mở đầu và kết luận, luận văn đƣợc bố cục làm 4 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận TMĐT cho sản phẩm nông sản gắn với nông hộ Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Thực trạng công tác xây dựng TMĐT cho mặt hàng nông sản gắn với nông hộ Chƣơng 4: Kiến nghị và giải pháp nhằm xây dựng trang web TMĐT cho mặt hàng nông sản gắn với nông hộ. 4 z CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN TMĐT CHO SẢN PHẨM NÔNG SẢN GẮN VỚI NÔNG HỘ 1. Tổng quan các nghiên cứu về thƣơng mại điện tử TMĐT là một vấn đề đƣợc nhiều học giả quan tâm và tiến hành nghiên cứu, không chỉ ở riêng Việt Nam mà còn ở nhiều quốc gia trên thế giới. Các nghiên cứu của họ đã đƣợc công bố rộng rãi và có tầm ảnh hƣởng lớn đối với thực tế TMĐT cũng nhƣ góp phần không nhỏ cho việc xây dựng cơ sở và nền tảng lý luận về TMĐT.
Trong phần viết dƣới dây, tác giả trình bày một số nghiên cứu về TMĐT đã đƣợc thực hiện trong và ngoài nƣớc để có cái nhìn tổng quan hơn. Khan và Mahapatra (2009), nhận xét rằng công nghệ đóng vai trò quan trọng cho các đơn vị kinh doanh trong việc cải thiện chấtvà lƣợng dịch vụ. Một trong những công nghệ màcuộc cách mạng thông tin thực sự mang trong xã hội là công nghệ thông tin. Sự ra đời của công nghệ thông tin đƣợc coi là làn sóng thứ ba của cuộc cách mạng sau cuộc cách mạng nông nghiệp và công nghiệp.
Lợi ích hơn cả cho hoạt động kinh doanh hiện nay là thƣơng mại điện tử. Những tác động của thƣơng mại điện tử đã xuất hiện trong tất cả các lĩnh vực kinh doanh, từ dịch vụ khách hàng tới thiết kế sản phẩm mới. Nó tạo điều kiện hình thành các loại thông tin mới cho hoạt động kinh doanh và tƣơng tácvới khách hàng nhƣ quảng cáo trực tuyến, tiếp thị, đặt hàng trực tuyến và dịch vụ chăm sóc khách hàng trực tuyến… Nó cũng có thể làm giảm chi phí trong việc quản lý các đơn đặt hàng và tƣơng tác với một loạt các nhà cung cấp và đối tác thƣơng mại, các khu vực mà ở đó chi phí giá thành của các sản phẩm và dịch vụ thƣờng tăng thêm đáng kể. Các doanh nghiệp đang ngày càng sử dụng nhiều Internet cho các hoạt động thƣơng mại.
Với sự phổ biến của Internet và lƣợng lớn ngƣời sử dụng của nó có thể truy cập toàn cầu đã làm cho sự giao tiếp giữa các doanh nghiệp và khách hàng trở nên cực kỳ hiệu quả. Tăng trƣởng của công nghệ Internet có tiềm năng rất lớn vì nó làm giảm chi phí của 6 z sản phẩm, cung cấp dịch vụ và mở rộng ranh giới địa lý trong việc đƣa ngƣời mua và ngƣời bán với nhau. Zeinab Mohamed El Gawady (2005), khi nghiên cứu về tác động của TMĐT ở các nƣớc phát triển và các nƣớc đang phát triển có nói thƣơng mại điện tử có thể có ảnh hƣởng lớn đến các hoạt động kinh tế trong tƣơng lai. Hoạt động thƣơng mại thông qua Internet sẽ thay đổi bộ mặt doanh nghiệp mãi mãi.
Hơn nữa, thƣơng mại điện tử sẽ thay đổi ngân hàng trong thế kỷ 21. Thƣơng mại điện tử ảnh hƣởng đến nên kinh tế thế giới bằng nhiều con đƣờng khác nhau. Trƣớc hết, nó đã bị ảnh hƣởng bởi công nghệ thông tin và tất cả các ngành kinh tế, thƣơng mại điện tử đã nâng cao năng suất tăng trƣởng trên toàn thế giới. Một số nƣớc đã tận dụng đƣợc lợi ích này để nâng cao khả năng cạnh tranh quốc tế.
Ảnh hƣởng của thƣơng mại điện tử với các nƣớc đang phát triển có thể mạnh mẽ hơn các nƣớc phát triển bởi vì nó giảm thiểu sự thiếu hiệu quả trong sản xuất và tăng năng suất lớn hơn nhiều ở các nƣớc đang phát triển. Tanzila Samin (2012) lại có đánh giá rằng sự phổ biến của internet và hỗ trợ mạnh mẽ của các công cụ tìm kiếm đã dẫn đến một kỷ nguyên mới của hoạt động thƣơng mại đó là thƣơng mại điện tử, nó đã thay đổi các khái niệm thông thƣờng của các doanh nhân. Giao dịch thƣơng mại điện tử với việc bán hàng, mua hàng, giao dịch thông qua mạng máy tính. Thƣơng mại điện tử có thể nâng cao đƣợc tốc độ tăng trƣởng kinh tế, tăng cơ hội kinh doanh, khả năng cạnh tranh và lợi nhuận nhiều hơn tới thị trƣờng.
Thƣơng mại điện tử đang nổi lên nhƣ là một phƣơng pháp mới giúp các doanh nghiệp thƣơng mại cạnh tranh trên thị trƣờng và qua đó góp phần vào sự thành công của nền kinh tế. Nhà báo ngƣời Mỹ Thomas L. Friedman (2015), một trong những chuyên gia hàng đầu thế giới về kinh tế toàn cầu hóa cũng đã khẳng định trong cuốn sách xếp hạng best seller “The Lexus and Olive”: thƣơng mại điện tử là một nguyên liệu quan trọng, nhƣ một tài nguyên, nó sẵn sàng cho bất kỳ ai khai thác, là cái chung ai cũng có thể nắm bắt, có thể biến nó thành tài sản của mình. 7 z Lƣu Đan Thọ và Tôn Thất Hoàng Hải (2015) cho rằng thƣơng mại điện tử đã mang lại những kết quả to lớn tại các nƣớc phát triển.
Thế nhƣng, ở các nƣớc đang phát triển nói chung và ở Việt Nam nói riêng, thƣơng mại điện tử dƣờng nhƣ còn là một khái niệm khá mới mẻ. Tuy nhiên, nhiều công ty và ngƣời dùng Việt Nam đã nhận thức đƣợc tầm quan trọng và lợi ích mà thƣơng mại điện tử mang lại, đồng thời đang dần tiếp cận và thực thi nó. Tại Việt Nam, sau một thời gian ngắn kết nối Internet, số ngƣời dùng Internet đã tăng với tốc độ nhanh chóng. Số trang web tiến hành thƣơng mại điện tử đang xuất hiện và gia tăng theo cấp số nhân, mặc dù chƣa thật là chuyên nghiệp.
Do một số đặc điểm khách quan và chủ quan, các website thƣơng mại điện tử của Việt Nam tuy đã thu hút đƣợc một số khách hàng nhất định. Xong, về cơ bản, thƣơng mại điện tử vẫn chƣa đƣợc coi là một mô hình kinh doanh thành công tại Việt Nam. Có thể nói yếu tố gây khó khăn chủ yếu đối với mô hình kinh doanh này vẫn là thói quen mua hàng và phƣơng thức thanh toán tại Việt Nam. Phí Mạnh Cƣờng (2013) đã chứng minh TMĐT đang trở thành phƣơng thức kinh doanh mang lại nhiều lợi ích.
Sự phát triển của công nghệ thông tin đã tạo điều kiện cho việc ứng dụng TMĐT vào trong cuộc sống hiện đại. Có thể nói TMĐT đã trở thành phƣơng thức kinh doanh đại diện cho nền kinh tế tri thức. Xu hƣớng toàn cầu hoá đã tạo điện kiện thuận lợi để TMĐT có thể phát huy đƣợc những thế mạnh của mình nhƣ: đẩy nhanh tốc độ của hoạt động kinh doanh, giảm thiểu các chi phí, vƣợt qua các trở ngại về không gian và thời gian. Tuy nhiên, để có thể thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của TMĐT thì nhà nƣớc cần nhận thức đầy đủ và sâu sắc vai trò then chốt của mình trong việc tạo lập các điều kiện về cơ chế, về hạ tầng, về pháp luật.
cho sự phát triển của TMĐT. Phạm Thị Hồng (2014) nghiên cứu ứng dụng thƣơng mại điện tử trong nông nghiệp Việt Nam, trong đó tác giả đã tổng quát hoá việc ứng dụng thƣơng mại điện tử cho nông nghiệp nói chung và ngành lúa gạo nói riêng; tác giả đề xuất cụ thể hoá một số giải pháp khả thi cho việc ứng dụng thƣơng mại điện tử cho lúa gạo Việt Nam và phân tích đánh giá hiệu quả kinh tế của việc ứng dụng TMĐT. Nghiên cứu 8 z đã chỉ ra đƣợc tầm quan trọng của TMĐT đối với sản phẩm ngành lúa gạo nói riêng và ngành công nghiệp nói chung. Nói chung, tất cả các nghiên cứu kể trên đều có đóng góp to lớn về mặt cơ sở lý luận liên quan đến TMĐT, giúp tác giả có cái nhìn tổng quan hơn về vai trò, tầm quan trọng, nhân tố tác động đến TMĐT.
Từ đó, tác giả tự xây dựng cho mình phƣơng pháp nghiên cứu, thiết kế nghiên cứu riêng nhằm mục đích xây dựng và phát triển hoàn thiện website TMĐT cho mặt hàng nông sản gắn với nông hộ ở các tỉnh miền Bắc nhƣ Hà Nội, Hải Dƣơng, Bắc Giang, Sơn La…… 1. Cơ sở lý luận về thƣơng mại điện tử và nông hộ 1. Khái niệm thương mại điện tử “Thƣơng mại điện tử” (tiếng Anh là e-commerce hoặc electronic-commerce) còn đƣợc biết đến với nhiều tên gọi khác nhau nhƣ: thƣơng mại trực tuyến (online trade), thƣơng mại phi giấy tờ (paperless commerce), kinh doanh điện tử (electronic business)… thƣờng đƣợc hiểu là thƣơng mại đƣợc tiến hành trên các phƣơng tiện điện tử và mạng viễn thông, đặc biệt là qua máy tính và mạng Internet. Do vai trò ngày càng quan trọng của thƣơng mại điện tử trong hoạt động kinh tế xã hội, nhiều tổ chức quốc tế, nhiều quốc gia đã cố gắng xác định khái niệm thƣơng mại điện tử nhằm giúp cho các cơ quan quản lý nhà nƣớc, doanh nghiệp và ngƣời dân có thể hiểu và sử dụng thƣơng mại điện tử một cách thuận tiện nhất.
Tuy nhiên, có nhiều định nghĩa thƣơng mại điện tử đƣợc nhìn nhận dƣới nhiều góc độ khác nhau, nhƣng khái quát lại thuật ngữ thƣơng mại điện tử đƣợc định nghĩa theo hai cách nhƣ sau: 1. Theo nghĩa rộng Trong luật mẫu về thƣơng mại điện tử của ủy ban Liên hợp quốc về luật thƣơng mại quốc tế (UNCITRAL), “thuật ngữ thƣơng mại đƣợc diễn giải theo nghĩa rộng để bao quát các vấn đề phát sinh từ mọi quan hệ mang tính chất thƣơng mại dù có hay không có hợp đồng. Theo quan điểm này thì thƣơng mại điện tử bao gồm tất cả các quan hệ mang tính thƣơng mại nhƣ: các giao dịch liên quan đến việc cung cấp hoặc trao đổi hàng hóa hoặc dịch vụ, thỏa thuận phân phối, đại diện hoặc đại lý 9 z thƣơng mại, ủy thác hoa hồng, cho thuê dài hạn, xây dựng các công trình, tƣ vấn, đầu tƣ, cấp vốn, liên doanh; các hình thức khác về hợp tác công nghiệp hoặc kinh doanh; chuyên chở hàng hóa hay hành khách bằng đƣờng biển, đƣờng không, đƣờng sắt hoặc đƣờng bộ”. Nhƣ vậy, có thể thấy rằng phạm vi của thƣơng mại điện tử hiểu theo nghĩa này là rất rộng, nó bao quát hầu hết các lĩnh vực hoạt động kinh tế.
Việc mua bán hàng hóa và dịch vụ chỉ là một trong hàng ngàn lĩnh vực áp dụng của thƣơng mại điện tử mà thôi. Còn theo Ủy ban Châu Âu (EC) thì “thƣơng mại điện tử đƣợc hiểu là việc thực hiện hoạt động kinh doanh qua các phƣơng tiện điện tử.