Chương 1: Cơ sở lý luận về ứng dụng thương mại điện tử trong doanh nghiệp Chương 2: Thực trạng ứng dụng thương mại điện tử trong các doanh nghiệp tại Việt Nam Chương 3: Giải pháp thúc đẩy ứng dụng thương mại điện tử trong các doanh nghiệp tại Việt Nam 10 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ỨNG DỤNG THƢƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TRONG DOANH NGHIỆP 1. TỔNG QUAN VỀ THƢƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 1. Khái niệm thƣơng mại điện tử Thương mại điện tử (Electronic commerce, e-commerce, EC) là một khái niệm tương đối rộng, vì vậy mà nó có nhiều tên gọi khác nhau như: “thương mại trực tuyến” (online trade), “thương mại điều khiển học” cybertrade), "kinh doanh điện tử" (electronic business), "thương mại không có giấy tờ" (paperless commerce, hoặc paper trade). Tuy nhiên, tên gọi thương mại điện tử được sử dụng nhiều nhất, được biết đến nhiều nhất và được coi là quy ước chung để gọi hình thức thương mại giao dịch qua mạng internet.
Hiện nay định nghĩa thương mại điện tử được rất nhiều tổ chức quốc tế đưa ra, song chưa có một định nghĩa thống nhất về thương mại điện tử. Nhìn một cách tổng quát, các định nghĩa thương mại điện tử được chia thành hai nhóm tùy thuộc vào quan điểm. Thƣơng mại điện tử đƣợc hiểu theo nghĩa hẹp: Theo Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) định nghĩa: "Thương mại điện tử bao gồm việc sản xuất, quảng cáo, bán hàng và phân phối sản phẩm được mua bán và thanh toán trên mạng internet, nhưng được giao nhận một cách hữu hình, cả các sản phẩm giao nhận cũng như những thông tin số hoá thông qua mạng internet". Theo Ủy ban Thương mại điện tử của Tổ chức Hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC), "Thương mại điện tử là công việc kinh doanh được tiến hành thông qua truyền thông số liệu và công nghệ tin học kỹ thuật số".
Theo Cục thống kê Hoa Kỳ “Thương mại điện tử là việc hoàn thành bất kỳ một giao dịch nào thông qua một mạng máy tính làm trung gian mà bao gồm việc chuyển giao quyền sở hữu hay quyền sử dụng hàng hóa và dịch vụ”. Nếu hiểu theo nghĩa hẹp, TMĐT gồm các hoạt động thương mại như mua bán hàng hóa, dịch vụ được tiến hành trên các phương tiện điện tử và internet. Các giao 11 dịch được tiến hành giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp (B2B), doanh nghiệp với cá nhân (B2C), hoặc giữa các cá nhân với nhau (C2C). Thƣơng mại điện tử theo nghĩa rộng: Theo OECD, “Thương mại điện tử gồm các giao dịch thương mại liên quan đến các tổ chức và cá nhân dựa trên việc xử lý và truyền đi các dữ kiện đã được số hóa thông qua các mạng mở (như AOL).
Trong đó, hàng hóa và dịch vụ được đặt hàng qua mạng nhưng thanh toán và phân phối có thể thực hiện ngay trên mạng hoặc không”. Theo Ủy ban Liên hợp quốc về Luật Thương mại quốc tế (UNCITRAL) định nghĩa: "Thuật ngữ thương mại [commerce] cần được diễn giải theo nghĩa rộng để bao quát các vấn đề phát sinh từ mọi quan hệ mang tính chất thương mại dù có hay không có hợp đồng. Các quan hệ mang tính thương mại commercial bao gồm, nhưng không chỉ bao gồm, các giao dịch sau đây: bất cứ giao dịch nào về cung cấp hoặc trao đổi hàng hóa hoặc dịch vụ; thoả thuận phân phối; đại diện hoặc đại lý thương mại, ủy thác hoa hồng (factoring), cho thuê dài hạn (leasing); xây dựng các công trình; tư vấn, kỹ thuật công trình (engineering); đầu tư; cấp vốn, ngân hàng; bảo hiểm; thỏa thuận khai thác hoặc tô nhượng, liên doanh và các hình thức về hợp tác công nghiệp hoặc kinh doanh; chuyên chở hàng hóa hay hành khách bằng đường biển, đường không, đường sắt hoặc đường bộ". Theo định nghĩa này, có thể thấy, TMĐT bao quát rất rộng, đề cập đến tất cả các lĩnh vực hoạt động kinh, mua bán hàng hóa và dịch vụ chỉ là một phạm vi nhỏ trong TMĐT.
Khái niệm này được viết tắt bởi 4 chữ MSDP. Trong đó: M – Marketing (có trang web, hoặc xúc tiến thương mại qua internet) S – Sales (có trang web có chức năng hỗ trợ giao dịch, ký kết hợp đồng) D – Distribution ( phân phối sản phẩm số hóa trên mạng) P – Payment (thanh toán qua mạng hay thông qua trung gian như ngân hàng) 12 Như vậy, đối với doanh nghiệp khi sử dụng các phương tiện điện tử và mạng vào trong các hoạt động kinh doanh cơ bản như marketing, bán hàng, phân phối, thanh toán thì được coi là tham gia thương mại điện tử. Ở Việt Nam, nghị định số 52/2013/NĐ-CP của chính phủ giới thiệu định nghĩa “Hoạt động thương mại điện tử là việc tiến hành một phần hoặc toàn bộ quy trình của hoạt động thương mại bằng phương tiện điện tử có kết nối với mạng internet, mạng viễn thông di động hoặc các mạng mở khác” Mặc dù trên thế giới có nhiều cách hiểu khác nhau về thương mại điện tử nhưng nhìn chung, đều thống nhất ở quan điểm cho rằng: thương mại điện tử là việc sử dụng các phương tiện điện tử để làm thương mại. Nói chính xác hơn: thương mại điện tử là việc trao đổi thông tin thương mại thông qua các phương tiện điện tử nói chung mà không cần in ra giấy trong các công đoạn của quá trình giao dịch.
Các phương tiện điện tử nói đến ở đây chính xác là các phương tiện kỹ thuật được sử dụng với mục đích tạo thuận tiện, hỗ trợ cho các hoạt động trong thương mại điện tử, bao gồm điện thoại, máy điện báo (telex) và máy fax, truyền hình, thiết bị kỹ thuật thanh toán điện tử, mạng nội bộ và mạng liên nội bộ, Internet và web. Và khái niệm thông tin không chỉ là tin tức đơn thuần mà được hiểu là bất cứ thứ gì có thể truyền tải bằng kỹ thuật điện tử, bao gồm: thư từ, các file văn bản (text based file), các cơ sở dữ liệu (database), các bảng tính (spreadsheet); các hình đồ họa (graphical image), quảng cáo, hỏi hàng, đơn hàng, bảng giá, hợp đồng, hình ảnh động (video image, avatars), âm thanh,… 1. Đặc điểm của thƣơng mại điện tử Sự phát triển của thƣơng mại điện tử gắn liền và tác động qua lại với sự phát triển của ICT. Thương mại điện tử là việc ứng dụng công nghệ thông tin vào trong mọi hoạt động thương mại, chính vì lẽ đó mà sự phát triển của công nghệ thông tin sẽ thúc đẩy thương mại điện tử phát triển nhanh chóng.
Tuy nhiên sự phát triển của thương mại điện tử cũng thúc đẩy và gợi mở nhiều lĩnh vực của ICT như phần cứng và phần mềm 13 chuyển dụng cho các ứng dụng thương mại điện tử, dịch vụ thanh toán cho thương mại điện tử, cũng như đẩy mạnh sản xuất trong lĩnh vực ICT như máy tính, thiết bị viễn thông, thiết bị mạng. Về hình thức Giao dịch thương mại điện tử là hoàn toàn qua mạng. Trong hoạt động thương mại truyền thống các bên phải gặp gỡ nhau trực tiếp để tiến hành đàm phán, giao dịch và đi đến ký kết hợp đồng. Còn trong hoạt động thương mại điện tử nhờ việc sử dụng các phương tiện điện tử có kết nối với mạng toàn cầu, chủ yếu là sử dụng mạng internet, mà giờ đây các bên tham gia vào giao dịch không phải gặp gỡ nhau trực tiếp vẫn có thể đàm phán, giao dịch được với nhau dù cho các bên tham gia giao dịch đang ở bất cứ quốc gia nào.
Ví dụ như trước kia muốn mua một quyển sách thì bạn đọc phải ra tận của hàng để tham khảo, chọn mua một cuốn sách mà mình mong muốn. Sau khi đã chọn được cuốn sách cần mua thì người đọc phải ra quầy thu ngân để thanh toán mua cuốn sách đó. Nhưng giờ đây với sự ra đời của thương mại điện tử thì chỉ cần có một chiếc máy tính và mạng internet, thông qua vài thao tác kích chuột, người đọc không cần biết mặt của người bán hàng thì họ vẫn có thể mua một cuốn sách mình mong muốn trên các website mua bán trực tuyến như amazon. Phạm vi hoạt động Trên khắp toàn cầu hay thị trường trong thương mại điện tử là thị trường phi biên giới.
Điều này thể hiện ở chỗ mọi người ở tất cả các quốc gia trên khắp toàn cầu không phải di chuyển tới bất kì địa điểm nào mà vẫn có thể tham gia vào cũng một giao dịch bằng cách truy cập vào các website thương mại hoặc vào các trang mạng xã hội. Chủ thể tham gia Trong hoạt động thương mại điện tử phải có tổi thiểu ba chủ thể tham gia. Đó là các bên tham gia giao dịch và không thể thiếu được tham gia của bên thứ ba đó là các cơ quan cung cấp dịch vụ mạng và cơ quan chứng thực, đây là những người tạo môi trường cho các giao dịch thương mại điện tử. Nhà cung cấp dịch vụ mạng.
Nhà cung 14 cấp dịch vụ mạng và cơ quan chứng thực có nhiệm vụ chuyển đi, lưu giữ các thông tin giữa các bên tham gia giao dịch thương mại điện tử, đồng thời họ cũng xác nhận độ tin cậy của các thông tin trong giao dịch thương mại điện tử. Thời gian không giới hạn Các bên tham gia vào hoạt động thương mại điện tử đều có thể tiến hành các giao dịch suốt 24 giờ 7 ngày trong vòng 365 ngày liên tục ở bất cứ nơi nào có mạng viễn thông và có các phương tiện điện tử kết nối với các mạng này, đây là các phương tiện có khả năng tự động hóa cao giúp đẩy nhanh quá trình giao dịch. Trong thƣơng mại điện tử, hệ thống thông tin chính là thị trƣờng Trong thương mại truyền thống các bên phải gặp gỡ nhau trực tiếp để tiến hành đàm phán, giao dịch và ký kết hợp đồng. Còn trong thương mại điện tử các bên không phải gặp gỡ nhau trực tiếp mà vẫn có thể tiến hành đàm phán, ký kết hợp đồng.
Để làm được điều này các bên phải truy cập vào hệ thống thông tin của nhau hay hệ thống thông tin của các giải pháp tìm kiếm thông qua mạng internet, mạng extranet….để tìm hiểu thông tin về nhau từ đó tiến hành đàm phán kí kết hợp đồng. Ví dụ giờ đây các doanh nghiệp thương mại muốn tìm kiếm các đối tác trên khắp toàn cầu thì chỉ cần vào các trang tìm kiếm như google, yahoo hay vào các cổng thương mại điện tử như trong nước là ecvn.com hay của hàn quốc là ec21.