CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGHIỆP VỤ BAO THANH TOÁN (FACTORING) 1.1 SƠ LƯỢC VỀ NGHIỆP VỤ BAO THANH TOÁN (FACTORING) 1.1 Lịch sử hình thành Nghiệp vụ BTT xuất phát từ hoạt động đại lý hưởng hoa hồng khoảng 2000 năm trước dưới thời đế chế La Mã. Là đại lý, họ nắm giữ quyền sở hữu hàng hóa của bên ủy nhiệm – bên cung ứng sản phẩm nước ngoài – rồi giao hàng hoá đó cho người mua trong nước, ghi sổ và thu nợ khi đến hạn, tiến hành chuyển dư nợ cho bên ủy nhiệm sau khi đã trừ phần hoa hồng của mình Sự phát triển của nền công nghiệp Anh quốc thế kỷ 14, 15 đã nâng cao tầm quan trọng của các đại lý BTT. Khi các đại lý dần dần tin cậy vào thiện chí trả nợ, vào uy tín của người mua trong nước, họ bắt đầu cấp tín dụng cho bên ủy nhiệm mình (bên bán/nhà xuất khẩu) để thu được hoa hồng nhiều hơn. Với khoản hoa hồng nhiều hơn này, các đại lý BTT bắt đầu bảo đảm khả năng trả nợ của người mua bằng cách hứa trả nợ đúng hạn cho người ủy nhiệm trong tương lai, kể cả trong trường hợp bên mua không trả được nợ đúng hạn.
Các đại lý thanh toán dần lớn mạnh và có đủ vốn bắt đầu ứng trước một phần cho bên ủy nhiệm mình dựa trên số tiền phải thu của người mua trong tương lai. Dựa trên những khoản ứng trước này mà đại lý hưởng hoa hồng tính thêm phí hoa hồng hay lãi suất. Để giảm thiểu rủi ro không thanh toán hay hàng hóa bị hư hỏng, bị giao thiếu mà bên mua hàng không thanh toán hoặc thanh toán không hết giá trị khoản phải thu mà đại lý BTT không tạm ứng toàn bộ số tiền doanh thu bán hàng. Phần giữ lại sẽ được thanh toán hết khi bên mua thanh toán hết cho đại lý BTT.
Vào thời điểm Columbus phát hiện ra Châu Mỹ năm 1492, đại lý BTT phát triển với cả hai chức năng marketing và chức năng tài chính. Đến thế kỷ 16, chế độ thực dân Mỹ ra đời và phát triển mạnh, hoạt động mua bán thông thương phát triển mạnh và cùng với nó là vai trò ngày càng tăng và nhiều cơ hội mới cho hoạt động BTT phát triển – nó đặc biệt hữu ích với những người TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 2 thiết lập hoạt động kinh doanh ở Mỹ. Khoảng cách giữa Châu Âu và Mỹ là rất lớn, nhất là khi Mỹ mở rộng biên giới về phía Tây. Khoảng cách địa lý càng xa càng làm vòng quay vốn lưu động của nhà sản xuất, người bán chậm lại – bắt đầu từ khâu sản xuất, giao hàng, chờ thanh toán đến khi được thanh toán: đây là khoản thời gian dài, các nhà sản xuất/người bán bị chôn vốn và có thể gây khó khăn cho hoạt động kinh doanh tiếp theo.
Do đó, nhà sản xuất/người bán ở Châu Âu thường ủy nhiệm cho đại lý BTT ở Mỹ các khoản phải thu của mình. Với sự thông thạo thị trường và những người mua hàng trong nước, các đại lý BTT ở Mỹ đã cung cấp cho các nhà sản xuất Châu Âu những dịch vụ marketing và tài chính. Đến cuối thế kỷ 19, Mỹ phát triển thành một quốc gia chủ quyền và ít bị phụ thuộc vào hàng hóa nước ngoài. Công nghiệp sản xuất của Mỹ phát triển mạnh kéo theo sự phát triển của hoạt động marketing đã làm cho vai trò marketing của các đại lý BTT bị giảm đi.
Tuy nhiên, một lần nữa các đại lý BTT lại phát triển và điều chỉnh theo nhu cầu kinh tế mới trong nước, tập trung vào tài chính, tín dụng, thu nợ, kế toán Đầu thế kỷ 20, khi nền công nghiệp Mỹ phát triển các ngành may mặc, phụ kiện, đồ nội thất và thảm thì các đại lý BTT cũng phát triển sang những lĩnh vực này. Đến giữa thế kỷ 20, nghiệp vụ BTT của Mỹ phát triển sang các ngành như: điện, hóa chất, sợi tổng hợp. Ngày nay, nghiệp vụ BTT đã mở rộng ra nhiều ngành nghề khác như: giao nhận, cung cấp nhân sự, quảng cáo, thiết kế đồ họa … 1.2 Khái niệm BTT Có nhiều định nghĩa khác nhau về BTT: Theo Từ điển kinh tế (Dictionary of economic – Christopher & Bryan Lones) “BTT –factoring- là một sự dàn xếp tài chính, qua đó một công ty tài chính chuyên nghiệp (công ty mua nợ - factor firm) mua lại các khoản nợ của một công ty với một số tiền ít hơn giá trị của khoản nợ đó. Lợi nhuận phát sinh từ sự chênh lệch giữa tiền thu được của số nợ đã mua và giá mua thực tế của món nợ đó.
Lợi ích của công TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 3 ty bán nợ là nhận được tiền ngay thay vì phải chờ đến lúc con nợ trả nợ, hơn nữa lại tránh được những phiền toái và các chi phí trong việc theo đuổi các con nợ chậm trả”. Theo Công ước về BTT quốc tế UNIDROIT 1988 (Unidroit Convention on Internatonal Factoring) thì: “BTT là một dạng tài trợ tín dụng bằng việc mua bán các khoản nợ ngắn hạn trong giao dịch thương mại giữa tổ chức tài trợ và bên cung ứng, theo đó tổ chức tài trợ thực hiện tối thiểu hai trong số các chức năng sau: tài trợ bên cung ứng gồm cho vay và ứng trước tiền, quản lý sổ sách liên quan đến các khoản phải thu, thu nợ của các khoản phải thu, bảo đảm rủi ro không thanh toán của bên mua hàng”. Theo tổ chức BTT quốc tế - FCI: BTT là một dịch vụ tài chính trọn gói bao gồm sự kết hợp giữa tài trợ vốn hoạt động, phòng ngừa rủi ro tín dụng, theo dõi các khoản phải thu và dịch vụ thu hộ. Đó là sự thỏa thuận giữa đơn vị BTT và người cung ứng hàng hóa dịch vụ hay còn gọi là người bán hàng trong quan hệ mua bán hàng hóa.
Theo như thỏa thuận đơn vị BTT sẽ mua lại khoản phải thu của người bán dựa trên khả năng trả nợ của người mua trong quan hệ mua bán hàng hóa hay còn gọi là con nợ trong quan hệ tín dụng. Ngoài ra, đối với một số tổ chức cung cấp dịch vụ BTT khác thì nghiệp vụ BTT được định nghĩa là việc mua lại các khoản phải thu, hay việc cung cấp tài trợ tài chính ngắn hạn thông qua việc trả các khoản phải thu ngay lập tức bằng tiền mặt để cải thiện dòng ngân lưu của khách hàng đồng thời nhận lấy rủi ro tín dụng. Các dịch vụ đi kèm gồm có quản lý nợ, quản lý sổ cái bán hàng, xếp hạng hạn mức tín dụng và thu hộ. Tóm lại, BTT là việc người bán hàng chuyển nhượng cho đơn vị BTT tất cả các quyền và lợi ích liên quan tới những khoản phải thu ngắn hạn(1) của người bán hàng phát sinh từ việc mua bán hàng hoá hoặc cung cấp dịch vụ giữa người bán và người mua để người bán được đơn vị BTT cung cấp ít nhất một trong bốn chức năng chủ yếu của BTT như sau: (1) Trong BTT, ngắn hạn thường được coi là khoảng thời gian từ 6 tháng trở xuống.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 - Theo dõi sổ sách bán hàng của người bán - Tài trợ dưới dạng tạm ứng cho người bán hàng dựa trên giá trị các khoản phải thu. - Thu nợ hộ - Bảo hiểm rủi ro tín dụng 100% tổng giá trị các khoản phải thu. Rủi ro tín dụng: là rủi ro người mua không thanh toán khoản phải thu đầy đủ trong vòng 90 ngày(2) kể từ ngày khoản phải thu đó đến hạn thanh toán mà không có bất kỳ tranh chấp nào giữa người mua và người bán. Hợp đồng BTT là một hợp đồng, theo đó nhà cung cấp sẽ chuyển nhượng các khoản phải thu (hay một phần các khoản phải thu) cho một đơn vị BTT để thực hiện một trong các chức năng: kế toán sổ sách các khoản phải thu, thu nợ các khoản phải thu, phòng ngừa rủi ro nợ xấu(3) 1.3 Các đối tượng tham gia trong nghiệp vụ BTT Trong một nghiệp vụ BTT thông thường sẽ có ít nhất ba bên tham gia: đơn vị BTT, khách hàng của đơn vị BTT, và con nợ của đơn vị BTT.
Đối với nghiệp vụ BTT quốc tế thì sẽ có hai đơn vị BTT, một đơn vị ở nước của nhà xuất khẩu, một ở nước của nhà nhập khẩu. Khi một khách hàng ký hợp đồng thực hiện nghiệp vụ BTT đối với đơn vị BTT, họ sẽ bán không phải một mà là một số các khoản phải thu từ nhiều khách hàng khác nhau, do đó trong một nghiệp vụ BTT có thể có rất nhiều con nợ của đơn vị BTT. Người mua nợ hay đơn vị BTT: là NH, công ty tài chính chuyên thực hiện việc mua bán nợ và các dịch vụ khác liên quan đến mua bán nợ. Người bán nợ hay nhà xuất khẩu: là các DN sản xuất hàng hóa hay kinh doanh dịch vụ có những khoản nợ chưa đến hạn thanh toán.
Người mắc nợ hay nhà nhập khẩu: là những người phải trả tiền, đó là những người mua hàng hóa hay nhận các dịch vụ cung ứng. (2) Theo quy định của các hiệp hội BTT quốc tế. (3) Theo điều 1 của Quy định chung về hoạt động BTT quốc tế, ấn bản tháng 06/2004. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.1 Dịch vụ BTT đầy đủ BTT đầy đủ là dịch vụ cung cấp đầy đủ bốn chức năng chủ yếu của dịch vụ BTT.
Như vậy, người bán hàng trả phí và lãi suất cho đơn vị BTT để đổi lại những lợi ích sau: - Không phải quản lý sổ sách bán hàng. - Không phải đòi nợ từ con nợ. - Không phải cấp tín dụng thương mại hoặc chỉ cấp một phần (ví dụ 20% hay 30% cho người mua hàng) - Vẫn nhận 100% tiền hàng ngay cả khi người mua hàng không thanh toán, trừ trường hợp có tranh chấp giữa người bán và người mua.2 Các hình thức BTT khác 1.1 Căn cứ vào chức năng của BTT: có các loại hình BTT sau Chiết khấu hoá đơn: là dịch vụ BTT chỉ cung cấp chức năng tài trợ (ứng trước) mà không cung cấp các chức năng còn lại. Người bán tự theo dõi sổ sách bán hàng, thu nợ từ người mua và chuyển tiền thanh toán cho đơn vị BTT.
Người bán tự chịu rủi ro khi người mua không thanh toán. Đôi khi, người ta hay gọi chiết khấu hoá đơn là BTT kín vì người mua không hề hay biết gì về việc người bán đã chuyển nhượng các khoản phải thu cho đơn vị BTT.