập đến các điểm tụ khoáng tạo ra các thân quặng ilmenit có giá trị công nghiệp: Hòn Gốm, Thiện Ái, Mũi Né, Hàm Tân. Tuy nhiên, chỉ nhắc đến một cách sơ lƣợc. - Năm 1985 - 1988, Đào Thanh Bình tiến hành thăm dò sơ bộ mỏ sa khoáng ilmenit - zircon Hàm Tân, Thuận Hải. Tác giả tính tổng trữ lƣợng khoáng vật quặng (ilmenit, zircon, rutin, leucoxen, anatas) cấp C1 + C2 trong cân đối cho toàn khu mỏ Hàm Tân 569.377 tấn; ngoài cân đối là 586.
- Năm 1985 - 1989, Nguyễn Thị Kim Hoàn và nnk nghiên cứu về triển vọng sa khoáng titan ven biển Việt Nam đã đề cập tƣơng đối hệ thống về đặc điểm, điều kiện địa chất thành tạo các mỏ sa khoáng titan ven biển Việt Nam. Trong đó, các tác giả có sự cảnh báo về triển vọng sa khoáng trong cát đỏ.