Chương 1: Cơ sở lý thuyết và kinh nghiệm của một số nước về Bảo hiểm xã hội, Chương 2: Thực trạng của hệ thống tổ chức Bảo hiểm xã hội ở Việt Nam hiện nay, Chuơng 3: Kiến nghị về định hướng và giải pháp nhằm góp phần phát triển hệ thống tổ chức Bảo hiểm xã hội ở Việt Nam trong tình hình mới. 5 Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế Khương Thị Kiều Oanh Chƣơng 1 CỞ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI 1. 1- NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI. 1- Khái niệm BHXH và lịch sử phát triển Trong hai thập kỷ gần đây, cùng với sự chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN), BHXH đã được nhiều người biết đến bởi nó liên quan trực tiếp đến quyền lợi của đại bộ phận người làm công ăn lương.
Mục đích của BHXH là nhằm bù đắp hoặc thay thế thu nhập cho người lao động khi gặp rủi ro làm giảm hoặc mất nguồn thu nhập từ lao động, giúp ổn định đời sống cho người lao động cũng như gia đình họ. "BHXH là sự thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi họ bị mất hoặc giảm thu nhập do ốm đau, tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp, tàn tật, tuổi già, tử tuất… dựa trên cơ sở một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH có sự bảo hộ của nhà nước theo pháp luật, nhằm đảm đảm an toàn đời sống cho người lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần bảo đảm an toàn xã hội" (Từ điển Bách khoa Việt Nam, tập I). Đối tượng của BHXH là người lao động. Có hai hình thức BHXH là hình thức bắt buộc và hình thức tự nguyện.
Hình thức bắt buộc thường được thực hiện đối với người làm công ăn lương, vì đó là những người có công việc, thu nhập và nơi làm việc tương đối ổn định. Để bảo đảm thu chi cho quỹ BHXH cần nắm chắc số lượng và tình trạng của người phải đóng BHXH, số lượng và tình trạng của người được bảo hiểm. 6 Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế Khương Thị Kiều Oanh Hơn nữa, những đối tượng này lại được người sử dụng lao động đóng thêm phí BHXH cho họ. Mức đóng góp thường quan hệ tỷ lệ thuận với tiền lương của người lao động.
Mặt khác, tiền lương của những đối tượng này bao giờ cũng có mối quan hệ thuận với tăng trưởng kinh tế, do vậy tổng quỹ lương tăng thì quỹ BHXH cũng tăng theo. Hình thức tự nguyện áp dụng đối với người lao động thuộc khu vực phi thể chế hoá, người lao động độc lập, nông dân, … Những người này thường không có công việc, thu nhập và nơi làm việc ổn định, đặc biệt họ không được người sử dụng lao động (nếu có) đóng thêm phí cho mình. Do vậy, việc ấn định mức phí đóng góp đối với những đối tượng này không hề đơn giản, đòi hỏi phải có những cân nhắc và tính toán kỹ, và chính việc hình thành quỹ BHXH tự nguyện sẽ ảnh hưởng đến việc cân đối quỹ BHXH. Ở nhiều nước, hình thức BHXH tự nguyện thường được áp dụng sau hình thức bắt buộc và ban đầu chỉ thực hiện một số chế độ thiết yếu đối với người lao động.
Bản chất của BHXH là bảo hiểm nguồn thu nhập cho người lao động nên mức đóng và mức hưởng BHXH có liên quan chặt chẽ với tiền lương của người lao động. Mức đóng góp và mức hưởng được tính theo tỷ lệ tiền lương. 2- Sự cần thiết khách quan của BHXH và tác động của BHXH đến đời sống kinh tế - xã hội Bàn về sự cần thiết khách quan của BHXH, trước hết phải khẳng định BHXH là nhu cầu của người lao động. Điều đó được giải thích bởi việc người lao động luôn bị đe doạ bởi các rủi ro làm giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm dẫn đến giảm hoặc mất nguồn thu nhập, gây khó khăn cho cuộc sống của người lao động và gia đình họ.
Những rủi ro đó có thể do: 7 Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế Khương Thị Kiều Oanh - Qui luật "sinh - bệnh - lão - tử". Theo qui luật này, trong cuộc đời người lao động sẽ gặp rủi ro làm giảm hoặc mất nguồn thu nhập từ lao động; - Lực lượng sản xuất phát triển, một mặt thúc đẩy sản xuất tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động, mặt khác cũng gây những hậu quả không nhỏ như: tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp…; - Ô nhiễm môi trường làm cho người lao động suy giảm sức khoẻ, dễ mắc bệnh…; - Môi trường kinh tế - xã hội: kinh tế khủng hoảng hoặc kém phát triển dẫn đến tình trạng thất nghiệp, xã hội kém phát triển dẫn đến ốm đau bệnh tật, … Để khắc phục những rủi ro đó, ngay từ thời cổ đại, con người phải tự khắc phục bằng cách tự tiết kiệm, có sự cưu mang giúp đỡ của cộng đồng. Tuy nhiên, sự tương trợ này chỉ mang tính tự phát trong phạm vi hẹp. Chính vì vậy, nguồn tài chính để khắc phục rủi ro không chắc chắn.
Đến giai đoạn phân công lao động được mở rộng hơn, sản xuất xã hội phát triển, quan hệ xã hội, giữa các cá nhân và cộng đồng cũng phát triển hơn, do đó đã xuất hiện các tổ chức từ thiện nhằm giúp đỡ những người có hoàn cảnh khó khăn. Từ đầu thế kỷ 16, khi các ngành công nghiệp ra đời và phát triển thì số công nhân công nghiệp tăng dần. Đây là những người làm công ăn lương, lấy tiền lương làm nguồn sống chủ yếu. Những người này chỉ khi làm việc mới có lương, nếu ốm đau, tai nạn… phải nghỉ việc không có lương và cuộc sống bị đe doạ.
Để giảm thiểu nỗi lo của người làm công ăn lương, nhiều tổ chức với những hình thức trợ giúp xã hội lần lượt ra đời. Nhiều quỹ tiết kiệm được nhà nước khuyến khích thành lập, có sự đóng góp của người lao động và người sử dụng 8 Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế Khương Thị Kiều Oanh lao động, được dùng để chi trả cho người lao động khi ốm đau, tai nạn, chết, … Đây chính là tiền thân của các tổ chức BHXH. Đối với người lao động khi gặp rủi ro, thu nhập từ quỹ BHXH dưới hình thức BHXH trả thay tiền lương hoặc tiền công, được coi là nguồn thu nhập quan trọng (có khi là chủ yếu) để sống, để khắc phục khó khăn. Ngày nay, BHXH được pháp luật của nhiều nước ghi nhận, đã trở thành một trong những quyền con người và được Đại hội đồng Liên hợp quốc thừa nhận trong Tuyên ngôn Nhân quyền ngày 10/12/1948 như sau: "Tất cả mọi người với tư cách là thành viên của xã hội có quyền hưởng BHXH.
Quyền đó được đặt cơ sở trên sự thoả mãn các quyền về kinh tế, xã hội và văn hoá cần cho nhân cách và tự do phát triển của con người". Sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà được thành lập, Chính phủ ta cũng đã ban hành nhiều văn bản pháp luật về BHXH như: Sắc lệnh 54/SL qui định điều kiện nghỉ hưu đối với công chức, Sắc lệnh 29/SL qui định chế độ thai sản - ốm đau… Ngày 27/12/1961, Điều lệ tạm thời về BHXH ra đời kèm theo Nghị định 218/CP và Nghị định 161/CP qui định 6 chế độ BHXH đối với công nhân viên chức và người làm việc thuộc lực lượng vũ trang. Do đặc điểm quản lý kinh tế của thời kỳ này, chỉ có công nhân viên chức nhà nước mới được tham gia đóng BHXH, nguồn chi trả chủ yếu lấy từ ngân sách nhà nước. Khi Việt Nam chuyển sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, hệ thống BHXH cũng phải chuyển đổi cho phù hợp với xu hướng chung, đối tượng tham gia được mở rộng đến người lao động thuộc mọi thành phần kinh tế, người lao động phải tham gia đóng BHXH, quỹ BHXH tách ra hoạt động độc lập, tự cân đối thu chi.
9 Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế Khương Thị Kiều Oanh Những dẫn chứng mang tính lịch sử nêu trên đã chứng tỏ rẳng BHXH thực sự là nhu cầu thiết yếu của người lao động, đòi hỏi xã hội phải đáp ứng. Mức độ và hình thức đáp ứng của xã hội về BHXH cho người lao động trong các thời kỳ khác nhau dĩ nhiên là không giống nhau, do phụ thuộc vào đặc điểm kinh tế - xã hội và cơ chế vận hành của nền kinh tế trong từng thời kỳ. Sự cần thiết khách quan của BHXH còn được thể hiện từ góc độ BHXH là một bộ phận quan trọng của chính sách xã hội. Chính sách xã hội là loại chính sách được thể chế hoá bằng pháp luật của nhà nước dưới dạng hệ thống các quan điểm, chủ trương, phương hướng và biện pháp để giải quyết những vấn đề xã hội nhất định, trước hết là những vấn đề xã hội liên quan đến công bằng xã hội và phát triển an sinh xã hội, nhằm góp phần ổn định, phát triển đất nước, thúc đẩy tiến bộ xã hội.
Chính sách BHXH là một trong những chính sách xã hội cơ bản, liên quan đến quyền và lợi ích của người lao động, có vai trò to lớn trong việc ổn định đời sống cho đại bộ phận dân cư, từ đó góp phần ổn định xã hội. Chính vì vậy, nhà nước phải có sự can thiệp và điều tiết nhất định, bảo đảm việc thực hiện những quyền xã hội của người lao động. Bước vào công cuộc đổi mới, trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Đảng ta đã khẳng định: "Chính sách xã hội bao trùm mọi mặt của cuộc sống con người: điều kiện lao động và sinh hoạt, giáo dục và văn hoá, quan hệ gia đình, quan hệ giai cấp, quan hệ dân tộc…Coi nhẹ chính sách xã hội tức là coi nhẹ yếu tố con người trong sự nghiệp xây dựng CNXH". Như vậy, chính sách xã hội đã được Đảng ta nhận thức sâu sắc về vị trí và tầm quan trọng của nó trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
10 Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế Khương Thị Kiều Oanh Việc quy định người lao động phải đóng BHXH có tác dụng quan trọng trong việc phân phối lại thu nhập giữa những người tham gia.