Chương 1 TỔNG QUAN 1. Tổng quan một số khái niệm, thuật ngữ liên quan đến sức khỏe răng miệng người cao tuổi 1. Khái niệm người cao tuổi Ngày 4/12/2009 Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết ký lệnh công bố luật số 16/2009-L-CTN ban hành Luật người cao tuổi: NCT được quy định là công dân Việt Nam từ 60 tuổi trở lên, không phân biệt nam, nữ. Thực trạng già hóa dân số 1.
Thực trạng già hóa dân số trên thế giới Già hoá dân số sẽ trở thành một vấn đề lớn ở các nước đang phát triển, dân số sẽ bị già hoá nhanh chóng trong nửa đầu của thế kỷ XXI. Đây cũng sẽ là nơi có tỷ lệ NCT tăng cao nhất và nhanh nhất, theo dự báo số NCT ở khu vực này sẽ tăng gấp 4 lần trong vòng 50 năm tới. Tỷ lệ NCT sẽ tăng từ 8% lên 19% vào năm 2025, trong khi đó tỷ lệ trẻ em sẽ giảm từ 33% xuống 22%. Hơn một nửa dân số tuổi 80 + sống ở những nước đang phát triển, dự báo sẽ tăng lên 71% vào năm 2050 [8].
Tốc độ già hóa tại các nước đang phát triển ngày càng nhanh hơn các nước phát triển (ví dụ: Pháp mất khoảng 75 năm còn ở Singapore chỉ mất 19 năm), dẫn đến xảy ra nguy cơ “Già trước khi giàu” chứ không phải “Giàu trước khi già”.5 3 Dân số toàn thế giới Tuổi từ 65 trở lên ở 2.5 các nước phát triển 2 Tuổi từ 65 trở lên ở 1.5 các nước đang phát triển 1 0. Tỷ lệ tăng trưởng trung bình hàng năm của dân số ở các nước đã phát triển và các nước đang phát triển [9] 1. Thực trạng già hóa dân số Việt Nam Tính tới cuối năm 2010, Việt Nam đã có hơn 8 triệu NCT (9,4% dân số). Tỷ lệ NCT trong tổng dân số đã tăng từ 6,9% (1979) lên 9,45% (2007), xấp xỉ ngưỡng dân số già theo quy định của thế giới.
Tỷ lệ này dự kiến là 11,24% vào năm 2020 và sẽ tăng lên tới 28,5% năm 2050. Thời gian để Việt Nam chuyển từ giai đoạn "lão hóa" sang cơ cấu dân số "già" sẽ ngắn hơn và nhanh hơn nhiều so với các nước phát triển: giai đoạn này khoảng 85 năm ở Thụy Điển, 26 năm ở Nhật Bản, 22 năm ở Thái Lan, trong khi dự kiến ở Việt Nam là 20 năm. Năm 2011 Việt Nam đã chính thức bước vào giai đoạn già hóa dân số [10],[11]. Tỷ lệ người cao tuổi tại Việt Nam [10] Tổng dân số Người cao tuổi Năm (Triệu người) (Triệu người (%)) 1979 53,74 3,71 (6,9) 1989 64,41 4,64 (7,2) 1999 76,32 6,19 (8,1) 2002 79,73 6,47 (8,6) 2004 82,03 7,34 (9,0) 5 2006 84,15 7,74 (9,2) 2010 86,927 8,171 (9,4) 2012 88,78 9,016 (10,2%) 2020 99,003 11,125 (11,24) Theo số liệu từ 3 cuộc Tổng điều tra dân số của Tổng cục thống kê Việt Nam: chỉ trong vòng 20 năm trở lại đây, số lượng NCT đã tăng gấp 2 lần.
Tuổi thọ trung bình năm 1999 là 67,4, dự kiến trong vòng 30 năm tới (1999-2029) nam sẽ là 72,6 và nữ là 78,6. Số lượng tăng từ 6,2 triệu người lên 16,5 triệu người chiếm 17,8% dân số [9]. Một số đặc điểm sinh lý, bệnh lý răng miệng ở người cao tuổi 1. Một số đặc điểm sinh lý chung Lão hóa đưa đến những thoái triển biến đổi dần và không phục hồi về hình thái và chức năng ở các cơ quan, khả năng thích nghi với những biến đổi của môi trường xung quanh ngày càng bị rối loạn.
Lão hóa bắt đầu từ da: Da cứng và nhăn nheo, tăng lớp mỡ dưới da ở bụng, ngực, đùi, mông. Mắt điều tiết kém đi, thị lực và thính lực giảm dần. Hoạt động chức năng các cơ quan, phủ tạng giảm, bài tiết dịch vị kém, hoạt động chức năng gan, thận, hệ thống nội tiết yếu đi. Sự thích ứng với những thay đổi ngoại cảnh cũng bị rối loạn.
Chức năng hô hấp giảm, chức năng tim mạch kém thích ứng với lao động nặng. Thời gian phục hồi vết thương kéo dài, xương dễ gãy do chứng loãng xương. Khả năng đáp ứng của cơ thể trước các kháng nguyên ngoại lai, vi khuẩn giảm dễ dẫn đến hiện tượng nhiễm trùng…[12]. Một số đặc điểm sinh lý ở vùng răng miệng Theo quy luật chung, từng cơ quan, bộ phận vùng răng miệng có biến đổi riêng theo xu hướng thoái triển từ từ, tạo ra những rối loạn không hồi 6 phục cả về hình thái và chức năng.
Nghiên cứu cho thấy có các biến đổi về chuyển hoá, trao đổi chất kém ở men, ngà bị xơ hoá (các ống Tome bị vôi hoá) làm cho răng dễ bị tổn thương. Hình thái răng, tiếp xúc giữa các răng, chiều dài trước - sau cung răng đều thay đổi. Các biến đổi ở tuỷ răng dẫn tới điều trị phục hồi gặp rất nhiều khó khăn. Độ dày của lớp xương răng tăng lên, đôi khi quá mức làm cho chân răng phì đại như hình dùi trống, dẫn tới khó khăn khi phải nhổ.
Các biến đổi theo tuổi làm cho mô liên kết lợi giảm khả năng chống lại các tác động lý học, lợi bị teo và co gây hở chân răng. Biểu mô phủ và mô liên kết giảm tính đàn hồi và tăng sự nhạy cảm, dễ bị tổn thương và lâu lành. Hệ thống dây chằng quanh răng thoái triển mất vai trò đệm tựa. Xương ổ răng tăng hiện tượng tiêu xương, giảm chiều cao.
Xương hàm yếu, khi gẫy thường can xấu và chậm. Khớp thái dương - hàm xơ hoá, hõm khớp nông, sụn chêm dẹt, thể tích lồi cầu giảm, dây chằng rão, xơ, cơ nhai giảm trương lực. Các chức năng nhai, nuốt đều ảnh hưởng. Tuyến nước bọt có hiện tượng giảm tiết, nước bọt ít, giảm khả năng đệm dễ gây sâu răng và tăng nguy cơ viêm nhiễm răng miệng [13].
Một số đặc điểm bệnh lý răng miệng ở người cao tuổi NCT cũng có các bệnh lý răng miệng giống như người trẻ. Những bệnh phổ biến như sâu răng, BQR có tỷ lệ mắc rất cao ở các đối tượng này. Ở NCT, do có những thay đổi về giải phẫu, sinh lý răng miệng nên biểu hiện lâm sàng của bệnh luôn phản ánh tính chất phối hợp giữa bệnh và thoái hoá, tạo ra sự khác biệt so với người trẻ tuổi. Tổn thương mô cứng hay gặp nhất là hiện tượng mòn răng, gẫy vỡ thân răng, mòn ở cổ răng và tiêu cổ chân răng hình chêm.
Bệnh lý ở tuỷ răng thường gặp là thể viêm tuỷ mạn, ít có biểu hiện lâm sàng rầm rộ. Các 7 tổn thương dạng tiền ung thư hay gặp là bạch sản, liken phẳng và hồng sản, trong đó bạch sản chiếm tỷ lệ cao nhất, khoảng 50% hồng sản là ung thư tại chỗ hay xâm lấn. Niêm mạc miệng bị tổn thương, răng bị sâu nhiều trong chứng khô miệng ở những người có bệnh tại tuyến hoặc do dùng nhiều loại thuốc có tác dụng phụ gây giảm tiết hoặc không có nước bọt. Trường hợp viêm nấm candida lan tỏa khắp khoang miệng hay gặp ở những NCT đeo hàm giả, có thể trạng yếu, suy giảm miễn dịch.
Những tổn thương sừng hoá, teo đét niêm mạc miệng, xơ hoá dưới niêm mạc xuất hiện ở các đối tượng ăn trầu, hút thuốc lá. Đặc biệt là những tổn thương ung thư niêm mạc miệng thường được phát hiện ở NCT [14]. Sâu chân răng ở người cao tuổi [14] 1. Bệnh sâu răng 1.
Định nghĩa Bệnh sâu răng là một bệnh nhiễm khuẩn của tổ chức canxi hóa được đặc trưng bởi sự hủy khoáng của thành phần vô cơ và sự phá hủy thành phần hữu cơ của mô cứng [15]. Tổn thương sâu răng là quá trình phức tạp bao gồm các phản ứng hóa lý liên quan đến sự di chuyển các ion bề mặt giữa răng và môi trường miệng, là quá trình sinh học giữa các vi khuẩn 8 mảng bám với cơ chế bảo vệ của vật chủ. Sinh bệnh học bệnh sâu răng Trước năm 1970, người ta cho rằng bệnh căn của sâu răng là do chất đường, vi khuẩn Streptococcus Mutans và giải thích nguyên nhân sâu răng bằng sơ đồ Keyes. Theo sơ đồ Keyes, việc phòng bệnh sâu răng tập trung vào chế độ ăn hạn chế đường, tiến hành vệ sinh răng miệng kỹ song kết quả phòng bệnh sâu răng vẫn bị hạn chế [16].
Sau năm 1975 người ta làm sáng tỏ hơn căn nguyên bệnh sâu răng và giải thích bằng sơ đồ White thay thế một vòng tròn của sơ đồ Keyes (chất đường) bằng vòng tròn chất nền (substrate) nhấn mạnh vai trò nước bọt (chất trung hoà - Buffers) và pH của dòng chảy môi trường quanh răng. Người ta cũng thấy rõ hơn tác dụng của fluor khi gặp hydroxyapatit của răng kết hợp thành fluoroapatit rắn chắc, chống được sự phân huỷ của acid. Bệnh sâu răng chỉ diễn ra khi cả 3 yếu tố cùng tồn tại (vi khuẩn, glucid và thời gian). Vì thế cơ sở của việc phòng chống bệnh sâu răng là ngăn chặn một hoặc cả ba yếu tố xuất hiện cùng lúc [17],[18].
Còn một yếu tố thứ tư không kém phần quan trọng là bản thân người bệnh. Các yếu tố chủ quan như tuổi tác, bất thường của tuyến nước bọt, bất thường bẩm sinh của răng có thể khiến cho khả năng mắc bệnh sâu răng tăng cao và tốc độ bệnh tiến triển nhanh. Cơ chế sinh bệnh học sâu răng được thể hiện bằng hai quá trình huỷ khoáng và tái khoáng. Nếu quá trình huỷ khoáng lớn hơn quá trình tái khoáng thì sẽ gây sâu răng.
Cơ chế gây sâu răng [19] Đầu thế kỷ 21, có nhiều quan điểm mới về sâu răng, sâu răng được biết đến như là bệnh đa yếu tố hay là bệnh đa phức hợp. Trong đó nhiều yếu tố nguy cơ thuộc về gen, môi trường và hành vi tương tác với nhau. Từ đó, chỉ ra hướng nghiên cứu nhằm dự phòng và điều trị sâu răng hiệu quả hơn [16]. Liên quan giữa các yếu tố bệnh căn-lớp lắng vi khuẩn, răng và các thành phần sinh học (vòng tròn bên trong) và các yếu tố hành vi và kinh tế - xã hội (vòng tròn ngoài) [16] 1.
Bệnh quanh răng 1. Định nghĩa Bệnh quanh răng (BQR) là bệnh nhiễm khuẩn mạn tính có liên quan đến sự phá hủy các cấu trúc nâng đỡ răng, bao gồm lợi, dây chằng quanh răng và xương ổ răng. Bệnh khởi phát do sự tích tụ vi khuẩn ở sát cổ răng. Mặc dù mảng bám là yếu tố cần thiết cho sự khởi phát bệnh, nhưng quá trình phá hủy của bệnh chủ yếu là do đáp ứng quá mức của ký chủ đối với vi khuẩn.
Vì thế, viêm quanh răng là bệnh đa yếu tố và phức tạp [20]. Bệnh quanh răng ở người cao tuổi [21] 1.