Đặt vấn đề Việt Nam là một đất nước có nhiều nghề thủ công truyền thống gắn liền với lịch sử dân tộc. Các làng nghề được hình thành, tồn tại, trải qua nhiều thăng trầm và phát triển cho đến tận bây giờ, làng nghề đã góp phần gìn giữ nét đẹp văn hóa của cha ông xưa để lại và tạo điều kiện cho xã hội phát triển. Làng nghề được coi là cầu nối giữa nông nghiệp và công nghiệp ở nông thôn, giữa nông thôn và thành thị, giữa truyền thống và hiện đại. Bên cạnh đó, các làng nghề ở Việt Nam đã và đang có nhiều đóng góp cho GDP của đất nước nói chung và đối với nền kinh tế của các địa phương nói riêng.
Ngoài ra, các làng nghề còn là một trong những nơi đào tạo nghề cho lao động nông thôn, phục vụ chuyển dịch lao động từ nông nghiệp sang các ngành nghề khác trong nông thôn phù hợp với trình độ nguồn lao động nông thôn hiện nay của Việt Nam. Hiện nay, cả nước có trên 5.100 làng nghề và làng nghề truyền thống. Các làng nghề đã góp phần quan trọng giải quyết việc làm cho khoảng trên 10 triệu lao động, nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống cho người dân ở khu vực nông thôn (Long Hồ và Quốc Thanh, 2020). Nhiều làng nghề truyển thống vẫn giữ được thương hiệu sản phẩm nổi tiếng như làng gốm Bát Tràng, làng lụa Vạn Phúc, Miến dong làng So (Quốc Oai),… Nét đặc trưng rõ nét của các làng nghề đều mang phương thức truyền thống, trong phạm vi quy mô làng xóm, thôn,…Với quy mô sản xuất nhỏ, mối tiếp cận với thị trường chưa được nhiều, nguyên liệu đầu vào còn gặp nhiều khó khăn.
Bên cạnh đó lao động sử dụng trong làng nghề mang tính chất không thường xuyên, truyền đạt tay nghề theo hình thức dạy nghề, chưa được đào tạo chính thống nên chất lượng sản phẩm chưa cao, chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường trong nước và ngoài nước. Trong quá trình phát triển hiện nay, nguyên liệu chính là yếu tố quyết định tới sự tồn tại và phát triển của các làng nghề. Bên cạnh những thuận lợi hiện có, sự phát triển của các làng nghề còn gặp phải rất nhiều khó khăn như 2 thiếu vốn đầu tư cho sản xuất, giá cả đầu vào liên tục tăng,…đặc biệt là thiếu nguyên liệu phục vụ sản xuất cho các làng nghề trong thời gian gần đây. Vấn đề cơ bản cần đặt ra hiện nay là cần phải lựa chọn những ngành nghề gắn với điều kiện kinh tế- xã hội cũng như các nguồn lực sẵn có tại địa phương nhằm khai thác tận dụng các lợi thế sẵn có để sản xuất các sản phẩm nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường (Đỗ Ngọc, 2018) Huyện Hoài Đức cũng như nhiều địa phương khác trên địa bàn thủ đô Hà Nội có lịch sử phát triển lâu đời của các làng nghề, có nhiều mặt hàng thủ công truyền thống có giá trị xuất nhập khẩu và đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước.
Hiện nay, toàn huyện có 52/54 làng làm nghề, trong đó có 12 làng nghề đã được công nhận. Các làng nghề hoạt động với nhiều ngành nghề khác nhau, sản phẩm rất phong phú và đa dạng như: mỳ, miến, bột, bánh kẹo, tạc tượng, sản xuất đồ gỗ,… Các sản phẩm này chủ yếu phục vụ thị trường trong nước, một số ít được đưa ra thị trường nước ngoài tiêu thụ (Đinh Thị Lan, 2021). Một trong những loại hình làng nghề phổ biến nhất ở nông thôn Việt Nam hiện nay là làng nghề chế biến nông sản. Nói đến Hoài Đức người ta thường nói đến mảnh đất với tên của những làng nghề đã trở nên rất thân thuộc như làng nghề điêu khắc mỹ nghề Sơn Đồng, làng nghề nhiếp ảnh Lai Xá, làng nghề chế biến lương thực thực phẩm xã Cát Quế,…Đó là sự tích lũy những tinh hoa văn hóa từ bao đời nay của những con người thuần nông đôn hậu và giản dị, nằm dọc bên dòng sông đáy với những cánh đồng xanh ngát xã Dương Liễu, huyện Hoài Đức là một đặc trưng thể hiện rõ bản sắc cũng như diện mạo của 1 làng nghề Việt.
Dương Liễu là một trong những vùng trọng điểm chế biến nông sản của Hà Nội. Làng nghề sản xuất bánh kẹo, miến, bột dong của xã Dương Liễu đã phát triển từ những năm 1960. Xã có gần 3143 hộ thì trên 2.800 hộ dân làm nghề, tổng doanh thu làng nghề mỗi năm trên 300 tỷ đồng (Nguyễn Phương Anh, 2017). Trong các nghề của xã thì nghề làm miến trong những năm gần đây tạo được thương hiệu và chỗ đứng trên thị trường.
Phát triển nghề làm miến đã giúp giải quyết việc làm cho lao động và 3 những hộ gia đình trong xã Dương Liễu, nhiều hộ gia đình trước đây chỉ làm nông nghiệp, từ khi kết hợp với nghề sản xuất miến đã có cuộc sống ổn định, thu nhập cao, kinh tế khá giả. Nhờ có nghề, nhiều lao động có việc làm ổn định với thu nhập bình quân 44,2 triệu đồng/người/năm, đời sống nhân dân ngày càng tăng cao (Ánh Dương, 2019). Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của xã hội, nghề làm miến của xã dần mai một và có nguy cơ thất truyền. Hoạt động sản xuất và tiêu thụ miến của làng nghề xã Dương Liễu đã đóng góp tích cực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn; góp phần phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, tăng thu nhập cho các hộ gia đình, tạo việc làm cho lao động địa phương.
Tuy nhiên, việc phát triển sản xuất miến còn mang tính tự phát, các hộ gia đình sản xuất với quy mô hộ gia đình, đa số hộ dân tận dụng sân vườn, nhà để sản xuất nên việc sản xuất miến còn hạn chế; điều kiện trang thiết bị và phương tiện sản xuất còn sô thơ, lạc hậu; nguồn nhân lực còn bị hạn chế; nơi sản xuất miến gần khu vực trường học gây ảnh hưởng đến học sinh, nước thải chưa được xử lý; vấn đề an toàn vệ sinh, môi trường chưa được quan tâm nhiều. Vì vậy, việc nghiên cứu thực trạng làm nghề sản xuất miến luôn là những vấn đề cấp thiết để trả lời cho câu hỏi: Thực trạng làm nghề sản xuất làm miến hiện nay như thế nào? Những thuận lợi và khó khăn ảnh hưởng đến quá trình sản xuất miến của làng nghề? Chính vì vậy, tôi đã lựa chọn đề tài “Thực trạng làm nghề sản xuất miến của các hộ gia đình tại xã Dương Liễu, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội” sẽ góp phần tìm hiểu rõ hơn về tình hình sản xuất và cơ hội để phát triển nghề này trong tương lai. Mục tiêu nghiên cứu 1. Mục tiêu chung Tìm hiểu thực trạng làm nghề sản xuất miến của các hộ gia đình tại xã Dương Liễu, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội 4 1.
Mục tiêu cụ thể - Tìm hiểu đặc điểm của các hộ gia đình làm nghề miến tại làng nghề Dương Liễu, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội - Tìm hiểu thực trạng làm nghề sản xuất miến của các hộ gia đình tại xã Dương Liễu, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội - Tìm hiểu những khó khăn và thuận lợi trong quá trình sản xuất miến tại xã Dương Liễu, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội 1. Đối tượng và khách thể nghiên cứu 1. Đối tượng nghiên cứu Thực trạng làm nghề sản xuất miến tại xã Dương Liễu, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội 1. Khách thể nghiên cứu Hộ gia đình làm nghề miến tại làng nghề Dương Liễu, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội 1.
Phạm vi nghiên cứu - Phạm vi nội dung: Đề tài “Thực trạng làm nghề sản xuất miến của các hộ gia đình tại xã Dương Liễu, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội” tập trung tìm hiểu về đặc điểm của các hộ gia đình làm miến, thực trạng làm nghề sản xuất miến như: quy mô sản xuất, nguyên vật liệu, vốn, thu nhập,…Những khó khăn và thuận lợi trong quá trình làm nghề miến của các hộ gia đình. - Phạm vi không gian: Nghiên cứu được thực hiện trên địa bàn xã Dương Liễu, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội - Phạm vi thời gian: Đề tài được thực hiện từ tháng 01/2022 đến tháng 06/2022 + Thông tin thứ cấp được thu thập từ năm 2000 trở lại đây + Các hộ gia đình làm nghề miến từ năm năm trở lên tại làng nghề xã Dương Liễu 5 PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Các lý thuyết liên quan 2. Lý thuyết cấu trúc chức năng Nguồn gốc cấu trúc chức năng là lý thuyết đầu tiên quan trọng của xã hội học sự ra đời của nó được xuất phát từ triết học.
Những năm 1940 và 1945 là những năm đi đến đỉnh điểm cao và bắt đầu suy vong của thuyết cấu trúc chức năng. Lịch sử của lý thuyết cấu trúc chức năng gắn liền với tên tuổi của các nhà xã hội học như A.Come, Spencer, Parson,…(Lê Ngọc Hùng, 2002) Parsons nổi tiếng trong giới xã hội học về sơ đồ lý thuyết hệ thống xã hội viết tắt là AGIL theo 4 chữ cái của bốn tiểu hệ thống. Theo Parsons, hệ thống xã hội được cấu thành từ 4 tiểu hệ thống tương ứng với 4 loại nhu cầu, chức năng cơ bản của hệ thống xã hội. Sự phát triển của ông về lý thuyết cấu trúc chức năng thể hiện trong sơ đồ AGIL: Một chức năng là “một phức hợp các hoạt động trực tiếp hướng tới sự gặp gỡ một nhu cầu hay những nhu cầu của hệ thống”.
Parsons cho rằng, với định nghĩa này có 4 yêu cầu tất yếu đối với mọi hệ thống: Sự thích nghi, sự đạt được mục tiêu, sự hòa hợp và sự duy trì khuôn mẫu. Để tồn tại một hệ thống xã hội cần phải thực hiện 4 chức năng: Thứ nhất là thích ứng (A) có chức năng cung cấp các phương tiện, nguồn lực và năng lượng để thực hiện các mục đích đã xác định. Trong hệ thống xã hội, đây là hệ thống kinh tế Thứ hai là hướng đích (G) đóng vai trò xác định các mục tiêu và định hướng cho toàn bộ hệ thống vào việc thực hiện mục đích đã xác định. Tiểu hệ thống hướng đích trong xã hội chính là hệ thống chính trị Thứ ba là hòa hợp (I) thực hiện chức năng gắn kết các cá nhân, các nhóm và tổ chức xã hội.
Thứ tư là duy trì khuôn mẫu (L) thực hiện chức năng kích thích, động viên các cá nhân và nhóm xã hội, đồng thời đảm nhiệm chức năng quản lý và bảo trì các khuôn mẫu hành vi, ứng xử của các thành viên.