phần mở đầu và kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn đƣợc trình bày theo 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài Chƣơng 2: Tích hợp giáo dục môi trƣờng và biến đổi khí hậu qua dạy học sinh học cấp độ tổ chức sống Quần xã - Hệ sinh thái, sinh học 12 THPT Chƣơng 3: Thực nghiệm sƣ phạm 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Tổng quan về tình hình giáo dục môi trƣờng và biến đổi khí hậu trên thế giới và ở Việt Nam 1. Tình hình giáo dục biến đổi khí hậu trên thế giới Năm 1980, “Chiến lƣợc bảo tồn thế giới” do chƣơng trình môi trƣờng của Liên Hợp Quốc (UNEP), Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên thế giới (IUCN) và quỹ bảo tồn thiên nhiên thế giới (WWF) đƣa ra đã đề cập đến “thuật ngữ phát triển bền vững”, tuy nhiên mới chỉ nhấn mạnh nó ở góc độ bền vững sinh thái bảo tồn tài nguyên sinh vật. Năm 2002 hội nghị thƣợng đỉnh thế giới về phát triển bền vững đƣợc tổ chức tại Johannesburg (Nam Phi) đánh dấu mốc quan trọng của loài ngƣời trong nỗ lực tiến tới mục tiêu PTBV toàn cầu.
Lúc này thì khái niệm PTBV đã đƣợc hiểu một cách đầy đủ, toàn diện đó là: “Phát triển bền vững là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý, hài hòa giữa 3 mặt của sự phát triển là phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trƣờng nhằm đáp ứng nhu cầu đời sống con ngƣời trong hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tƣơng lai”. Theo Klein và cộng sự (2005), Ahmad (2009), việc “lồng ghép các vấn đề BĐKH” đƣợc đề cập đầu tiên tại Hội nghị quốc tế về PTBV. Theo Sathaye và cộng sự (2007), Ahmad (2009), lồng ghép các vấn đề BĐKH đƣợc coi là yếu tố quan trọng để thiết kế một chính sách có hiệu quả nhằm đạt đƣợc cả lợi ích kinh tế và ứng phó với BĐKH (dẫn theo Lên Văn Khoa và cộng sự, 2012).Shaw (2010), khi xuất hiện sự quan tâm tới những tác động hiện tại và tiềm tàng của biến đổi khí hậu tới điều kiện giáo dục và học tập, cũng xác định rõ ràng rằng giáo dục chính qui và không chính qui, từ bậc tiểu học tới trung học và giáo dục cho ngƣời lớn có một vai trò quan trọng để giải quyết những vấn đề này. Giáo dục đƣợc công nhận nhƣ bƣớc đi đầu tiên để tăng khả năng chịu đựng tới những tác động hiện tại và tiềm tàng của biến đổi khí hậu tới giáo dục và học tập.
Trong chủ đề 6 “Giáo dục, đào tạo và sự quan tâm của xã hội” (chƣơng trình New Delhi), UFNCCC đã xác định giáo dục phải đóng một vai trò quan trọng trong việc đối phó với biến đổi khí hậu ở cấp độ địa phƣơng, quốc gia và toàn cầu. 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tại Hội nghị quốc tế về giảm nhẹ thiên tai lần thứ 2 họp tại Kobe, Nhật Bản, Chính phủ 168 quốc gia tham dự đã nhất trí thông qua khung hành động Hyogo (HFA) giai đoạn 2005-2015 về: “Xây dựng khả năng phục hồi cho các quốc gia và cộng đồng chịu thiên tai” – là một chiến lƣợc toàn cầu với mục tiêu giảm nhẹ rủi ro thiên tai đã đƣợc chính phủ các nƣớc cam kết hành động. HFA gồm ba mục tiêu chiến lƣợc, năm hành động ƣu tiên và bốn vấn đề cơ bản. Trong đó, hành động ƣu tiên thứ 3 là “Sử dụng kiến thức, sáng kiến mới và giáo dục để xây dựng để xây dựng nền văn hóa an toàn và có khả năng phục hồi ở mọi cấp độ” đƣợc thể hiện ở bảy hoạt động chính, trong đó có hoạt động “Lồng ghép nội dung giảm nhẹ rủi ro thiên tai vào chƣơng trình học chình thức và không chính thức”.
Mục tiêu 2 của chƣơng trình phát triển thiên niên kỷ (MDG) thảo luận về sự quan trọng của giáo dục tiểu học để giảm nghèo đói. Theo Læssøe và cộng sự (2009), Biến đổi khí hậu và cả hành động cá nhân cũng nhƣ xã hội cần để giải quyết những khó khăn của nó không còn là chủ đề mới về giáo dục. Cả hai vấn đề này đều có thể tìm thấy trong tài liệu giáo dục môi trƣờng những thập niên gần đây. Giáo dục biến đổi khí hậu không tồn tại nhƣ một lĩnh vực độc lập mà nhƣ một thành phần tích hợp của giáo dục môi trƣờng vào giáo dục phát triển bền vững.
Thực tế, giáo dục biến đổi khí hậu chỉ phát triển những đặc điểm riêng của nó trong suốt 3 năm qua, bởi vậy nó vẫn cần sự riêng biệt. Trên thế giới, những phát triển gần đây đƣợc định hƣớng bởi những sáng kiến về sự quan tâm đến biến đổi khí hậu. Trung Quốc đã thực hiện kế hoạch hành động về biến đổi khí hậu, trong đó có cả những sáng kiến giáo dục cụ thể. Bởi vậy, kiến thức về biến đổi khí hậu sẽ bao gồm trong giáo dục cơ bản, giáo dục đại học và giáo dục ngƣời lớn sẽ tập trung vào sự quan tâm và sự tham gia vào các hoạt động liên quan (Yi và Wu, 2009).
Ở Canada, tƣơng tự nhƣ trên, chính quyền tỉnh bang Newfoundland và Labrador của Canada đã có một kế hoạch hành động về biến đổi khí hậu từ năm 2005. Ở tỉnh bang này, kế hoạch ban đầu có thể giúp cho việc nhìn nhận những tác động của biến đổi khí hậu đến địa phƣơng (Nazir và cộng sự, 2009). Ở Đan Mạch năm 2009, chính phủ Đan Mạch đã đã đƣa ra một loạt những sáng kiến cụ thể về vấn đề giáo dục biến đổi khí hậu trong chiến lƣợc Giáo dục phát triển bền vững. Những sáng kiến về giáo dục biến đổi khí hậu dƣới các chuyên đề 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com của Giáo dục môi trƣờng và giáo dục phát triển bền vững cũng đƣợc tìm thấy ở nhiều nƣớc khác (Breiting và cộng sự, 2009).
Ở Australia, một quốc gia rất quan tâm giáo dục môi trƣờng và phát triển bền vững, các trƣờng học năng lƣợng mặt trời mới đã đƣợc thành lập dƣới sự đỡ đầu của giáo dục phát triển bền vững với nội dung cụ thể về biến đổi khí hậu. Những sáng kiến này đã xác định mục tiêu cho tất cả các trƣờng ở Úc sẽ trở thành trƣờng học năng lƣợng mặt trời vào năm 2016 (Chambers, 2009). Ở Thái Lan, Chantra Tantipongsanuruk (2009) đã nghiên cứu “Phát triển chƣơng trình GDMT & BĐKH. Nghiên cứu trƣờng hợp ở trƣờng Wat Huay Muang, Nakhonpathom, Thái Lan” bằng cách tích hợp đơn vị học tập môn khoa học và tiếng Thái trong một năm cho 145 học sinh từ mẫu giáo đến lớp 6.
Ở Hàn Quốc, biến đổi khí hậu là một trong những nội dung chính của giáo dục phát triển bền vững và có trong chủ đề môn học của trƣờng học. Ví dụ nhƣ: chủ đề Khí hậu trong môn Địa lý, chủ đề Năng lƣợng trong môn Khoa học và chủ đề Sự nóng lên của toàn cầu trong môn Môi trƣờng. Tuy vậy, một chƣơng trình đào tạo hoặc một hƣớng dẫn về giáo dục biến đổi khí hậu vẫn chƣa đƣợc hình thành. Tình hình giáo dục biến đổi khí hậu trong dạy học ở Việt Nam Ở cấp quốc gia, Chính phủ Việt Nam đã phê chuẩn Công ƣớc khung của Liên Hiệp Quốc về BĐKH ngày 16/11/1994, Nghị định thƣ Kyoto đƣợc phê chuẩn ngày 25/9/2002, ra chỉ thị tổ chức thực hiện Nghị định thƣ Kyoto thuộc Công ƣớc khung của Liên Hiệp Quốc về BĐKH tại Việt Nam (số 35/2005/CT-TTg ngày 17/10/2005), phê duyệt Chƣơng trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH (02/12/2008), phê duyệt Chiến lƣợc quốc gia về BĐKH (QĐ số 2139 ngày 05/12/2011), thành lập Ủy ban quốc gia về BĐKH (QĐ số 43 ngày 09/01/2012), phê duyệt Chƣơng trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH giai đoạn 2012-2015 (QĐ số 1183/QĐ-TTg ngày 30/8/2012) và ban hành Kế hoạch hành động quốc gia về BĐKH giai đoạn 2012-2020 (QĐ số 1474/QĐ-TTg ngày 05/10/2012) đã thể hiện rõ chủ trƣơng, chính sách, nỗ lực và quyết tâm của Việt Nam trong ứng phó với BĐKH, đồng thời làm căn cứ pháp lý để chỉ đạo các bộ, ngành, đoàn thể, chính quyền các cấp,.
xây dựng kế hoạch và thực hiện nhiệm vụ ứng phó với BĐKH tại Việt Nam. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Đối với ngƣời dân nƣớc ta, biến đổi khí hậu vẫn còn là một vấn đề mới, chƣa đƣợc sự quan tâm đúng mức của cộng đồng nói chung. Chỉ đạo của chính phủ (từ cấp vĩ mô đến các cấp trung gian): Theo chỉ đạo của Bộ giáo dục và đào tạo, từ năm học 2009-2010, các sở giáo dục sẽ triển khai lồng ghép giáo dục môi trƣờng vào các môn học. Việc đƣa giáo dục môi trƣờng vào hệ thống giáo dục quốc dân đã là mục tiêu đƣợc Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ƣơng xác định từ năm 1998.
Hiện tại, để thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ của dự án ƣu tiên về “BĐKH và ứng phó với BĐKH” theo đúng tiến độ đã đề ra, cần có sự phân công cụ thể quản lý chỉ đạo thống nhất từ Trung ƣơng đến các cơ sở, có sự phân cấp quản lý phù hợp. Cấp Trung ƣơng do Bộ GD&ĐT quản lý dự án, Bộ GD&ĐT có trách nhiệm phân công, điều phối các đơn vị chủ động thƣợc hiện, và phối hợp với các đơn vị khác ngoài Bộ để triển khai có hiệu quả từng nội dung của dự án. Các hoạt động giáo dục ứng phó với BĐKH cụ thể là: - Chỉ đạo việc lồng ghép, tích cực các yếu tố BĐKH vào các môn học theo tinh thần quyết định 4619/QĐ-BGD&ĐT của Bộ trƣởng Bộ GD&ĐT về việc “Đƣa các nội dung ứng phó với BĐKH vào các chƣơng trình giáo dục và đào tạo giai đoạn 2011 – 2015”. - Giáo dục cho học sinh bảo vệ vốn rừng hiện có, đặc biệt là rừng ngập mặn ven biển, rừng phòng hộ chống cát bay, cát chảy, đồng thời trồng vành đai cây xanh bên trong và xung quanh trƣờng, vừa tạo cảnh quan, vừa giảm thiểu phát thải khí nhà kính.
- Hƣớng dẫn học sinh bỏ rác đúng nơi quy định. Phân loại rác tại nguồn, làm phân compost và tái sử dụng. Ở những nơi có diện tích mặt bằng lớn, thiết kế các vƣờn sinh thái với các loại rau mầu, cây ăn quả, cây cảnh nhằm tôn tạo cảnh quan nhà trƣờng và sử dụng nguồn phân compost tại chỗ. - Lập phƣơng án thích ứng và giảm nhẹ BĐKH, ứng phó với bão và nƣớc biển dâng.
Năm 2009, Bộ GD&ĐT đã lồng ghép BĐKH vào các hoạt động GD.