CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ THUẾ GTGT ĐỐI VỚI DVTC 1.1 Tổng quan về thuế và thuế GTGT 1.1 Tổng quan về thuế 1.1 Khái niệm, đặc trưng của thuế a) Khái niệm Sự xuất hiện của thuế luôn gắn liền với nhu cầu chi tiêu của Nhà nước và chức năng điều hành quản lý kinh tế - xã hội của Nhà nước. Ăng-gen đã chỉ rõ: “ Để duy trì quyền lực cộng cộng cần phải có sự đóng góp của những người công dân cho Nhà nước, đó là thuế má…” [7]. Vì vậy, việc ấn định các thứ thuế và trực tiếp thực hiện thu thuế là một trong những dấu hiệu quan trọng của Nhà nước. Với dấu hiệu cơ bản đó, cùng với các dấu hiệu khác khiến cho Nhà nước khác với các tổ chức tiền nhà nước cũng như các tổ chức tồn tại song hành cùng Nhà nước trong hệ thống chính trị của một nước.
Mặc dù sự ra đời của thuế mang tính tất yếu khách quan, song trong mỗi thời kỳ, quan niệm về thuế cũng khác nhau. Trong thời kỳ cổ đại, khi sức sản xuất chưa phát triển, quan hệ trao đổi diễn ra chủ yếu dưới hình thức hiện vật thì ý niệm về thuế rất đơn giản và thuế phần lớn được thể hiện dưới dạng hiện vật và lao vụ. Sang thời kỳ hiện đại, cùng với việc mở rộng chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước và sự phát triển của các loại quan hệ hàng hóa – tiền tệ, các hình thức thuế ngày càng đa dạng, phong phú và đã được tiền tệ hóa, nên phần lớn thuế trong thời kỳ này được thể hiện dưới hình thức giá trị. Cho đến nay vẫn chưa có sự thống nhất tuyệt đối về khái niệm thuế, bởi thuế được nhìn nhận ở các góc độ khác nhau.
Trên góc độ phân phối thu nhập, thuế là hình thức phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân nhằm hình thành các quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. Trên góc độ người nộp thuế, thuế là khoản đóng góp bắt buộc mà mỗi tổ chức, cá nhân phải có nghĩa vụ đóng góp cho Nhà nước theo Luật định để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. 7 Trên góc độ kinh tế học, thuế là một biện pháp đặc biệt, theo đó, Nhà nước sử dụng quyền lực của mình để chuyển một phần nguồn lực từ khu vực tư sang khu vực công nhằm thực hiện các chức năng kinh tế-xã hội của Nhà nước. Từ đó, có thể đưa ra khái niệm tổng quát về thuế như sau: thuế thường được hiểu là một khoản chuyển giao thu nhập bắt buộc của các thể nhân và pháp nhân cho Nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật quy định nhằm sử dụng cho mục đích công cộng [1].
Bản chất của thuế: Có thể khẳng định rằng, thuế phải là một phần thu nhập của các tổ chức kinh tế và các cá nhân. Chỉ khi có thu nhập các tổ chức kinh tế và các cá nhân mới có thể nộp thuế. Vì vậy, giới hạn của thuế không thể vượt quá thu nhập được sáng tạo ra trong quá trình lao động. Điều đó cũng cho thấy khi tính toán thuế phải nộp, phải dựa trên cơ sở giá trị được sáng tạo trong mỗi quá trình lao động.
Mức thuế hợp lý sẽ được đông đảo mọi người chấp nhận. Mức thuế quá cao sẽ dẫn đến gian lận thuế, trốn thuế hoặc ngừng sản xuất kinh doanh. Thuế ra đời, phát triển đồng thời cùng với sự ra đời và phát triển của Nhà nước, thuế mang bản chất của giai cấp Nhà nước. Nhà nước đại diện cho quyền lợi của giai cấp thống trị xã hội.
Bất cứ Nhà nước nào cũng đề ra các chính sách thuế phù hợp với chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước đó. Nhà nước có chức năng quản lý cộng đồng xã hội và chức năng bảo vệ lợi ích cho giai cấp thống trị. Vì vậy, ứng với các hình thái xã hội khác nhau thì bản chất của Nhà nước cũng khác nhau. Sự khác nhau của Nhà nước được thể hiện qua nội dung của việc thu thuế như: thu thuế của ai là chủ yếu, thu như thế nào, thu để làm gì… Thuế còn thể hiện tính chất xã hội rộng rãi, bởi thuế được thu đối với toàn dân, thuế liên quan đến mọi tổ chức cá nhân trong xã hội.
Mọi người dân có nghĩa vụ đóng thuế đồng thời cũng có nghĩa vụ kiểm tra xem Nhà nước đã sử dụng các khoản đóng góp đó có hợp lý hay không. Thuế là công cụ rất có hiệu lực mà Nhà nước sử dụng để quản lý xã hội và điều tiết nền kinh tế quốc dân. Thông qua các chính sách thuế, Nhà nước sẽ tạo hành lang, môi trường để tất cả các tổ chức và cá nhân được bình đẳng, phát triển. Điều đó cho thấy việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống thuế ngày càng khoa học, đơn giản, dễ hiểu là vấn đề rất quan trọng và cần thiết.
8 b) Đặc trưng của thuế Bản chất của thuế được thể hiện bởi các thuộc tính vốn có của thuế. Những thuộc tính này biểu hiện thành những đặc trưng riêng có của thuế, qua đó giúp phân biệt giữa thuế với các công cụ tài chính khác. Các đặc trưng của thuế bao gồm: Thuế mang tính bắt buộc. Tính bắt buộc là thuộc tính cơ bản vốn có của thuế để phân biệt giữa thuế với các hình thức động viên tài chính khác của ngân sách Nhà nước.
Thuế là một phương thức phân phối của Nhà nước, theo đó một bộ phận thu nhập của người nộp thuế được chuyển giao cho Nhà nước mà không kèm theo một sự cấp phát hoặc những quyền lợi nào khác cho người nộp thuế. Thuế không mang tính hoàn trả trực tiếp. Tính không hoàn trả trực tiếp giúp phân biệt sự khác nhau giữa thuế với các khoản phí, lệ phí và tín dụng Nhà nước. Thuế chỉ được hoàn trả gián tiếp cho người nộp thuế thông qua các dịch vụ công cộng của Nhà nước.
Thuế có tính pháp lý cao. Tính pháp lý cao của thuế được quyết định bởi quyền lực chính trị của Nhà nước [1].2 Chức năng của thuế Thuế có hai chức năng là huy động nguồn lực tài chính cho Nhà nước và điều tiết kinh tế. Chức năng huy động nguồn lực tài chính cho Nhà nước. Phản ánh nguyên nhân ra đời của thuế, nhằm đảm bảo cơ sở vật chất cho sự tồn tại và hoạt động của Nhà nước.
Chức năng huy động nguồn lực tài chính đã tạo tiền đề để Nhà nước phân phối thu nhập quốc dân trong xã hội giúp Nhà nước điều tiết nền kinh tế. Trong nền kinh tế thị trường, thuế trở thành nguồn thu chiếm tỷ trọng lớn nhất trong ngân sách các nước. Chức năng điều tiết kinh tế. Chức năng này hướng các hoạt động kinh tế đi vào quỹ đạo chung, thông qua việc tác động đến lợi ích kinh tế của các chủ thể kinh tế vì lợi ích của xã hội [1].
Hai chức năng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Sự tăng cường chức năng huy động tập trung tài chính làm cho thu nhập của Nhà nước tăng lên, đồng nghĩa với việc mở rộng khả năng của Nhà nước trong việc thực hiện các chương trình kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, điều sẽ làm tăng gánh nặng thuế và do đó làm giảm động lực phát triển kinh tế và làm giảm vai trò điều tiết kinh tế. Do vậy, khi hoạch định chính sách thuế ở mỗi giai đoạn phát triển kinh tế khác nhau cần xem xét kỹ những tác động có tính hai mặt này.3 Hệ thống thuế của một quốc gia Hệ thống thuế của một quốc gia là tổng hợp các hình thức thuế khác nhau mà giữa chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau để thực hiện các nhiệm vụ nhất định của Nhà nước trong từng thời kỳ.
Căn cứ vào đối tượng chịu thuế, có thể chia các sắc thuế trong hệ thống thuế thành ba loại: thuế thu nhập, thuế tiêu dùng và thuế tài sản. Thuế thu nhập: Là các sắc thuế có đối tượng chịu thuế là thu nhập nhận được. Thu nhập này được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau: thu nhập từ lao động dưới dạng tiền lương, tiền công; thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh dưới dạng lợi nhuận, lợi tức, cổ phần. Do vậy, thuế thu nhập cũng có nhiều hình thức khác nhau: thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập công ty, thuế thu nhập doanh nghiệp.
Thuế tiêu dùng: Là các loại thuế có đối tượng chịu thuế là phần thu nhập được mang tiêu dùng trong hiện tại. Trong thực tế loại thuế tiêu dùng được thể hiện dưới nhiều dạng như thuế doanh thu, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế giá trị gia tăng. Thuế tài sản: Là các loại thuế có đối tượng chịu thuế là giá trị tài sản. Thuế tài sản thường đánh trên giá trị của tài sản cố định gọi là thuế bất động sản, đánh trên tài sản tài chính gọi là thuế động sản [1].
Hệ thống thuế được minh họa qua Hình 1-1. Hình 1-1: Hệ thống thuế Thu nhập hiện tại Thuế thu nhập (1) Thu nhập tiêu dùng Thu nhập tích lũy hiện vật Thu nhập tích lũy Thuế tiêu dùng hóa thành tài sản khác – tài sản tài (2) Thuế tài sản chính hóa (3) (4) Thu nhập tương lai Thuế thu nhập (5) (1) Thu nhập nhận được trong thời kỳ hiện tại chưa sử dụng bị đánh thuế thu nhập. (2) Thu nhập còn lại (sau thuế thu nhập) khi tiêu dùng bị đánh thuế tiêu dùng. 10 (3) Thu nhập còn lại dùng cho tích lũy tài sản hiện vật bị đánh thuế tài sản.
(4) Tài sản tích lũy khác không hiện vật hóa (tài sản tài chính) thông thường không bị đánh thuế tài sản vì thực chất chúng là những trái vụ phản ánh quyền nắm giữ tài sản của chủ sở hữu. Phần tài sản thực đã tồn tại dưới dạng hiện vật và nằm ở đâu đó trong nền kinh tế tạo nên tài sản hiện vật của người vay vốn. Đây cũng chính là một trong những lý do giải thích việc có thể đánh thuế tài sản vào toàn bộ giá trị của chúng mà không nhất thiết là chỉ đánh vào giá trị tài sản thuần. (5) Thu nhập đem tiêu dùng, mua tài sản hoặc tích lũy dưới dạng tài sản tài chính đến lượt nó lại tạo ra thu nhập tiềm năng trong tương lai và một chu kỳ đánh thuế mới lại bắt đầu.
Cả ba loại thuế trên đều được trang trải bằng thu nhập của người bị đánh thuế.