CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tàn tật và tình hình tàn tật 1. Quá trình tàn tật: 1. Khi một nguyên nhân(vật lý, hoá học, sinh học, di truyền.) làm thay đổi sinh lý, sinh hóa của cơ thể gọi là quá trình bệnh lý.
Quá trình bệnh lý thường diễn biến trở thành bệnh. Bệnh là do quá trình bệnh lý tác động vào tế bào, cơ quan, hệ thống, cơ thè của con người, ảnh hưởng đến chức năng cụ thể của cơ quan hệ thống, có thể ít hoặc nghiêm trọng đến chức năng sinh lý của cơ quan, hệ thống, cơ thể của người bệnh, có khi ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng tổn tại của người bệnh. Y học điều trị có thể tác động vào bệnh nguyên đê’ cứu sống và điều trị người bệnh. Một trong những khả năng xấu của người bệnh là dẫn đến khiếm khuyết.
Khiếm khuyết (Impairment): Là sự mất, thiếu hụt hay bất thường cấu trúc, chức năng, giải phẫu, sinh lý thường do bệnh, tai nạn tạo nên. Ví dụ: Cụt chi do vết thương chiến tranh, tai nạn lao động. Các biện pháp nhằm tránh cho người khoẻ không ốm đau, tai nạn và khiếm khuyết ta gọi là phòng ngừa tàn tật bước I, bao gồm: - Tiêm chủng mở rộng đạt tỷ lệ cao nhất. - Phát hiện bệnh sớm, điều trị kịp thời.
- Đảm bảo dinh dưỡng cho xã hội, đặc biệt là bà mẹ và trẻ em. - Giáo dục sức khoẻ trong toàn dân. - Bảo vệ bà mẹ trẻ em, kế hoạch hóa gia đình tốt. - Bảo vệ môi trường sống trong cộng đồng.
- Phát triển mạng lưới phục hổi chức năng rộng khắp, đặc biệt là phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng. Giảm chức nâng (Disability) Là mất hoặc giảm một phần hay nhiều chức năng nào đó của cơ thể do khiếm khuyết tạo nên. Ví dụ: - Do mất chi. đi lại hoạt động trở ngại.
- Do chậm phát triển tâm thần trẻ khó khăn về học tập. Các biện pháp ngăn ngừa tình trạng khiếm khuyết dẫn đốn giảm chức năng gọi là phòng ngừa tàn tật bước II, bao gồm: - Điều trị tốt bệnh và phục hồi chức năng các trường hợp khiếm khuyết. - Tạo mọi công ăn việc làm cho NTT - Phát triển phục hồi chức năng. Tàn tật (handicap): Là tình trạng người bệnh do khiếm khuyết, giảm khả năng cản trớ người đó thực hiện vai trò của mình để tổn tại trong cộng đồng mà phải phụ thuộc một phần hoặc hoàn toàn vào ng ười khác để có thể tồn tại, trong lúc người khác cùng tuổi, giới, hoàn cảnh thực hiện được.
Có thể nói bệnh nguyên ảnh hưởng trực tiếp đến cơ thể người bệnh, trong khi đó, với tàn tật, không chỉ vai trò của bản thân người bệnh bị ảnh hưởng mà cả xã hội. Vì vậy, cách giải quyết bệnh và tàn tật khác nhau. Để phòng ngừa giảm chức năng khỏi trở thành tàn tật gọi là phòng ngừa tàn tật bước III, bao gồm các biện pháp phòng ngừa bước I, II. Nguyên nhân tàn tật: 1.
Do bệnh, tuổi cao, tai nạn, dị tật bẩm sinh. Bản thân tàn tật tạo ra tàn tật. Thái độ sai lệch của xã hội đối với tàn tật. Do nền y học chưa có màng lưới PHCN tốt, y học quá lạc hậu, hoặc quá tiến triển.
Phân loại tàn tật: Có nhiều cách phân loại tàn tật. Để dễ thống kê, điều tra cơ bản, thường người ta chia tàn tật ra ba nhóm: + Tàn tật do rối loạn tâm thần, kể cả trẻ em bị chậm phát triển trí tuệ. + Tàn tật thể chất (physically handicap) bao gồm: 6 a) Tàn tật do bệnh cơ quan vận động - Spastics: liệt co cứng do tổn thương não. - Bại liệt do tổn thương ở tuỷ.
- Do các bệnh về khớp, xương - Liệt do tổn thương thần kinh ngoại biên. b) Tàn tật do các cơ quan giác quan. - Do bệnh về mắt. - Các bệnh về cơ quan thính giác.
- Các bệnh ảnh hưởng đến ngôn ngữ. c) Tàn tật do bệnh các cơ quan nội tạng (organically handicap): là người có một hoặc nhiều cơ quan mất chức năng ngăn cản người đó thực hiện vai trò cùa mình trong xã hội như: d) Các bệnh tim mạch. e) Các bệnh về sinh dục, tiết niệu. f) Các bệnh về nội tiết.
g) Đa tàn tật: Đó là người tàn tật mắc hai tàn tật trở lên như: người đíêc nhưng lại bị mù. Với phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng, người ta chỉ nêu lên 7 nhóm tàn tật thường gặp trong nhân dân: - Khó khăn về vận động. - Khó khăn về học. - Khó khăn về nhìn.
- Khó khăn về nghe, nói. - Người có hành vi xa lạ (các bệnh tâm thần). - Người bị động kinh. - Người bị mất cảm giác (bệnh phong).
Hiện nay, tàn tật được chia thành 8 nhóm, nhóm thứ 8 là nhóm bị tàn tật do các bệnh bẩm sinh nội tạng. Hậu quả của tàn tật: Nêu không có biện pháp phòng ngừa PHCN. tàn tật sẽ xảy ra và là một hậu quả nặng nề cho xã hội, gia đình và chính bản thân người tàn tật. + Đối với xã hội: - Bản thân người tàn tật không tham gia quá trình sản xuất trong xã hội.
- Xã hội phải chi một sô' vốn, giúp đỡ người tàn tật. - Thái độ xã hội sai trái, thường không chú ý đến nhu cầu của người tàn tật và không đánh giá đúng vai trò của họ. + Đối với gia đình: - Người tàn tật không được tham gia các hoạt động trong gia đình. - Gia đình không những không có thu nhập của người tàn tật mà còn phải tốn thòi gian và ti ền của để chăm sóc nuôi dưỡng họ.
- Thường bị dư luận xã hội dèm pha. + Đối với bản thân người tàn tật: - 90% trẻ em tàn tật chết sớm. - Tỉ lệ mắc bệnh hiểm nghèo rất cao. - Họ thường bị thất học, ít có dịp học - Thất nghiệp cao, thu nhập thấp.
- Không có cơ hội lập gia đình. - Bị xã hội coi thường, không đếm xỉa đến nhu cầu, bị xa lánh, tách biệt và đối xừ bất bình đẳng. Tình hình tàn tật trên thế giới: Theo WHO và Liên Hợp quốc, trên Thế giới, vào năm 1996 có khoảng 500 triệu người tàn tật do các nguyên nhân khác nhau, trong đó 140 triệu là trẻ em, chủ yếu tại các nước đang phát triển. Tỷ lệ tàn tật 10% dân số trong đó 3% có nhu cầu PHCN [10].
Trong 10% dân s ố b ị tàn t ật này có kho ảng 6% đã tự hoà nhập, 1% cần sự chăm sóc đặc biệt và 3% còn lại đã và đang có nhu c ầu v ề kỹ thu ật phục hồi. mặt khác sự gia tăng thêm số người tàn ph ế, t ỷ l ệ tàn t ật hàng năm trên th ế gi ới 1,63% [13]. 8 Riêng tại khu vực Tây Thái Bình Dương, trong số kho ảng 100 tri ệu NTT đang s ống thì có khoảng 75% chưa nhận được chăm sóc Y tế và bảo trợ xã hội[ 10]. WHO ước tính có hơn 98% người tàn tật bị bỏ mặc hoặc bị quên lãng ở các nước đang phát triển [13].
Theo WHO, tỷ lệ các dạng tàn tật như sau [13] : Nhóm khó khăn về vận động chiếm 36,9% Nhóm khó khăn về nhìn chiếm 27,8% Nhóm khó khăn về học chiếm 8,6% Nhóm động kinh chiếm 6,4% Nhóm hành vi xa lạ chiếm 7,9% Nhóm mất cảm giác chiếm 1.6% Nhóm tàn tật khác chiếm 24,5% Tỷ lệ của một số dạng tàn tật ở các nước đang phát triển cao h ơn ở các n ước công nghi ệp. Những người tàn tật ở các nước đang phát triển có tu ổi th ọ ng ấn h ơn. Ở m ột s ố n ước đang phát triển, hầu hết trẻ em sinh ra bị tàn tật hoặc mắc phải trong năm đầu thường không sống đến 20 tuổi. Tương tự những người bị tàn tật ờ các nước đang phát triển thấp hơn ở các nước công nghiệp.
Khi tì lệ tử vong ở trẻ giảm, tuổi thọ tăng lên do phục vụ y tế tốt hơn, thì tỷ lệ tàn tật tại những nước này sẽ tới 10% dân số [14]. Tình hình tàn tật tại Việt Nam: Việt nam là một quốc gia phải gánh chịu hậu quả chiến tranh nặng nề, nền kinh tế đang phát triển, bệnh dịch lưu hành và tỷ lệ chấn thương có xu hướng ngày một tăng[l] nên tỷ lệ tàn tật cũng không thấp. Tại Việt Nam, chưa có một nghiên cứu nào trên phạm vi cả nước để xác định mô hình tàn tật, do không có điều kiện thực hiện điều tra, và cũng chưa cần thiết. Qua một số nghiên cứu , tỷ lệ tàn tật ở Việt Nam ước tính 6 - 7%[ 15].
Theo tác giả Cao Minh Châu và cộng sự, ở Việt Nam tỉ lệ NTT qua điều tra theo phương pháp “đi từng nhà” tại những nơi có chương trình PHCNDVCĐ chiếm khoảng 6,4% dân số[7]. 9 Theo số liệu của bộ Y tế (1999). tỉ lệ NTT trong cả nước là 5,4%. Trong đó nhóm khó khăn về vận động chiếm 42%.
tiếp đến nhóm khó khăn về học 23%. nhóm khó khăn nghe nói 22%, nhóm khó khãn về nhìn 7%, nhóm hành vi xa lạ 4%, nhóm động kinh 1%, nhóm mất cảm giác 1%. Tỷ lệ NTT có nhu cầu PHCN là 47% [15].Phục hồi chức năng: 1. Định nghĩa phục hồi chức năng: Phục hổi chức năng bao gồm các biện pháp y học, kinh tê' xã h ội h ọc, giáo d ục và kỹ thu ật phục hồi làm giảm tối đa tác động giảm chức năng và tàn tật, bảo đảm cho người tàn tật (do hậu quả của ốm đau và tai nạn, tật bẩm sinh, tuổi cao.) hội nhập và tái hội nhập xã hội.
có những cơ hội bình đẳng, tham gia vào các hoạt động xã hội. Phục hồi chức nãng bao gồm các biện pháp tập luyện thay đổi môi tr ường, xã h ội, trong đó không chỉ y tế, cộng đồng xã hội mà chính bàn thân người tàn tật và gia đình phải tham gia vạch kế hoạch, triển khai các biện pháp phục hồi chức năng một cách thích hợp. Phục hồi chức năng là một phương pháp nhờ đó người khuyết tật được hoàn lại sức khỏe và khả năng tự hoạt động trong cuộc sống cùa mình. Phục hồi chức năng là một ý niệm mới, nhất là ở nhiều nước người thầy thuốc chưa sẩn sáng đảm nhận trách nhiệm của mình đối với phục hổi chức năng cho người tàn tật.