phần mở đầu, kết luận và phụ lục, luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở khoa học của đề tài Chƣơng 2: Đặc điểm địa bàn và phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận m 5 CHƢƠNG I CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Cơ sở lý luận của đề tài 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm về sản phẩm Theo cuốn Quản trị Marketing của Philip Kotler xuất bản năm 1994, “sản phẩm là bất kỳ cái gì đƣợc đƣa ra thị trƣờng để gây sự chú ý, đồng tình sử dụng hoặc tiêu thụ để thỏa mãn một nhu cầu hoặc một ƣớc muốn”.
Theo tài liệu tập huấn những kiến thức cơ bản về chƣơng trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP) của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn dành cho chủ thể tham gia chƣơng trình OCOP (năm 2020): “Sản phẩm là những gì có thể thỏa mãn nhu cầu hay mong muốn và đƣợc chào bán trên thị trƣờng với mục đích thu hút sự chú ý, mua sử dụng hay tiêu dùng”. Đơn vị sản phẩm là một chỉnh thể riêng biệt đƣợc đặc trƣng bằng đơn vị độ lứn, giá cả, vẻ về ngoài và các thuộc tính khác. Yếu tố chính cấu thành sản phẩm: Một sản phẩm hàng hóa gồm 3 yếu tố chính cấu thành sau: (1) Sản phẩm ý tƣởng: Phần cốt lõi (hạt nhân) của sản phẩm, là lợi ích ngƣời tiêu dùng có đƣợc sau khi dùng, là chức năng, hiệu quả của sản phẩm. (2) Sản phẩm hiện thực: Sản phẩm thực tế (hữu hình), bao gồm: Chất lƣợng, đặc điểm, bao bì, kiểu dáng, nhãn hiệu.
Khái niệm về sản phẩm OCOP Sản phẩm OCOP là sản phẩm, dịch vụ tham gia vào chƣơng trình OCOP, đáp ứng đƣợc các yêu cầu theo Bộ tiêu chí đánh giá, phân hạng sản phẩm và đƣợc cơ quan quản lý nhà nƣớc có thẩm quyền đánh giá và công nhận. Sản phẩm OCOP là các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ xuất phát từ ý tƣởng/nguồn nguyên liệu và lao động địa phƣơng/công nghệ của cộng đồng, do các thành viên trong cộng đồng tổ chức sản xuất và kinh doanh. m 6 * Tiêu chí sản phẩm OCOP Các sản phẩm OCOP đƣợc ƣu tiên theo 3 tiêu chí cơ bản, gồm: (1) Các đặc sản địa phƣơng (công nghệ gốc và nguyên liệu ở địa phƣơng); (2) Có gia tăng giá trị; và (3) Không ảnh hƣởng xấu đến môi trƣờng. Các tiêu chí này đƣợc cụ thể hóa thành phiếu chấm điểm trong quá trình xét chọn các ý tƣởng sản phẩm OCOP do cộng đồng khởi xƣớng.
Các tiêu chí này đƣợc xây dựng nhằm thực hiện chiến lƣợc khác biệt hóa (tiêu chí 1), bảo đảm khả năng cạnh tranh; góp phần thực hiện việc chuyển nền kinh tế Việt Nam từ chiều rộng sang chiều sâu (tiêu chí 2) và phát triển bền vững (tiêu chí 3). * Phân loại sản phẩm OCOP Các sản phẩm trong chƣơng trình OCOP đƣợc chia thành 6 nhóm, gồm: 1) Thực phẩm, gồm: - Nhóm 1: Nông sản tƣơi sống, gồm 2 phân nhóm: Phân nhóm 1.1: Rau, quả tƣơi, nhƣ rau, quả (xoài, dứa, bƣởi, chuối, quả có múi,…); Phân nhóm 1. - Nhóm 2: Sản phẩm thô và sơ chế (dùng chế biến thành các sản phẩm nhƣ đông lạnh, làm xúc xích, thịt hun khói,…), gồm 3 phân nhóm: Phân nhóm 2.1: Gạo Phân nhóm 2.2: Thịt tƣơi; Phân nhóm 2. - Nhóm 3: Thực phẩm tiện lợi, nhƣ bánh, bánh quy, kẹo, mứt, tƣơng ớt, tƣơng, muối dƣa, kim chi,.
Gồm 6 phân nhóm: Phân nhóm 3.1: Đồ ăn nhanh; Phân nhóm 3.2: Tƣơng, tƣơng ớt, nƣớc mắm,…; Phân nhóm 3.3: Chế biến từ rau, quả; Phân nhóm 3.4: Chế biến từ thịt, trứng, sữa; Phân nhóm 3.5: Chế biến từ thủy sản; Phân nhóm 3.6: Chế biến từ gạo và ngũ cốc. 2) Đồ uống, gồm: Đồ uống có cồn, nhƣ rƣợu chƣng cất, rƣợu vang, … và Đồ uống không cồn, nhƣ cà phê hòa tan, nƣớc trái cây, trà thảo dƣợc, bột quả, bột gừng, trà, trà thảo dƣợc, sữa gạo, sữa đậu nành, sản phẩm lên men,… 3) Thảo dƣợc: Các sản phẩm có thành phần từ thảo dƣợc, có tác động lên sức khỏe, nhƣ thuốc y học cổ truyền, thuốc từ dƣợc liệu, mỹ phẩm từ thảo dƣợc, chế phẩm xua đuổi/diệt trừ côn trùng, các loại rau ăn làm thuốc, ngũ cốc cho sức khỏe (thực dƣỡng), đồ uống cho sức khỏe. 4) Thủ công mỹ nghệ: Đồ từ gỗ, sợi, mây tre, kim loại, gốm sứ, dệt may,. làm đồ lƣu niệm, đồ gia dụng, đồ dùng nhà bếp, đồ nội thất, trang trí các tòa nhà,… m 7 5) Vải – may mặc: Các sản phẩm từ bông, sợi,… 6) Du lịch cộng đồng và Dịch vụ du lịch nông thôn: Các sản phẩm dịch vụ phục vụ tham quan, du lịch, giải trí, học tập, nghiên cứu,.
Cần lƣu ý các sản phẩm OCOP không đơn thuần là sản phẩm ngành nông nghiệp, mà còn thuộc lĩnh vực của các ngành khác, nhƣ Công thƣơng (thủ công mỹ nghệ), Y tế (thảo dƣợc), Văn hóa - Thể thao - Du lịch (dịch vụ du lịch). Điều đó cho thấy cần có sự tham gia của các ngành này trong Chƣơng trình OCOP mà không đơn thuần chỉ của ngành Nông nghiệp. Khái niệm về phát triển Trong phép biện chứng duy vật, khái niệm phát triển dùng để chỉ quá trình vận động theo chiều hƣớng đi lên của sự vật: từ trình độ thấp lên trình độ cao hơn. Hay Phát triển là quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của một sự vật.
Quá trình vận động đó diễn ra vừa dần dần, vừa nhảy vọt để đƣa tới sự ra đời của cái mới thay thế cái cũ. Phát triển mang tính khách quan, đó là quá trình tự thân của sự vật, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con ngƣời; mang tính phổ biến, vì nó diễn ra cả trong tự nhiên, xã hội và tƣ duy, trong mọi không gian và thời gian; mang tính đa dạng, phong phú, tức là tùy thuộc vào hình thức tồn tại cụ thể của vật chất mà phát triển diễn ra nhiều hình thức khác nhau. Các quá trình phát triển đều có tính khách quan, tính phổ biến và tính đa dạng, phong phú. - Tính khách quan của sự phát triển biểu hiện trong nguồn gốc của sự vận động và phát triển.
Đó là quá trình bắt nguồn từ bản thân sự vật, hiện tƣợng; là quá trình giải quyết mâu thuẫn của sự vật, hiện tƣợng đó. Vì vậy, phát triển là thuộc tính tất yếu, khách quan, không phụ thuộc vào ý thức của con ngƣời. - Tính phổ biến của sự phát triển đƣợc thể hiện ở các quá trình phát triển diễn ra trong mọi lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tƣ duy; trong tất cả mọi sự vật, hiện tƣợng và trong mọi quá trình, mọi giai đoạn của sự vật, hiện tƣợng đó. Trong mỗi quá trình biến đổi đã có thể bao hàm khả năng dẫn đến sự ra đời của cái mới, phù họp với quy luật khách quan.
- Tính đa dạng, phong phú của sự phát triển đƣợc thể hiện ở chỗ: phát triển là khuynh hƣớng chung của mọi sự vật, hiện tƣợng, song rnỗi sự vật, mỗi hiện tƣợng, m 8 mỗi lĩnh vực hiện thực lại có quá trình phát triển không hoàn toàn giống nhau. Tồn tại ở những không gian và thời gian khác nhau sự vật, hiện tƣợng phát triển sẽ khác nhau. Đồng thời, trong quá trình phát triển của mình, sự vật, hiện tƣợng còn chịu nhiều sự tác động của các sự vật, hiện tƣợng hay quá trình khác, của rất nhiều yếu tố và điều kiện lịch sử, cụ thể. Sự tác động đó có thể làm thay đổi chiều hƣớng phát triển của sự vật, hiện tƣợng, thậm chí có thể làm cho sự vật, hiện tƣợng thụt lùi tạm thời, có thể dẫn tới sự phát triển về mặt này và thoái hóa ở mặt khác.
Đó đều là những biểu hiện của tính phong phú, đa dạng của các quá trình phát triển. Khái niệm về phát triển sản phẩm OCOP Phát triển sản phẩm là một chuỗi những hoạt động bắt đầu từ cơ hội và kết thúc sản phẩm cuối cùng để tạo ra lợi nhuận. Phát triển sản phẩm chính là quá trình lâu dài nhằm hoàn thiện sản phẩm tới mức tối đa nhằm mục tiêu tăng thị phần của sản phẩm, tăng trƣởng kinh doanh và thoả mãn tối đa yêu cầu của khách hàng. Phát triển sản phẩm là một nội dung yêu cầu các nhà sản xuất kinh doanh phải nghiên cứu một cách tổng hợp các yếu tố nhƣ nguyên liệu, công nghệ, chất lƣợng sản phẩm, bao bì, nhãn hiệu.
thị trƣờng và các chính sách khác phục vụ cho sản phẩm của mình. Phát triển sản phẩm không có nghĩa chỉ dành cho sản phẩm đã có chỗ đứng trên thị trƣờng, mà có thể là cho một sản phẩm mới đƣợc nhen nhóm bởi một ý tƣởng có căn cứ từ nhu cầu của thị trƣờng hoặc một ý tƣởng sáng tạo từ một nghiên cứu khoa học - công nghệ đã tạo ra sản phẩm mới có khả năng tiêu thụ trên thị trƣờng. Nhƣ vậy, phát triển sản phẩm OCOP chính là quá trình nhằm hoàn thiện sản phẩm OCOP tới mức tối đa nhằm mục tiêu tăng thị phần, tăng trƣởng kinh doanh và thoả mãn tối đa yêu cầu của khách hàng. Trên góc độ quản lý, phát triển sản OCOP là quá trình mà địa phƣơng xây dựng định hƣớng, chủ trƣơng, các chính sách và các giải pháp nhằm phát triển các sản phẩm mà địa phƣơng có lợi thế và đƣợc coi là tiêu biểu, đặc sản của địa phƣơng.
Các tiêu chí để đánh giá quá trình phát triển sản phẩm đó là: Lợi nhuận, chất lƣợng sản phẩm, chi phí sản xuất, chi phí và thời gian phát triển, thị phần và khả năng hay tiềm năng phát triển. Đặc trưng cơ bản của sản phẩm OCOP 1. Sản phẩm có tính đồng nhất cao Một sản phẩm OCOP trƣớc tiên phải là sản phẩm đƣợc sản xuất ra để trao đổi mua bán đạt đƣợc độ đồng nhất cao. Nói cách khác, sản phẩm OCOP phải đƣợc sản xuất theo tập trung có thể đảm bảo đƣợc chất lƣợng, mẫu mã kiểu dáng và các tính năng khác phải giống nhau giữa các cá thể.
Sản phẩm có năng lực cạnh tranh trên thị trường Sản phẩm OCOP là những sản phẩm đảm bảo các yêu cầu về mặt chất lƣợng, thiết kế kỹ thuật, mẫu mã, kiểu dáng…theo tiêu chuẩn quy định; có khả năng tiêu thụ tốt trên thị trƣờng trong nƣớc mà còn có khả năng xuất khẩu, đồng thời có thể chiếm đƣợc ƣu thế cạnh tranh trƣớc các đối thủ khác. Trong xu thế hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, môi trƣờng cạnh tranh không còn đơn giản với không gian nhỏ hẹp trong nƣớc mà cạnh tranh hiện nay là cạnh tranh mang tính toàn cầu với nhiều phƣơng thức phức tạp.