CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG MÔI GIỚI CHỨNG KHOÁN 1. Tổng quan về công ty chứng khoán Xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực ngày càng cao, đòi hỏi các quốc gia phải thúc đẩy phát triển với tốc độ và hiệu quả cao. Thực tế cho thấy thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, thị trường chứng khoán ngày càng đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế. Năm 2020, trước tình hình đại dịch diễn nhanh chóng và khó lường khiến nền kinh tế bị ảnh hưởng vô cùng nghiêm trọng.
Tuy nhiên, TTCK lại phát triển mạnh mẽ thu hút được nhiều sự quan tâm hơn từ công chúng. Công ty chứng khoán với vai trò cầu nối giúp mọi người có thể tham gia trực tiếp vào thị trường chứng khoán. Khái niệm công ty chứng khoán Tại Khoản 1 Điều 2 Thông tư 121/2020/TT-BTC ngày 31/12/2020 quy định về hoạt đông của công ty chứng khoán có quy định như sau: “1. Công ty chứng khoán là doanh nghiệp được Uỷ bán Chứng khoán Nhà nước cấp phép thực hiện một, một số nghiệp vụ theo quy định tại Khoản 1, Điều 72, các Khoản 1,2,3,4,5 Điều 86 Luật Chứng khoán” Có thể hiểu, công ty chứng khoán là một định chế tài chính trung gian thực hiện các nghiệp vụ trên thị trường chứng khoán.
CTCK là doanh nghiệp hoạt động kinh doanh chứng khoán, thực hiện một, một số hoặc toàn bộ các nghiệp vụ: môi giới chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán. CTCK có thể tham gia vào quá trình trao đổi cổ phiếu trong thị trường với vai trò trung gian. Phân loại công ty chứng khoán 1. Theo tính chất sở hữu - Công ty hợp danh 4 Gồm 2 hoặc 3 người trở lên cùng góp vốn để tiến hành kinh doanh, trong đó phải có ít nhất 2 thành viên hợp danh ngoài ra còn có thành viên góp vốn.
Thành viên hợp danh phải là cá nhân có trình độ chuyên môn, uy tín nghề nghiệp. Với hình thái doanh nghiệp này, CTCK sẽ có được bộ máy tổ chức gọn nhẹ do số lượng thành viên ít, mức độ phân quyền có tính ổn định và công ty có độ tin cậy cao vì thành viên hợp danh là những người có trình độ, uy tín. Tuy nhiên, công ty sẽ bị hạn chế về khả năng huy động vốn vì với hình thức này, công ty không được phép phát hàng bất cứ chứng khoán nào và thành viên phải chịu trách nhiệm vô hạn đối với các khoản nợ của công ty. Với đặc điểm pháp lý đó, loại hình công ty hợp danh thường phù hợp với loại hình kinh doanh tư vấn đầu tư vì hoạt động này đòi hỏi nhân viên hành nghề phải có trình độ chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp cao.
- Công ty trách nhiệm hữu hạn Là một doanh nghiệp trong đó gồm từ 2 thành viên trở lên cùng tham gia góp vốn, thành viên có thể là cá nhân hoặc tổ chức. Hình thái này có ưu điểm hơn hợp danh ở chỗ: ● Các thành viên chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn về các khoản nợ và nghĩa vụ của công ty trên cơ sở số vốn góp. ● Huy động vốn đơn giản và linh hoạt hơn. ● Đội ngũ quản lý năng động hơn không bị bó hẹp trong một số đối tác như công ty hợp danh.
Bên cạnh đó, hình thái công ty trách nhiệm hữu hạn cũng có một số hạn chế trong vấn đề chuyển nhượng vốn góp hay việc tăng giảm số lượng thành viên cũng như công cụ được phép sử dụng để tăng thêm vốn, cụ thể: ● Việc chuyển nhượng vốn góp được thực hiện ưu tiên theo thứ tự ưu tiên cho các thành viên hiện hữu của công ty trước, sau đó mới đến các cá nhân, tổ chức ngoài công ty. 5 ● Việc tăng hay giảm số lượng thành viên cũng bị hạn chế bởi các quy định pháp luật và sự chấp thuận của các thành viên hiện hữu trong công ty. ● Công ty không được phép phát hành cổ phiếu để tăng thêm vốn. - Công ty cổ phần Là doanh nghiệp trong đó vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần.
Người sở hữu cổ phần gọi là cổ đông của công ty. Cổ đông có thể là cá nhân hoặc tổ chức, tối thiểu là ba người và không hạn chế tối đa. Đây là loại hình doanh nghiệp có ưu điểm nổi trội hơn hẳn hai hình thái doanh nghiệp nêu trước đó. ● Là loại hình doanh nghiệp duy nhất được phép huy động vốn bằng cổ phiếu, do đó khả năng tăng thêm vốn cho quá trình kinh doanh dễ dàng hơn.
● Sự tồn tại của công ty là liên tục không phụ thuộc vào việc thay đổi cổ đông. ● Rủi ro mà cổ đông gánh chịu được hạn chế ở mức nhất định trên cơ sở số vốn góp. ● Việc chuyển đổi quyền sở hữu được thực hiện dễ dàng thông qua việc mua bán cổ phiếu theo pháp luật quy định. ● Hình thức tổ chức quản lý, chế độ báo cáo và công bố thông tin tốt hơn hai loại hình công ty trên.
Tuy nhiên, đối với hình thái doanh nghiệp này thì tính ổn định về mặt tổ chức của công ty không cao bằng công ty trách nhiệm hữu hạn. Với các loại hình công ty khác nhau sẽ phù hợp với loại hình kinh doanh mà công ty chứng khoán tiến hành đăng ký kinh doanh. Tuy nhiên, với một công ty chứng khoán thực hiện đầy đủ các nghiệp vụ thì loại hình công ty cổ phần là thích hợp hơn cả. Theo nghiệp vụ kinh doanh - Công ty chứng khoán tổng hợp 6 Là công ty thực hiện tất cả các hoạt động nghiệp vụ của công ty chứng khoán.
Với hình thức CTCK tổng hợp, các hoạt động của công ty có thể hỗ trợ nhau cùng phát triển. Tuy nhiên, để có thể trở thành CTCK tổng hợp đòi hỏi các CTCK phải có tiềm lực về tài chính, đội ngũ nhân viên giỏi và hệ thống cơ sở vật chất đủ mạnh để tiến hành một cách tốt nhất các hoạt động nghiệp vụ. - Công ty chứng khoán chuyên môn hoá Là công ty chứng khoán chỉ được thực hiện một hoặc hai hoạt động nghiệp vụ. Với loại hình CTCK này thì các hoạt động mà CTCK tiến hành thực hiện phải là những hoạt động mà không dẫn tới xung đột về lợi ích giữa quyền lợi của khách hàng và quyền lợi của chính CTCK.
Ví như hoạt động môi giới với hoạt động tư vấn đầu tư chứng khoán hay hoạt động bảo lãnh phát hành với hoạt động tự doanh. CTCK chuyên môn hoá sẽ có bộ máy tổ chức gọi nhẹ hơn, quy mô vốn cũng thấp hơn CTCK tổng hợp và công ty cỏ thể tập trung mọi nguồn lực để phát triển hoạt động của mình. Nghiệp vụ của công ty chứng khoán - Môi giới chứng khoán: Nhận uỷ thác quản lý tài khoản giao dịch chứng khoán của nhà đầu tư cá nhân; thực hiện phân phối hoặc làm đại lý phân phối chứng khoán; quản lý tài khoản giao dịch chứng khoán; cung cấp dịch vụ quản lý danh sách người sở hữu chứng khoán cho các doanh nghiệp khác; Cung cấp dịch vụ giao dịch chứng khoán trực tuyến; cung cấp hoặc phối hợp với các tổ chức tín dụng cho khách hàng vay tiền mua chứng khoán hoặc cung cấp dịch vụ cho vay chứng khoán; cung cấp hoặc phối hợp với các tổ chức tín dụng cung cấp dịch vụ ứng trước tiền bán chứng khoán; lưu ký chứng khoán; bù trừ thanh toán chứng khoán; các dịch vụ trên thị trường chứng khoán phái sinh; - Tự doanh chứng khoán: được giao dịch chứng khoán trên tài khoản tự doanh chứng khoán và được đầu tư, góp vốn, phát hành, chào bán các sản phẩm tài chính; 7 - Bảo lãnh phát hành chứng khoán: được cung cấp dịch vụ tư vấn hồ sơ chào bán chứng khoán, thực hiện các thủ tục trước khi chào bán chứng khoán; đại lý lưu ký, thanh toán, chuyển nhượng chứng khoán; tư vấn tái cơ cấu, hợp nhất, sáp nhập, tổ chức lại, mua bán doanh nghiệp; tư vấn quản trị, tư vấn cổ phần hóa doanh nghiệp; - Tư vấn đầu tư chứng khoán: được ký hợp đồng cung cấp dịch vụ cho khách hàng theo quy định - Ngoài ra, công ty chứng khoán chỉ được cung cấp dịch vụ tài chính khác phù hợp với quy định của pháp luật sau khi báo cáo Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước bằng văn bản. Chức năng, vai trò của công ty chứng khoán 1.
Chức năng của công ty chứng khoán Tạo ra cơ chế huy động vốn linh hoạt giữa người có tiền nhàn rỗi đến người sử dụng vốn (thông qua cơ chế phát hành và bảo lãnh phát hành). Cung cấp cơ chế giá cả cho giao dịch (thông qua hệ thống khớp giá hoặc khớp lệnh). Tạo ra tính thanh khoản cho chứng khoán (hoán chuyển từ chứng khoán ra tiền mặt và ngược lại từ tiền mặt ra chứng khoán một cách dễ dàng). Góp phần điều tiết và bình ổn thị trường (thông qua hoạt động tự doanh hoặc vai trò nhà tạo lập thị trường).
Vai trò của công ty chứng khoán a. Đối với các tổ chức phát hành Các tổ chức phát hành chứng khoán tham gia vào thị trường chứng khoán nhằm huy động vốn. Vì vậy, thông qua hoạt động phát hành và bảo lãnh, các CTCK có vai trò tạo ra cơ chế huy động vốn phục vụ các nhà phát hành. 8 Một trong những nguyên tắc hoạt động của TTCK là nguyên tắc trung gian.
Nguyên tắc này yêu cầu những nhà đầu tư và những nhà phát hành không được mua bán trực tiếp chứng khoán mà phải thông qua các trung gian mua bán. Các công ty chứng khoán sẽ thực hiện vai trò trung gian cho cả người đầu tư và nhà phát hành. Khi thực hiện công việc này, công ty chứng khoán đã tạo ra cơ chế huy động cho nền kinh tế thông qua thị trường chứng khoán. Đối với các nhà đầu tư Thông qua các hoạt động như môi giới, tư vấn đầu tư, quản lý danh mục, CTCK có vai trò làm giảm chi phí và thời gian giao dịch, nâng cao hiệu quả các khoản đầu tư.
Đối với hàng hoá thông thường, mua bán qua trung gian sẽ làm tăng chi phí cho người mua và người bán. Tuy nhiên, đối với TTCK, sự biến động thường xuyên của giá cả chứng khoán như mức độ rủi ro cao sẽ làm cho những nhà đầu tư tốn kém chi phí, công sức và thời gian tìm hiểu thông tin trước khi quyết định đầu tư. Do đó, thông qua các CTCK, với trình độ chuyên môn cao và uy tín nghề nghiệp sẽ giúp các nhà đầu tư thực hiện các khoản đầu tư một cách hiệu quả.