Chương 1: Giới thiệu. Giới thiệu tổng quan về vần đề nghiên cứu, lý do lựa chọn đề tài, mục đích nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu để có thể xác định rõ mục tiêu cũng như đề tài mà khóa luận hướng đến. Chương 2: Cơ sở lý luận về tín dụng ngân hàng và hoạt động cho vay SXKD của NHTM. Chương này sẽ giới thiệu cơ sở lý luận về tín dụng ngân hàng, khái niệm, phân loại, vai trò của tín dụng ngân hàng cũng như giới thiệu về hoạt động cho vay SXKD của NHTM.
Bên cạnh đó, chương 2 cũng sẽ cung cấp thêm những chỉ tiêu để đánh giá hoạt động tín dụng nói chung và hoạt động cho vay SXKD nói riêng, làm cơ sở cho việc phân tích ở những chương sau. Chương 3: Thực trạng cho vay SXKD tại Ngân hàng TMCP Xuất Nhập Khẩu – PGD Thanh Đa. Chương 3 sẽ phân tích thực trạng cho vay SXKD của Eximbank PGD Thanh Đa trong giai đoạn 2010-2012, qua việc đánh giá các vấn đề như tình hình huy động vốn, doanh số cho vay, tình hình dư nợ cũng như thu nợ. Bên cạnh đó, sử dụng các chỉ tiêu định tính để đánh giá về thực trạng hoạt động cho vay SXKD tại PGD Thanh Đa.
SVTH: Nguyễn Như Quỳnh 2 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS Trần Thế Sao Chương 4: Các giải pháp nâng cao chất lượng và phát triển hoạt động cho vay SXKD của Eximbank PGD Thanh Đa. Chương này sẽ đề cập đến 2 vấn đề: thứ nhất là mục tiêu và phương hướng phát triển của Eximbank PGD Thanh Đa, thứ hai là đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng cũng như hiệu quả đối với hoạt động cho vay SXKD của PGD. SVTH: Nguyễn Như Quỳnh 3 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS Trần Thế Sao CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGHIỆP VỤ CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2.1 NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG 2.1 Khái niệm về tín dụng ngân hàng Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng trong một khoảng thời gian nhất định với một khoảng chi phí nhất định. (Nguyễn Minh Kiều, 2007, tr.305) Tín dụng ngân hàng là một giao dịch về tài sản giữa bên cho vay (ngân hàng và các định chế tài chính khác) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác), trong đó bên đi vay sử dụng vốn vay trong một thời hạn nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán.2 Đặc trưng của tín dụng ngân hàng Thứ nhất, tín dụng ngân hàng dựa trên cơ sở lòng tin.
Bản thân từ tín dụng xuất phát từ tiếng la-tinh “creditium” có nghĩa là “sự giao phó” hay “sự tín nhiệm”. Nghiên cứu khái niệm tín dụng cũng cho ta thấy tín dụng là sự cho vay có hứa hẹn thời gian hoàn trả. Sự hứa hẹn biểu hiện “mức tín nhiệm” hay “lòng tin” của người cho vay vào người đi vay. Yếu tố lòng tin tuy vô hình nhưng không thể thiếu trong quan hệ tín dụng, đây là yếu tố bao trùm trong hoạt động tín dụng, là điều kiện cần cho quan hệ tín dụng phát sinh.
Lòng tin trong quan hệ tín dụng được biểu hiện chủ yếu từ phía người cho vay đối với người đi vay bởi lẽ người cho vay là người giao phó tiền bạc hoặc tài sản của họ cho người khác sử dụng. Thứ hai, tín dụng là sự chuyển nhượng một tài sản có thời hạn. Khác với các quan hệ mua bán thông thường khác (sau khi trả tiền người mua trở thành chủ sở hữu của vật mua hay còn gọi là “mua đứt bán đoạn”), quan hệ tín dụng chỉ trao đổi quyền sử dụng giá trị khoản vay chứ không trao đổi quyền sở hữu khoản vay. Người cho vay giao giá trị khoản vay dưới dạng hàng hoá hay tiền tệ cho người kia sử dụng trong một thời gian nhất định.
Sau khi khai thác giá trị sử dụng của khoản vay trong thời hạn cam kết, người đi vay phải hoàn trả toàn bộ giá trị khoản vay cộng thêm khoản lợi tức hợp lý kèm theo như cam kết đã giao ước với người cho vay. SVTH: Nguyễn Như Quỳnh 4 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS Trần Thế Sao Thứ ba, tín dụng phải trên nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi. Xuất phát từ việc ngân hàng đi vay để cho vay vì vậy sau một thời hạn đã được quy định khách hàng phải hoàn trả tiền cho ngân hàng để ngân hàng hoàn trả tiền cho người gửi. Tiền lãi thu được từ sự chênh lệch lãi suất sẽ giúp ngân hàng bù đắp, trang trải chi phí hoạt động.
Thứ tư, tín dụng là hoạt động tiềm ẩn rủi ro cao cho ngân hàng. Rủi ro tín dụng là loại rủi ro lớn nhất và thường xuyên xảy ra trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Rủi ro tín dụng xảy ra khi bên đi vay không thực hiện được việc thanh toán tiền vay theo thời hạn và điều kiện trong hợp đồng làm cho người cho vay phải gánh chịu tổn thất tài chính.3 Nguyên tắc của tín dụng ngân hàng Từ các đặc điểm trên cho thấy, tín dụng ngân hàng phải đảm bảo được hai nguyên tắc cơ bản sau: Thứ nhất, vốn vay phải được sử dụng đúng mục đích. Sử dụng vốn đúng mục đích đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.
Khi khách hàng và ngân hàng đi đến cam kết vay vốn – cho vay vốn tức hai bên đã có một sự đồng ý, sự nhất quán về mục đích sử dụng vốn được thể hiện trong hợp đồng. Về phía ngân hàng, quyết định cho vay được phê duyệt dựa trên sự thẩm định về chất lượng của dự án. Việc đảm bảo thực hiện đúng hợp đồng, sử dụng vốn đúng cam kết không những mang lại sự chắc chắn trong khả năng thu hồi vốn cho ngân hàng mà còn lợi cho khách hàng. Bởi việc sử dụng vốn đúng mục đích góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay, đảm bảo khả năng trả nợ cho khách hàng.
Hơn nữa, nó giúp khách hàng đảm bảo được uy tín và xây dựng mối quan hệ tốt với ngân hàng. Thứ hai, vốn vay phải được hoàn trả cả gốc và lãi đúng thời hạn đã cam kết trong hợp đồng. Sở dĩ có điều này là do nguồn vốn cho vay được hình thành từ nguồn vốn mà ngân hàng đi huy động từ các cá nhân tổ chức. Về bản chất, các khoản huy động này sẽ được ngân hàng hoàn trả cả vốn và lãi cho người gửi tiền đúng hạn, do đó đòi hỏi các khoản mà ngân hàng cho vay cũng phải đảm bảo được hoàn trả đúng hạn, góp phần giảm thiểu rủi ro thanh khoản cho ngân hàng.4 Vai trò của tín dụng ngân hàng 2.1 Điều hòa vốn, thúc đẩy sản xuất và lưu thông hàng hóa, đẩy nhanh quá trình tái sản xuất mở rộng kinh tế.
Tình trạng thừa, thiếu vốn tạm thời xảy ra thường xuyên ở các doanh nghiệp. Ngân hàng hoạt động như chiếc cầu nối giữa người có nguồn vốn nhàn rỗi và người có nhu cầu về vốn để đầu tư trong nền kinh tế. Qua việc phân phối vốn, tín dụng đã góp phần SVTH: Nguyễn Như Quỳnh 5 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS Trần Thế Sao điều hòa vốn, tạo điều kiện cho quá trình sản xuất được diễn ra liên tục mà còn mở rộng sản xuất, cải tiến kỹ thuật, tăng tính cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường.2 Tín dụng góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế Tín dụng là một công cụ hữu hiệu để thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Nếu muốn khuyến khích ngành nghề hoặc thành phần kinh tế nào phát triển, Nhà nước sẽ thông qua kênh tín dụng ngân hàng thực hiện ưu đãi tín dụng với ngành nghề, thành phần đó.
Từ đó ngân hàng sẽ tạo điều kiện để các doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận nguồn vốn vay, trở thành đòn bẩy giúp ngành nghề đó phát triển. Trong quá trình chuyển dịch từ nền kinh tế tự cung tự cấp sang nền kinh tế nhiều thành phần, chúng ta phải có những biện pháp để thúc đẩy sự tăng trưởng của các ngành công nghiệp, du lịch, thương mại, dịch vụ. Bởi nước ta có ngành nông nghiệp chiếm tỷ trọng quá lớn trong khi tỷ trọng các ngành khác còn quá thấp. Để làm được điều này, chính sách tín dụng đóng vai trò đặc biệt quan trọng.
Chú trọng vào công tác tín dụng sẽ là một biện pháp để thực hiện thành công sự nghiệp công nghệp hóa hiện đại hóa đất nước.3 Tín dụng góp phần ổn định tiền tệ và ổn định giá cả Thông qua tín dụng, ngân hàng huy động được một lượng lớn tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế, thực hiện cho vay, đầu tư vào SXKD mà không cần phát hành thêm tiền mặt. Qua đó, ngân hàng thực hiện nghĩa vụ điều hòa vốn giữa các vùng, các ngành, các thành phần kinh tế, việc quản lý và lưu thông tiền tệ được diễn ra thuận lợi hơn. Tín dụng được cấp đối với tất cả các đối tượng thuộc các thành phần kinh tế nhưng có sự lựa chọn cho những khách hàng có khả năng làm ăn hiệu quả nhằm ổn định kinh tế, tiền tệ và góp phần kiềm chế lạm phát.4 Tín dụng góp phần ổn định đời sống, tạo công ăn việc làm, ổn định trật tự xã hội Nền kinh tế phát triển trong một môi trường ổn định là điều kiện nâng cao dần đời sống của các thành viên trong xã hội, là điều kiện thực hiện tốt hơn các chính sách xã hội. Vốn tín dụng được cung ứng tạo điều kiện cho các doanh nghiệp khai thác các tiềm năng sẵn có trong xã hội, từ đó thu hút lực lượng lao động của xã hội, tạo ra nhiều công ăn việc làm cho người dân.5 Phân loại tín dụng ngân hàng Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, ngoài cho vay còn có các hình thức cấp tín dụng khác như: chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán… Về phần phân loại tín dụng ngân hàng (sau đây được xem xét với ý nghĩa là cho vay) được phân loại các loại sau: SVTH: Nguyễn Như Quỳnh 6 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS Trần Thế Sao 2.1 Căn cứ theo mục đích sử dụng Theo tiêu chuẩn này cho vay được phân biệt dựa vào mục đích sử dụng vốn.