MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Phát triển thương mại khu vực nông thôn, nâng cao đời sống cho dân cư nông thôn trên cơ sở công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn và xây dựng nông thôn mới là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta. Chính sách thương mại trong nước nói chung và chính sách TMNT nói riêng ở nước ta cơ bản đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và thương mại trong suốt hơn 30 năm qua. Vùng DHNTB có vị trí địa lý kinh tế rất thuận lợi, nằm trên trục các đường giao thông bộ, sắt, hàng không và biển.
Vùng gần TPHCM và khu tam giác kinh tế trọng điểm miền Đông Nam Bộ; là cửa ngõ của Tây Nguyên, của đường xuyên Á ra biển nối với đường hàng hải quốc tế. Vùng Nam Trung bộ có sân bay Đà Nẵng, sân bay Chu Lai (Quảng Nam), Phù Cát (Bình Định) và sân bay Cam Ranh (Khánh Hoà) là bốn trong mười cảng hàng không quốc tế của Việt Nam. Vùng còn có sân bay nội địa Tuy Hòa (Phú Yên), Phan Thiết (Bình Thuận)… cùng hàng ngàn kilomet đường bộ, đường sắt. Về đường biển, vùng có nhiều cảng biển quan trọng như cảng Đà Nẵng, Tiên Sa, Liên Chiểu (Đà Nẵng), Kỳ Hà (Quảng Nam), Dung Quất (Quảng Ngãi), Vũng Rô (Phú Yên), Bắc Vân Phong và cảng quốc tế Nam Vân Phong (Khánh Hòa)… tạo nên hệ thống cảng biển phục vụ cho phát triển kinh tế vùng và tạo thành con đường huyết mạch trên biển thông thương với khu vực và thế giới.
Vùng có nhiều khu kinh tế mở như Chu Lai (Quảng Nam), Dung Quất (Quảng Ngãi), Nhơn Hội (Bình Định), Vân Phong (Khánh Hòa) với cơ sở hạ tầng tương đối hoàn thiện. Cùng với quá trình đổi mới của nền kinh tế, trong đó những đổi mới quan trọng và ở phạm vi rộng diễn ra trong giai đoạn gia nhập WTO. Hiện nay, Việt Nam đang bước vào giai đoạn mới trong hội nhập, hội nhập sâu vào kinh tế thế giới với việc chuẩn bị hoàn thành các cam kết trong WTO và ASEAN, tích cực tham gia nhiều thỏa thuận thương mại song phương và đa phương thế hệ mới, trong đó quan trọng là Hiệp định đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định thương mại tự do với Liên minh Châu Âu (EVFTA), Hiệp định thương mại tự do với Liên minh kinh tế Á Âu, Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP) và gia nhập Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC)…, các diễn biến, tác động tới thương mại đều đến rất nhanh, ảnh hưởng ngay tới thị trường trong nước, đặc biệt là thị trường nông thôn. Hội nhập mang đến cơ hội và lợi ích cho thương mại trong nước nhưng đồng thời cạnh tranh trên thị trường nội địa ngày càng khốc liệt, doanh nghiệp Việt Nam chịu sức ép ngày càng tăng từ các công ty nước ngoài.
Tác động của khủng hoảng kinh LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 tế và tài chính toàn cầu đã khiến cho kinh tế và thương mại của các quốc gia dựa vào xuất khẩu bị tổn hại nặng nề, nên các quốc gia này có xu hướng quay trở lại và coi trọng phát triển thương mại trong nước nhằm tạo cơ sở bền vững hơn cho phát triển kinh tế đất nước. Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế này khi trong một thời gian dài đã quá chú trọng vào xuất khẩu và thị trường nước ngoài, chưa xác định đúng vai trò của thị trường trong nước khiến thương mại nội địa lâm vào tình trạng bị động trước hội nhập, thị trường trong nước đối mặt với nhiều vấn đề có tính “sống còn” như cạnh tranh quốc tế, thôn tính và sát nhập trên thị trường nội địa, chênh lệnh giữa giá sản xuất và tiêu dùng, sản phẩm sản xuất ra bán không được, được mùa mất giá được giá mất mùa, hàng kém chất lượng, không đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, hàng giả, hàng kém chất lượng từ các quốc gia đối tác. Do đặc trưng về độ trễ và tính khó dự báo trong hoạch định chính sách nên nhiều chính sách thương mại nước ta đã trở nên lỗi thời, không giải quyết được các mục tiêu chính sách và mục tiêu phát triển thương mại nội địa gắn với hội nhập và phát triển bền vững, trong khi thực tiễn đa sắc màu của “bức tranh thương mại” đang và sẽ ngày càng phong phú, sinh động và thay đổi rất nhanh chóng, đòi hỏi phải có sự thay đổi và đổi mới trong chính sách thương mại nội địa nói chung và chính sách TMNT nói riêng. Trong giai đoạn hội nhập, chính sách thương mại nước ta đã và đang được điều chỉnh và hoàn thiện, đem lại hiệu quả và tác động tích cực đối với phát triển kinh tế - xã hội, thương mại, dịch vụ và nền sản xuất hàng hóa.
Những năm vừa qua, Chính phủ đang nỗ lực thực hiện các cải cách thể chế và nền hành chính công nhằm đưa tăng trưởng quốc gia theo hướng bền vững, phù hợp với xu hướng hội nhập kinh tế thế giới. Ngày 06/01/2010, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 23/QĐ-TTg phê duyệt Đề án phát triển TMNT giai đoạn 2010 - 2015 và định hướng đến năm 2020. Đề án đề cập đến rất nhiều vấn đề tổng quát, nhằm xây dựng quy trình phát triển đồng bộ, bền vững cho TMNT. Tuy nhiên, hệ thống chính sách phát triển thương mại trong nước hiện tại chưa khai thác và phát huy hết các yếu tố nguồn lực để thực hiện quyết tâm đó.
Để khai thác và nắm bắt được các cơ hội, đồng thời vượt qua thách thức và hạn chế rủi ro trở thành một yêu cầu bắt buộc đối với Việt Nam, cần phải hoàn thiện và đổi mới chính sách phát triển thương mại trong nước nói chung và chính sách TMNT nói riêng một cách nhanh chóng và hiệu quả. Bên cạnh đó, quá trình tổ chức thực thi chính sách TMNT còn bộc lộ những điểm bất cập, không đạt hiệu quả như mong muốn. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này, tuy nhiên qua nghiên cứu chúng tôi phát hiện ra một số điểm mang tính then chốt làm ảnh hưởng đến kết quả phát triển TMNT tại các tỉnh thuộc vùng DHNTB đó LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 là tình trạng thực thi chính sách không theo quy trình chung, xây dựng các chương trình, kế hoạch, đề án thiếu sự tham gia đóng góp của đối tượng chính sách hoặc không phù hợp với đặc thù của vùng, triển khai thực hiện không sát với thực tế… gây khó khăn cho cấp thực hiện và cả đối tượng thụ hưởng lợi ích từ chính sách. Thực tế trên cho thấy, để đạt được các mục tiêu của chính sách TMNT ở các tỉnh thuộc DHNTB là vấn đề hết sức khó khăn, và đây cũng là một trong những trở ngại, thách thức lớn đối với phát triển bền vững TMNT của toàn vùng.
Vấn đề này đã và đang thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu. Vì vậy, luận án “Thực thi chính sách thương mại nông thôn tại một số tỉnh thuộc Duyên hải Nam Trung bộ Việt Nam” với mong muốn làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về quá trình thực thi chính sách TMNT tại một số tỉnh thuộc DHNTB, từ đó xây dựng các giải pháp nhằm thực thi hiệu quả chính sách TMNT một số tỉnh thuộc DHNTB trong thời gian tới. Tổng quan tình hình nghiên cứu 2. Các nghiên cứu liên quan đến đề tài được công bố trong và ngoài nước 2.
Các nghiên cứu về thực thi chính sách - Lê Chi Mai (2001), Những vấn đề cơ bản về chính sách và quy trình chính sách, NXB Đại học quốc gia TP. Nội dung của cuốn sách này đề cập đến những nội dung mang tính lý luận về những vấn đề cơ bản của chính sách và quy trình chính sách, trong đó tác giả chú trọng trình bày những giai đoạn của quá trình thực hiện, các yếu tố tác động đến quá trình thực thi chính sách cũng như các hình thức và công tác tổ chức thực hiện chính sách công. - Lê Vinh Danh (2001), Chính sách công của Hoa Kỳ, giai đoạn 1935 - 2001, NXB Thống kê, Hà Nội [20]. Đây được xem là một nghiên cứu rất công phu của tác giả về chính sách của Hoa Kỳ giai đoạn 1935 - 2001.
Mặc dù có tên gọi Chính sách công của Hoa Kỳ, giai đoạn 1935 - 2001 nhưng cuốn sách này lại được chia làm những phần nội dung khác nhau, trình bày cả lý luận và thực tiễn về chính sách và quá trình chính sách. Phần một có tên gọi: Chính sách công và chính quyền, trong đó chương 2 tác giả nghiên cứu và trình bày những vấn đề cơ bản mang tính lý thuyết về chính sách và những vấn đề có liên quan đến chính sách. Phần hai có 7 chương nghiên cứu về tiến trình lập và thực hiện chính sách trong đó tác giả tập trung trình bày những vấn đề về lý thuyết thực hiện và điều chỉnh chính sách. - Viện Khoa học chính trị, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (1999), Tìm hiểu về khoa học chính sách công, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội [64].
Cuốn sách là tài liệu giảng dạy của Viện Khoa học chính trị, trong đó trình bày những nội dung cơ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 bản về chính sách công trên cả hai nội dung hoạch định chính sách và thực hiện chính sách. Đoàn Thị Thu Hà và TS. Nguyễn Thị Ngọc Huyền (2000), Giáo trình Chính sách kinh tế - xã hội, Khoa Khoa học quản lý, Trường Đại học Kinh tế quốc dân, NXB Khoa học kỹ thuật, Hà Nội [32]. Tài liệu này được dùng để đào tạo đại học chuyên ngành quản lý kinh tế, nhằm cung cấp cho người học những kiến thức cơ bản có hệ thống về quá trình hoạch định, tổ chức thực thi và phân tích các chính sách kinh tế - xã hội của Nhà nước.
- Học viện Hành chính quốc gia (2008), Hoạch định và phân tích chính sách công, NXB Khoa học kĩ thuật, Hà Nội [33]. Tài liệu này được dùng để đào tạo cử nhân hành chính của Học viện Hành chính quốc gia nhằm cung cấp cho người học những kiến thức cơ bản về chính sách công và phân tích chính sách công. Chương 3 của tài liệu này trình bày những vấn đề cơ bản về thực thi chính sách công, trong đó trình bày tương đối khoa học và đầy đủ về quy trình tổ chức triển khai thực hiện chính sách cũng như những yếu tố ảnh hưởng đến quá trình tổ chức triển khai thực hiện chính sách.