Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Bảo hiểm xã hội (BHXH) là một trong những chính sách kinh tế - xã hội quan trọng mang tính nhân đạo và nhân văn sâu sắc, đóng vai trò là trụ cột an sinh giúp ổn định đời sống cho cán bộ, công nhân viên chức, quân nhân và người lao động thuộc các thành phần kinh tế khi gặp phải các rủi ro, biến cố làm suy giảm hoặc mất khả năng lao động. Để chính sách BHXH phát huy tối đa hiệu quả trong thực tiễn, việc thiết lập và quản lý một quỹ tài chính tập trung, độc lập với ngân sách nhà nước là điều kiện tiên quyết. Hiệu quả vận hành của quỹ phụ thuộc trực tiếp vào tính chuẩn xác, kịp thời của công tác quản lý thu và chi.

Tại huyện Giao Thủy (tỉnh Nam Định), kể từ khi Phòng BHXH huyện được thành lập và đi vào hoạt động (tháng 9/1995), công tác thu - chi quỹ BHXH đã đạt được nhiều kết quả quan trọng như: tổ chức chi trả kịp thời, đúng đối tượng; quy mô số thu và số đối tượng tham gia liên tục gia tăng qua các năm. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai tại địa phương vẫn đối mặt với không ít tồn tại, trở ngại: công tác thu chưa dứt điểm, tình trạng nợ đọng kéo dài, một số cơ sở sản xuất kinh doanh tìm cách trốn đóng BHXH, gây thất thoát nguồn thu và gia tăng gánh nặng trợ cấp lên Ngân sách Nhà nước.

Trước bối cảnh thực tiễn đó, đề tài "Thực trạng thu - chi quỹ BHXH tại phòng BHXH huyện Giao Thuỷ (Nam Định)" được thực hiện nhằm giải quyết các nhiệm vụ trọng tâm:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận về BHXH, các nguyên tắc quản lý và cơ chế hình thành, sử dụng quỹ BHXH.
  2. Khảo sát, đánh giá toàn diện thực trạng công tác thu và chi quỹ BHXH tại Phòng BHXH huyện Giao Thủy giai đoạn 1995 - 2003 (trọng tâm là giai đoạn 1999 - 2003).
  3. Xác định những hạn chế, nguyên nhân vướng mắc trong quản lý thu chi tại cơ sở, từ đó đề xuất các giải pháp khả thi nhằm hoàn thiện công tác quản lý quỹ tại địa phương và đóng góp cho hệ thống BHXH Việt Nam.

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là hoạt động thu, chi và quy trình quản lý quỹ BHXH. Phạm vi không gian nghiên cứu được giới hạn tại địa bàn huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định; phạm vi thời gian nghiên cứu căn cứ trên số liệu thực tế từ khi thành lập cơ quan (1995) đến năm 2003, với các định hướng hoàn thiện cho năm 2004 và các năm tiếp theo.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng nội dung dựa trên khung lý luận quản lý tài chính an sinh xã hội và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hiện hành tại thời điểm nghiên cứu:

  • Khung khái niệm và lý thuyết an sinh: BHXH được xác định là chế độ pháp định nhằm bảo vệ người lao động thông qua việc tập trung nguồn tài chính đóng góp từ người lao động, người sử dụng lao động và sự tài trợ của Nhà nước để trợ cấp vật chất khi người tham gia bị giảm hoặc mất thu nhập do các rủi ro (ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động, tử vong).
  • Tiêu chuẩn quốc tế và chế độ tại Việt Nam: Tác giả viện dẫn Công ước số 102 (tháng 6/1952 tại Geneva) của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) quy định 9 chế độ an sinh xã hội (ốm đau, thất nghiệp, tuổi già, tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp, gia đình, sinh đẻ, tàn phế, người còn sống). Tại Việt Nam, hệ thống thực hiện 5 chế độ cơ bản: trợ cấp ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, hưu trí, tử tuất; đồng thời thực hiện chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe theo Quyết định số 37/2001/QĐ-TTg ngày 21/3/2001 của Thủ tướng Chính phủ.
  • Hệ thống văn bản pháp lý áp dụng:
    • Điều lệ BHXH ban hành kèm theo Nghị định số 12/CP ngày 26/01/1995 của Chính phủ.
    • Nghị định số 45/CP ngày 15/07/1995 về chế độ BHXH đối với sĩ quan, hạ sĩ quan quân đội và công an nhân dân.
    • Nghị định số 09/1998/NĐ-CP ngày 23/01/1998 quy định chế độ sinh hoạt phí đối với cán bộ xã, phường, thị trấn.
    • Nghị định số 152/1999/NĐ-CP ngày 20/09/1999 áp dụng cho người lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài.
    • Các quy định xác định quỹ tiền lương làm căn cứ đóng: Nghị định số 35/NQ/UBTVQHK9, Quyết định số 69/QĐTW, Nghị định số 25/CP, Quyết định số 574/TTg, Nghị định số 06/CP (cho khối hành chính sự nghiệp, đoàn thể) và Nghị định số 26/CP (cho khối sản xuất kinh doanh).

Phương pháp nghiên cứu được tác giả vận dụng gồm: phương pháp phân tích - tổng hợp lý thuyết; phương pháp thống kê mô tả; phương pháp so sánh đối chiếu số liệu qua chuỗi thời gian; phương pháp quan sát và tổng kết thực tiễn trong quá trình thực tập tại Phòng BHXH huyện Giao Thủy. Nguồn dữ liệu phục vụ nghiên cứu là các báo cáo tài chính, báo cáo nghiệp vụ thu chi nội bộ và hệ thống sổ sách kế toán do Phòng BHXH huyện Giao Thủy cung cấp.


Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Tổng quan về BHXH và quỹ BHXH

Chương I tập trung luận giải các vấn đề lý luận nền tảng về sự hình thành và vận hành của BHXH trong nền kinh tế thị trường:

  1. Sự cần thiết và vai trò của BHXH: BHXH ra đời từ mâu thuẫn tất yếu giữa chủ sử dụng lao động và người làm thuê khi rủi ro lao động phát sinh. Nhà nước can thiệp thiết lập mối quan hệ ba bên (Nhà nước - Người sử dụng lao động - Người lao động) để dàn trải rủi ro. Khóa luận phân tích vai trò của BHXH trên 3 bình diện: đối với người lao động (bù đắp thu nhập thay thế, ổn định tâm lý), đối với người sử dụng lao động (chia sẻ gánh nặng tài chính khi có rủi ro, nâng cao năng suất), và đối với xã hội (kích cầu tiêu dùng gián tiếp, phân phối lại thu nhập theo chiều dọc và ngang, cung cấp nguồn vốn đầu tư nhàn rỗi cho nền kinh tế).
  2. Hệ thống 9 nguyên tắc cốt lõi của BHXH: Bao gồm quyền được bảo đảm an sinh của người lao động; trách nhiệm tham gia của ba bên; đóng góp để tạo lập quỹ; tuân theo quy luật số lớn (lấy số đông bù số ít); kết hợp hài hòa các loại lợi ích; mức trợ cấp thấp hơn lương khi đi làm nhưng cao hơn mức sống tối thiểu; kết hợp bắt buộc và tự nguyện; bảo đảm tính thống nhất toàn quốc đi đôi với phát huy tính năng động bộ phận; và phát triển phù hợp với từng giai đoạn kinh tế - xã hội.
  3. Bản chất và mục đích sử dụng quỹ BHXH: Quỹ BHXH là quỹ tài chính độc lập ngoài Ngân sách Nhà nước, vừa mang tính chất tiêu dùng vừa là quỹ dự phòng rủi ro. Nguồn thu của quỹ gồm 3 phần: đóng góp của người sử dụng lao động, người lao động và hỗ trợ của Nhà nước; tiền sinh lời từ hoạt động đầu tư quỹ nhàn rỗi; các khoản phạt vi phạm và tài trợ hợp pháp khác. Mục đích sử dụng quỹ tập trung vào hai nội dung: chi trả các chế độ BHXH và chi phí quản lý sự nghiệp của hệ thống.

Chương II: Tình hình thu chi quỹ BHXH tại phòng BHXH huyện Giao Thuỷ

Chương II đi sâu phản ánh đặc thù địa bàn và kết quả thực hiện nghiệp vụ thu - chi tại Phòng BHXH huyện Giao Thủy:

  1. Đặc điểm tổ chức bộ máy và địa bàn quản lý: Phòng BHXH huyện Giao Thủy được thành lập tháng 9/1995 (sau khi chia tách huyện Xuân Thủy thành hai huyện Xuân Trường và Giao Thủy), đặt dưới sự quản lý trực tiếp của BHXH tỉnh Nam Định. Cơ cấu nhân sự gồm 7 cán bộ: 01 Giám đốc phụ trách chung, 01 kế toán kiêm chi, 01 cán bộ hành chính, 02 cán bộ phụ trách thu, 01 cán bộ phụ trách chính sách và 01 cán bộ phụ trách y tế tự nguyện. Địa bàn huyện có tính chất phức tạp (giáp biển, giáp sông Hồng), kinh tế thuần nông, đánh bắt nuôi trồng thủy sản quy mô hộ gia đình, du lịch biển Quất Lâm, làm muối; ít cơ sở công nghiệp tập trung mà chỉ có một số đơn vị như Xí nghiệp muối Bạch Long, Công ty Cổ phần Xây dựng đường biển Hồng Hà, Công ty Cổ phần Xây dựng đường biển Trường Giang.
  2. Quy trình và mô hình quản lý thu: Công tác thu thực hiện theo tỷ lệ 20% tổng quỹ lương (sau khi sáp nhập thêm BHYT 3% là 23%, trong đó chủ sử dụng lao động đóng 17%, người lao động đóng 6%). Quy trình quản lý thu vận hành qua hệ thống biểu mẫu nghiệp vụ nghiêm ngặt: Mẫu C45-BH (danh sách lao động và quỹ lương), Mẫu C47-BH và C48-BH (điều chỉnh tăng giảm lao động, tiền lương), Mẫu C53-BH (sổ chi tiết), Mẫu C46-BH (đối chiếu, quyết toán quý). Tiền thu được chuyển qua tài khoản chuyên thu mở tại Ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn và Kho bạc Nhà nước huyện để tập trung về BHXH Việt Nam.
  3. Mô hình và kết quả quản lý chi: Chi trả thực hiện theo 2 mô hình: chi trực tiếp tại cơ quan BHXH huyện và chi gián tiếp qua hệ thống ban/đại lý chi trả tại các xã. Hình thức thanh toán chủ yếu bằng tiền mặt trong khung thời gian từ ngày 1 đến ngày 5 hàng tháng.

Chương III: Một số ý kiến đề xuất nhằm hoàn thiện công tác thu chi quỹ BHXH ở BHXH huyện Giao Thuỷ

Dựa trên các phân tích thực trạng, chương III đưa ra 3 nhóm kiến nghị chiến lược:

  1. Hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật và xây dựng Luật BHXH: Đề xuất sớm ban hành Luật BHXH nhằm tạo hành lang pháp lý đồng bộ, giải quyết các bất cập khi sáp nhập quản lý BHXH và BHYT. Tác giả đề xuất điều chỉnh tỷ lệ đóng BHXH từ 23% lên mức 25% tổng quỹ lương (người sử dụng lao động đóng 18%, người lao động đóng 7%) để đảm bảo cân đối thu chi dài hạn, xuất phát từ thực tế tuổi thọ trung bình của người Việt Nam đã tăng từ 50-60 tuổi (thời điểm 30 năm trước) lên mức khoảng 75 tuổi tại thời điểm nghiên cứu.
  2. Đào tạo, chuẩn hóa và sử dụng đội ngũ cán bộ: Xây dựng tiêu chuẩn chức danh rõ ràng, rà soát và bố trí cán bộ đúng chuyên môn đào tạo; định kỳ tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý tài chính; nâng cao trách nhiệm giải trình thông qua chế độ báo cáo thống kê định kỳ; cải thiện thu nhập và đời sống để tạo động lực làm việc.
  3. Mở rộng nguồn thu và diện bao phủ: Mở rộng BHXH bắt buộc sang khu vực kinh tế ngoài quốc doanh, hợp tác xã có hợp đồng lao động, hộ gia đình và làng nghề có thuê mướn lao động. Phát triển BHXH tự nguyện đối với lao động nông - lâm - ngư nghiệp và lao động tự do. Đồng thời, đẩy mạnh công tác đầu tư sinh lời từ phần quỹ tài chính nhàn rỗi theo các nguyên tắc an toàn, có lợi nhuận và bảo toàn vốn.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận tổng hợp và phản ánh chi tiết các chỉ tiêu số liệu thực tế về tình hình thu và chi quỹ BHXH tại huyện Giao Thủy giai đoạn 1999 - 2003:

Bảng 1: Tình hình thu BHXH tại BHXH huyện Giao Thủy (1999 - 2003)

Chỉ tiêu Đơn vị tính Năm 1999 Năm 2000 Năm 2001 Năm 2002 Năm 2003
Số đơn vị tham gia BHXH Đơn vị 83 89 94 99 103
Số người tham gia BHXH Người - - - - 2.543
Số tiền BHXH thu được Triệu đồng 2.205 - - - 6.283

(Nguồn: Phòng BHXH huyện Giao Thủy)

Số liệu cho thấy số thu BHXH trên địa bàn tăng gần gấp 3 lần sau 5 năm (từ 2.205 triệu đồng năm 1999 lên 6.283 triệu đồng năm 2003; trước đó năm 1995 chỉ đạt 633.098 đồng và năm 1996 đạt 1.005 triệu đồng). Mục tiêu phấn đấu cho năm 2004 đặt ra là trên 7 tỷ đồng. Số đơn vị tham gia tăng đều từ 83 đơn vị lên 103 đơn vị.

Bảng 2: Cơ cấu chi trả BHXH tại BHXH huyện Giao Thủy (1999 - 2003)

Chỉ tiêu Đơn vị tính Năm 1999 Năm 2000 Năm 2001 Năm 2002 Năm 2003
Tổng số tiền chi trả Triệu đồng 22.315 - - - -
Nguồn Ngân sách Nhà nước cấp Triệu đồng 20.326 - - - 17.200
Nguồn Quỹ BHXH tự đảm bảo Triệu đồng 2.989 - - - 3.800
Tỷ lệ NSNN cấp so với Quỹ đảm bảo Lần 10,0 - 7,1 5,7 4,4

(Nguồn: Phòng BHXH huyện Giao Thủy)

Về công tác chi trả, tỷ trọng kinh phí do Ngân sách Nhà nước phải cấp bù so với nguồn Quỹ BHXH tự đảm bảo đã giảm liên tục: từ mức gấp 10 lần (năm 1999), 7,1 lần (năm 2001), 5,7 lần (năm 2002) xuống còn 4,4 lần (năm 2003). Điều này minh chứng cho năng lực tự cân đối của quỹ tại địa phương đang dần được nâng cao. Chi tiết một số khoản chi theo nguồn năm 2003 gồm: chi trợ cấp quân đội 5.200 đồng (NSNN), tai nạn lao động 18.000 đồng (NSNN), tuất nuôi dưỡng 2.000 đồng (NSNN), mai táng phí 8.100 đồng (NSNN), trợ cấp 91 là 471.800 đồng (Quỹ BHXH).

Các hạn chế thực tiễn được chỉ ra:

  • Các đơn vị sử dụng lao động kê khai thiếu nhân sự, cố tình kéo dài thời gian thử việc của lao động mới tuyển để trốn nộp BHXH; giấu khoản phụ cấp khu vực; không báo cáo tăng lương khi người lao động được nâng bậc.
  • Tình trạng nợ đọng kéo dài, chiếm dụng 6% tiền trích từ lương của người lao động sử dụng vào mục đích khác thay vì nộp về cơ quan BHXH.
  • Bộ máy quản lý tại huyện quá mỏng (chỉ 7 cán bộ), trình độ chuyên môn một số vị trí chưa đúng chuyên ngành dẫn đến sai sót số liệu quyết toán giữa tháng, quý và năm; việc chi trả đôi khi bị chậm trễ.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận được hoàn thành trong khuôn khổ chuyên đề thực tập tốt nghiệp đại học, do đó tác giả tự nhận định công trình còn một số điểm hạn chế về mặt thời gian khảo sát và nhận thức lý luận cá nhân. Các số liệu thống kê trong văn bản chủ yếu phản ánh dữ liệu hành chính nội bộ của một địa bàn cấp huyện đặc thù (Giao Thủy, Nam Định) trong giai đoạn chuyển giao thể chế (1995 - 2003).

Hướng phát triển tiếp theo của đề tài bao gồm:

  • Mở rộng phạm vi đánh giá tác động khi dự thảo Luật BHXH chính thức được ban hành và đi vào đời sống.
  • Nghiên cứu chuyên sâu về hiệu quả kinh tế của các danh mục đầu tư quỹ BHXH nhàn rỗi ở cấp vĩ mô.
  • Khảo sát mở rộng các giải pháp quản lý rủi ro và cải tiến quy trình luân chuyển chứng từ kế toán trong điều kiện tin học hóa công tác an sinh xã hội cấp huyện.

Giá trị tham khảo

Tài liệu là nguồn tham khảo hữu ích cho sinh viên, học viên các ngành Kinh tế lao động, Bảo hiểm, Tài chính công, Quản lý hành chính công và các cán bộ đang công tác tại cơ quan BHXH cấp quận/huyện:

  • Giá trị về mặt nghiệp vụ: Cung cấp quy trình thu chi thực tế, sơ đồ luân chuyển chứng từ quản lý thu (sử dụng các mẫu biểu C45-BH, C46-BH, C47-BH, C48-BH, C53-BH) và phương thức tổ chức mạng lưới đại lý chi trả cấp xã.
  • Giá trị về mặt thực tiễn quản lý: Phản ánh chân thực các chiêu thức lách luật, trốn đóng BHXH của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh và các đơn vị sản xuất kinh doanh tại địa bàn nông thôn ven biển trong giai đoạn đầu thực hiện chính sách.

Câu hỏi thường gặp

1. Tỷ lệ đóng BHXH theo quy định tại thời điểm nghiên cứu là bao nhiêu và tác giả đề xuất thay đổi như thế nào?
Theo quy định tại thời điểm nghiên cứu (sau khi nhập 3% BHYT), tổng tỷ lệ đóng BHXH là 23% tổng quỹ lương, trong đó người sử dụng lao động đóng 17% và người lao động đóng 6% (trước đó là 20%, gồm chủ đóng 15% và thợ đóng 5%). Tác giả đề xuất điều chỉnh tăng tổng mức đóng lên 25% tổng quỹ lương, phân bổ thành: người sử dụng lao động đóng 18% và người lao động đóng 7% nhằm thích ứng với việc tuổi thọ trung bình của người dân tăng lên (đạt khoảng 75 tuổi).

2. Cơ cấu nhân sự của Phòng BHXH huyện Giao Thủy tại thời điểm nghiên cứu được phân công ra sao?
Phòng có tổng cộng 7 cán bộ, viên chức gồm: ông Nguyễn Công Hoan (Giám đốc), bà Chu Thị Vân Ánh (Kế toán kiêm bộ phận chi), bà Đặng Thị Dung (Phụ trách hành chính), bà Phạm Thị Vóc và ông Nguyễn Thành Lý (Phụ trách bộ phận thu), ông Trần Hải Triều (Phụ trách bộ phận chính sách), và ông Trần Mạnh Hùng (Phụ trách bộ phận y tế tự nguyện).

3. Đặc điểm địa lý và kinh tế nào tại huyện Giao Thủy gây khó khăn cho công tác thu BHXH?
Huyện Giao Thủy có địa hình phức tạp với một mặt giáp biển, một mặt giáp sông Hồng; cơ cấu kinh tế chủ yếu là nông nghiệp, làm muối, đánh bắt và nuôi trồng thủy sản xuất khẩu quy mô hộ gia đình, hoặc kinh doanh bãi tắm (Quất Lâm). Địa bàn chưa có khu công nghiệp tập trung mà chỉ có một vài công ty, xí nghiệp nằm rải rác (như Xí nghiệp muối Bạch Long, Công ty CP XD đường biển Hồng Hà, Công ty CP XD đường biển Trường Giang). Trụ sở BHXH lại đặt ở đầu huyện trong khi biên chế ít, gây khó khăn cho việc đôn đốc thu.

4. Mức độ phụ thuộc vào Ngân sách Nhà nước trong công tác chi trả BHXH tại Giao Thủy thay đổi như thế nào từ năm 1999 đến 2003?
Năm 1999, số chi do Ngân sách Nhà nước cấp là 20.326 triệu đồng, gấp gần 10 lần số chi do Quỹ BHXH tự đảm bảo (2.989 triệu đồng). Đến năm 2003, tỷ lệ này đã giảm xuống còn 4,4 lần (Ngân sách cấp 17.200 triệu đồng so với Quỹ đảm bảo 3.800 triệu đồng), cải thiện rõ rệt so với các năm trước đó (năm 2001 gấp 7,1 lần và năm 2002 gấp 5,7 lần).

5. Những sai phạm phổ biến của các đơn vị sử dụng lao động trong công tác trích nộp BHXH được ghi nhận là gì?
Các vi phạm chủ yếu gồm: kê khai thiếu lao động; cố tình kéo dài thời gian thử việc bất hợp lý để trốn đóng BHXH; không đưa phụ cấp khu vực vào quỹ lương trích nộp; không báo cáo kịp thời khi tăng bậc lương hoặc để người lao động nhiều năm không được thi nâng bậc; trừ 6% tiền lương của người lao động nhưng chiếm dụng vốn không nộp lên cơ quan BHXH; và không thanh toán trả 17% tiền BHXH vào lương cho lao động thời vụ theo quy định.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trần Văn Phác đã phân tích có hệ thống thực trạng quản lý thu - chi quỹ BHXH tại một địa bàn cấp huyện thuần nông, ven biển trong giai đoạn 1995 - 2003. Công trình làm nổi bật sự phát triển về quy mô số thu và sự giảm dần tỷ lệ trợ cấp từ Ngân sách Nhà nước, đồng thời chỉ rõ những lỗ hổng trong quản lý đối tượng thu và cơ chế xử lý nợ đọng tại các cơ sở sản xuất kinh doanh. Các kiến nghị về việc xây dựng Luật BHXH, điều chỉnh tỷ lệ đóng góp lên 25% và chuẩn hóa năng lực cán bộ cơ sở mang tính thực tiễn cao đối với quá trình hoàn thiện chính sách an sinh xã hội tại Việt Nam.