Tổng quan nghiên cứu

Dịch bệnh HIV/AIDS tiếp tục là một trong những thách thức y tế công cộng nghiêm trọng tại Việt Nam, tác động sâu sắc đến kinh tế và an sinh xã hội. Tính đến năm 2020, toàn quốc ghi nhận hàng chục ngàn trường hợp nhiễm mới và tử vong do các biến chứng liên quan đến suy giảm miễn dịch. Riêng tại Thành phố Hồ Chí Minh – đô thị có mật độ dân cư đông đúc với hơn 9 triệu người – năm 2020 đã ghi nhận 2.970 ca nhiễm HIV mới và 312 trường hợp tử vong, nâng tổng số người nhiễm HIV còn sống đang được quản lý lên khoảng 48.000 người. Thành phố đã thiết lập mạng lưới gồm 39 phòng khám ngoại trú để cung cấp dịch vụ điều trị thuốc kháng virus (ARV) cho hơn 42.000 bệnh nhân.

Trong bối cảnh nguồn viện trợ quốc tế cắt giảm mạnh mẽ và dịch bệnh có xu hướng gia tăng nhanh ở nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới (MSM), việc chuyển dịch tài chính sang quỹ Bảo hiểm y tế (BHYT) cùng việc mở rộng chương trình điều trị dự phòng trước phơi nhiễm (PrEP) trở thành chiến lược sống còn. Phòng khám ngoại trú thuộc Khoa Tham vấn Hỗ trợ Cộng đồng – Trung tâm Y tế Quận 4 là một trong những đơn vị điều trị tuyến cơ sở trọng điểm, quản lý và chăm sóc cho hơn 1.700 bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS.

Nghiên cứu được triển khai nhằm phân tích toàn diện thực trạng sử dụng thuốc ARV và thuốc PrEP tại cơ sở này trong năm 2020. Mục tiêu trọng tâm bao gồm việc mô tả cơ cấu thuốc tiêu thụ và phân tích thực hành kê đơn ngoại trú theo các quy định hiện hành của Bộ Y tế. Kết quả nghiên cứu mang lại giá trị thực tiễn to lớn trong việc cung cấp cơ sở dữ liệu khoa học giúp các nhà quản lý y tế lập kế hoạch dự trù ngân sách, tối ưu hóa danh mục thuốc và nâng cao độ an toàn, hiệu quả trong điều trị, hướng đến mục tiêu quốc gia khống chế tỷ lệ lây nhiễm HIV trong cộng đồng dưới mức 0,3%.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng nền tảng lý thuyết về liệu pháp kháng retrovirus hoạt tính cao (HAART), đòi hỏi sự phối hợp tối thiểu 3 hoạt chất ARV thuộc các nhóm dược lý khác nhau nhằm ức chế tối đa sự nhân lên của virus, phục hồi chức năng miễn dịch và hạn chế nguy cơ đột biến kháng thuốc. Khung chuyên môn chính dựa trên Hướng dẫn điều trị và chăm sóc HIV/AIDS ban hành kèm theo Quyết định số 5456/QĐ-BYT năm 2019 của Bộ Y tế, xác định phác đồ kết hợp Tenofovir disoproxil fumarate, Lamivudine và Dolutegravir (TLD) là phác đồ ưu tiên bậc 1 cho người trưởng thành.

Bên cạnh đó, nghiên cứu tích hợp lý thuyết điều trị dự phòng trước phơi nhiễm (PrEP) bằng các thuốc chứa hoạt chất Tenofovir theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), với bằng chứng lâm sàng chứng minh hiệu quả ngăn ngừa lây nhiễm HIV đạt từ 96% đến 99% khi người bệnh tuân thủ dùng thuốc đều đặn. Việc đánh giá chất lượng kê đơn được đối chiếu với Bộ chỉ số kê đơn chuẩn của WHO (năm 1993) và khung pháp lý quốc gia về quản lý khám chữa bệnh ngoại trú, bao gồm Thông tư 52/2017/TT-BYT, Thông tư 18/2018/TT-BYT và Thông tư 28/2018/TT-BYT.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng thiết kế mô tả cắt ngang, tiến hành hồi cứu số liệu sẵn có từ ngày 01/01/2020 đến ngày 31/12/2020 tại Phòng khám ngoại trú Trung tâm Y tế Quận 4. Dữ liệu được thu thập từ báo cáo thống kê dược định kỳ hàng tháng, hệ thống phần mềm quản lý bệnh án điện tử eClinica và các đơn thuốc ngoại trú thực tế.

Về cỡ mẫu nghiên cứu:

  • Mục tiêu 1 khảo sát toàn bộ 14 khoản mục thuốc ARV và PrEP lưu hành trong năm 2020.
  • Mục tiêu 2 xác định cỡ mẫu bệnh án dựa trên công thức ước lượng tỷ lệ cho quần thể xác định với mức giả định tỷ lệ nghiên cứu thăm dò là 10%, độ tin cậy 90% (tương ứng hệ số tin cậy 1,65) và độ sai lệch cho phép không quá 5%. Cỡ mẫu tính toán lý thuyết là 98 bệnh án; nghiên cứu đã chọn mẫu thực tế 100 bệnh án ngoại trú, tương ứng với toàn bộ 709 đơn thuốc và 1.058 lượt kê thuốc trong năm nghiên cứu.

Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống được áp dụng trên tổng số 1.700 hồ sơ bệnh án thỏa mãn tiêu chuẩn lựa chọn. Với khoảng cách mẫu bước nhảy bằng 17, điểm bắt đầu ngẫu nhiên được chọn tại hồ sơ số 10. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích thống kê mô tả trên phần mềm Microsoft Excel 2010 nhằm đảm bảo tính định lượng, minh bạch và phản ánh khách quan cơ cấu phân bổ chi phí, tính hợp lý của phác đồ và mức độ tuân thủ quy chế chuyên môn trong thực tế lâm sàng.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích cơ cấu thuốc cho thấy năm 2020, phòng khám đã sử dụng 12 loại thuốc ARV và PrEP chính với tổng giá trị tiêu thụ đạt trên 5,1 tỷ đồng. Thuốc Acriptega (phác đồ TLD: Tenofovir 300mg / Lamivudine 300mg / Dolutegravir 50mg) chiếm số lượng tiêu thụ cao nhất với 402.999 viên (chiếm 43,0% tổng lượng thuốc ARV). Đứng thứ hai là thuốc Lopinavir/Ritonavir 200/50mg dùng cho phác đồ bậc 2 với 195.320 viên (chiếm 21,0%). Thuốc dự phòng PrEP (Tenofovir/Emtricitabine 300/200mg) đạt sản lượng 75.811,5 viên.

Về cơ cấu nguồn cung ứng, nguồn Bảo hiểm y tế đóng vai trò chủ đạo, chi trả 63,7% tổng giá trị thuốc; Quỹ Toàn cầu chiếm 35,0%; dự án Pepfar cung ứng 100% thuốc PrEP (chiếm 5,8% tổng giá trị); trong khi nguồn ngân sách nhà nước chỉ còn chiếm 1,2%. Phân loại theo quy chế chuyên môn, thuốc thường chiếm 83,0% (10 loại) và thuốc kiểm soát đặc biệt chiếm 17,0% (2 loại). Thuốc dạng phối hợp đa thành phần chiếm tỷ lệ vượt trội 66,7% so với 33,3% thuốc đơn thành phần. Về xuất xứ, thuốc ngoại nhập chiếm tỷ trọng áp đảo lên đến 98,0% (chủ yếu từ Ấn Độ với 9/14 sản phẩm và Đức với 2 sản phẩm), trong khi thuốc sản xuất trong nước chỉ chiếm 2,0% giá trị.

Trong 709 đơn thuốc được khảo sát, 100% đơn thuốc thực hiện đúng mẫu, ghi đầy đủ họ tên, tuổi, giới tính và chẩn đoán bệnh. Phác đồ TLD bậc 1 chiếm tỷ lệ áp đảo với 73,8% (523 đơn), các phác đồ bậc 2 chiếm 16,5%. Đáng chú ý, tỷ lệ đơn thuốc ghi đầy đủ nồng độ/hàm lượng chỉ đạt 50,0%; tỷ lệ kê thuốc độc đúng quy chế đạt 75,8%; tình trạng chỉ định sai nguồn thuốc giữa viện trợ và BHYT chiếm 2,2%; và tỷ lệ đơn thuốc có sửa chữa nhưng có chữ ký xác nhận của bác sĩ đạt 2,4% (trên tổng số 4,1% đơn có chỉnh sửa).

Thảo luận kết quả

Sự chiếm ưu thế tuyệt đối của phác đồ TLD (73,8%) phản ánh sự chuyển đổi kịp thời và đồng bộ theo Quyết định 5456/QĐ-BYT. Thuốc Dolutegravir mang lại hiệu quả ức chế tải lượng virus vượt trội, giảm thiểu đáng kể các biến cố bất lợi trên hệ thần kinh trung ương so với Efavirenz trong các phác đồ TLE cũ. Tỷ trọng chi trả qua BHYT đạt 63,7% chứng minh tính hiệu quả của chiến lược chuyển giao tài chính y tế tại địa phương khi các nguồn viện trợ quốc tế đang bị thu hẹp.

Khi so sánh với các công trình nghiên cứu trước đây, tỷ lệ sử dụng phác đồ bậc 1 ưu tiên tại Quận 4 (73,8% TLD) tương đương với nghiên cứu của Đặng Thị Bích Hòa tại Quận Gò Vấp (69,1% dùng TLE) và Nguyễn Thị Quỳnh Hoa tại Hòa Bình (68,2% dùng TLE), nhưng có sự tiến bộ vượt bậc về chất lượng hoạt chất điều trị. Tuy nhiên, tồn tại 50,0% lượt kê thiếu thông tin hàm lượng và 8,8% đơn thuốc ghi thiếu địa chỉ chi tiết theo Thông tư 52/2017/TT-BYT. Tình trạng này có nét tương đồng với phát hiện của Phạm Thị Đông tại Bắc Kạn, xuất phát từ việc phần mềm khám bệnh điện tử tự động điền thông tin mặc định theo thẻ BHYT và chưa khóa các trường dữ liệu bắt buộc.

Dữ liệu cơ cấu thuốc và sự chuyển dịch kinh phí có thể được biểu diễn trực quan qua biểu đồ tròn (Pie chart) thể hiện tỷ trọng 63,7% nguồn BHYT so với các nguồn khác. Đồng thời, một biểu đồ cột chồng (Stacked Bar chart) có thể minh họa rõ nét tỷ lệ duy trì ổn định phác đồ TLD (65,9%) so với các nhóm phác đồ bậc 2, giúp các nhà quản lý nắm bắt trực quan bức tranh điều trị tại cơ sở.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Nâng cấp và chuẩn hóa phần mềm quản lý kê đơn điện tử: Thiết lập thuật toán kiểm tra bắt buộc đối với các trường thông tin nồng độ, hàm lượng và kiểm soát tự động nguồn thuốc (BHYT hay viện trợ), nhằm mục tiêu nâng tỷ lệ đơn thuốc đạt chuẩn thông tin lên 100% trước Quý 2/2023, do Tổ Công nghệ thông tin phối hợp cùng Khoa Dược Trung tâm Y tế Quận 4 chịu trách nhiệm thực hiện.
  2. Tăng cường tập huấn quy chế kê đơn ngoại trú cho đội ngũ y tế: Tổ chức định kỳ các khóa bồi dưỡng chuyên môn về Thông tư 52/2017/TT-BYT và Thông tư 28/2018/TT-BYT, đảm bảo 100% đơn thuốc sửa chữa phải có chữ ký xác nhận của bác sĩ và 100% bệnh nhân được cập nhật địa chỉ cư trú chi tiết trong vòng 6 tháng tới, dưới sự giám sát của Hội đồng Thuốc và Điều trị.
  3. Chủ động lập kế hoạch nhu cầu và thúc đẩy sử dụng thuốc trong nước: Hoàn thành việc lập dự trù nhu cầu thuốc ARV và PrEP trước ngày 10/3 hàng năm theo Thông tư 08/2018/TT-BYT; phối hợp với các nhà cung ứng nội địa nhằm nâng dần tỷ trọng thuốc sản xuất trong nước từ 2,0% hiện tại lên mức 10% đến 15% trong giai đoạn 2023 - 2025, do Ban Giám đốc và Trưởng Khoa Dược chỉ đạo.
  4. Mở rộng tư vấn tuân thủ điều trị PrEP và ARV: Đẩy mạnh hoạt động tiếp cận cộng đồng nguy cơ cao (đặc biệt là nhóm MSM), hướng tới mục tiêu duy trì tỷ lệ ức chế tải lượng virus trên 95% ở người điều trị ARV và nâng tỷ lệ tuân thủ PrEP đạt trên 90% trong giai đoạn 2023 - 2024, do Khoa Tham vấn Hỗ trợ Cộng đồng chủ trì thực hiện.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cán bộ quản lý y tế và nhà hoạch định chính sách dược: Khai thác dữ liệu thực tế về mô hình chuyển đổi tài chính y tế từ nguồn viện trợ quốc tế sang quỹ Bảo hiểm y tế (chiếm 63,7%) và quy trình lập kế hoạch dự trù mua sắm thuốc tập trung cấp quận/huyện.
  • Bác sĩ lâm sàng tại các cơ sở điều trị HIV/AIDS: Tham khảo bằng chứng thực tế từ 709 đơn thuốc ngoại trú để tối ưu hóa việc kê đơn phác đồ TLD bậc 1 (chiếm 73,8%), kiểm soát biến cố bất lợi của thuốc và phòng ngừa các sai sót hành chính trong hồ sơ bệnh án.
  • Dược sĩ bệnh viện và quản lý khoa Dược: Vận dụng phương pháp phân tích cơ cấu thuốc đơn thành phần so với đa thành phần (66,7%), kinh nghiệm quản lý 17,0% danh mục thuốc kiểm soát đặc biệt và tối ưu hóa quy trình bảo quản, cấp phát thuốc từ nhiều nguồn tài chính khác nhau.
  • Học viên sau đại học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Tổ chức & Quản lý Dược: Sử dụng luận văn làm tài liệu mẫu mực về thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang hồi cứu, áp dụng kỹ thuật chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống và bộ chỉ số kê đơn chuẩn của WHO trong đánh giá chất lượng sử dụng thuốc.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao phác đồ TLD (TDF/3TC/DTG) lại chiếm tỷ trọng kê đơn cao nhất (73,8%) tại phòng khám?

Phác đồ TLD chiếm ưu thế vượt trội với 523 đơn thuốc (73,8%) do chứa hoạt chất Dolutegravir (DTG 50mg) – thuốc ức chế men tích hợp thế hệ mới có khả năng ức chế virus mạnh, ít gây tác dụng phụ trên hệ thần kinh so với Efavirenz và có hàng rào kháng thuốc cao. Đây là phác đồ ưu tiên bậc 1 hàng đầu theo Quyết định 5456/QĐ-BYT năm 2019 của Bộ Y tế.

Việc chuyển đổi nguồn thuốc ARV sang quỹ Bảo hiểm y tế tại cơ sở đã đạt kết quả như thế nào?

Quá trình chuyển đổi tài chính diễn ra rất thành công khi nguồn Bảo hiểm y tế vươn lên chiếm tỷ trọng lớn nhất với 63,7% tổng giá trị thuốc tiêu thụ năm 2020, trong khi nguồn ngân sách nhà nước trực tiếp chỉ còn 1,2%. Điều này khẳng định tính tự chủ và bền vững của hệ thống y tế cơ sở trong bối cảnh các quỹ tài trợ quốc tế cắt giảm kinh phí.

Vai trò và thực trạng cung ứng thuốc dự phòng trước phơi nhiễm (PrEP) tại phòng khám ra sao?

Thuốc PrEP (Tenofovir/Emtricitabine 300/200mg) đạt mức tiêu thụ 75.811,5 viên trong năm 2020 và được tài trợ hoàn toàn từ dự án Pepfar (chiếm 5,8% tổng kinh phí). Chương trình PrEP cung cấp giải pháp dự phòng hiệu quả cao (đạt 96% đến 99%) cho các nhóm đối tượng có nguy cơ lây nhiễm cao, đặc biệt là nhóm quan hệ tình dục đồng giới tại địa bàn.

Những sai sót phổ biến nhất trong thực hành kê đơn ngoại trú được ghi nhận trong nghiên cứu là gì?

Nghiên cứu chỉ ra 50,0% lượt thuốc chưa ghi đầy đủ nồng độ/hàm lượng, 2,2% lượt kê sai nguồn thuốc giữa viện trợ và BHYT, và 8,8% đơn thuốc thiếu địa chỉ cư trú chi tiết của bệnh nhân. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ hạn chế tự động hóa của phần mềm kê đơn và thói quen ghi chép của bác sĩ.

Vì sao thuốc ARV sản xuất trong nước chỉ chiếm tỷ lệ 2,0% trong cơ cấu sử dụng tại phòng khám?

Thuốc nội địa chỉ chiếm 2,0% giá trị sử dụng do các doanh nghiệp dược trong nước năm 2020 chỉ cung ứng được một số thuốc đơn thành phần như Tenofovir 300mg hay Lamivudine 150mg. Trong khi đó, xu hướng điều trị hiện đại ưu tiên các dạng viên phối hợp 3 hoạt chất liều cố định (như TLD, Aluvia), buộc cơ sở phải nhập khẩu 98,0% từ Ấn Độ và Đức.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện cơ cấu sử dụng 12 loại thuốc ARV và PrEP tại Trung tâm Y tế Quận 4 năm 2020 với quy mô kinh phí tiêu thụ đạt trên 5,1 tỷ đồng.
  • Khẳng định sự bắt nhịp hiệu quả với hướng dẫn điều trị quốc gia khi phác đồ TLD bậc 1 chiếm ưu thế áp đảo 73,8% và nguồn BHYT giữ vai trò chủ lực với 63,7% giá trị.
  • Đánh giá chi tiết 709 đơn thuốc ngoại trú, ghi nhận 100% tuân thủ thủ tục hành chính chung nhưng chỉ ra 50,0% lượt kê thiếu thông tin nồng độ, hàm lượng.
  • Chỉ rõ thực trạng phụ thuộc lớn vào nguồn thuốc ngoại nhập (chiếm 98,0%) và đề xuất mục tiêu gia tăng tỷ lệ sử dụng thuốc nội địa lên 10% đến 15% giai đoạn 2023 - 2025.
  • Đóng góp luận cứ khoa học thực tiễn vững chắc giúp đơn vị chuẩn hóa phần mềm kê đơn điện tử trước năm 2024 và nâng cao chất lượng quản lý dược bệnh viện tuyến cơ sở.

Quý độc giả, cán bộ y tế và học viên chuyên ngành Dược có thể liên hệ tham khảo toàn văn luận văn để tiếp cận chi tiết các bảng biểu số liệu thống kê chuyên sâu.