CHƯƠNG 1: NHỮNG VAN DE LÝ LUẬN VE TO CHỨC THUC HIỆN VAN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT 1. Khái quát về văn bản quy phạm pháp luật 1. Khái niệm văn bản quy phạm pháp luật Luật Ban hành Van bản quy phạm pháp luật hiện hành định nghĩa khai niệm van bản quy phạm pháp luật như sau: “Van bản quy phạm pháp luật là văn bản có chứa quy phạm pháp luật, được ban hành theo đúng thẩm quyên, hình thức, trình tự, thủ tục quy định trong Luật này. Văn bản có chứa quy phạm pháp luật nhưng được ban hành không đúng thẩm quyên, hình thức, trình tự, thủ tục quy định trong Luật này thì không phải la văn bản quy phạm pháp luật.”” Định nghĩa của Luật đã nêu được những dấu hiệu đặc trưng của văn bản quy phạm pháp luật như: do cơ quan nhà nước có thâm quyền ban hành hoặc phối hợp ban hành theo đúng hình thức, trình tự, thủ tục được quy định trong Luật, có nội dung là quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung, được Nhà nước bảo đảm thực hiện và có mục đích dé điều chỉnh các quan hệ xã hội.
Trên thực tế cũng như trong nội dung của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, văn bản quy phạm pháp luật không chỉ chứa đựng quy tắc xử sự chung mà còn có những nguyên tắc định hướng, mục đích pháp luật. Đây chính là lý do dẫn đến sự khó khăn cho người xây dựng, ban hành cũng như kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật khi phải nhận diện chính xác đối tượng dé thực hiện nhiệm vụ trên thực tế. Từ phân tích tên, dé hiểu rộng và day đủ hơn về văn bản quy phạm pháp luật, ta nên định nghĩa như sau: “Van bản quy phạm pháp luật là một hình thức văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyên ban hành và bảo đảm thực hiện theo trình tự, thủ tục, hình thức luật định, trong đó có quy phạm pháp luật, thể hiện ý chí của Nhà nước, có hiệu lực bắt buộc chung và được thực hiện nhiễu lan trong cuộc sống. Đặc điểm của văn bản quy phạm pháp luật Theo quy định của pháp luật, ta thấy rằng, văn bản quy phạm pháp luật bao gồm bôn đặc điêm sau: 3 Quốc hội (2015), Điều 2 Luật Ban hành Văn bản quy phạm pháp luật, Hà Nội.
5 Thứ nhất, văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và bảo đảm thực hiện. Dau hiệu đầu tiên dé khang định văn bản quy phạm pháp luật là văn bản đó phải được ban hành bởi những cơ quan nhà nước có thâm quyền bao gồm: Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng thầm phán Tòa án nhân dân tối cao, Tổng kiểm toán nhà nước, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, HĐND các cấp, UBND các cấp. Ngoài ra, theo quy định của pháp luật, văn bản quy phạm pháp luật còn được ban hành bởi co quan trung ương của tổ chức chính trị, xã hội phối hợp với Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ. Đặc điểm này cho thấy, không phải co quan nhà nước, cá nhân nao cũng có thẩm quyên ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
Khi văn bản QPPL được ban hành, Nhà nước sử dụng nhiều biện pháp, công cụ khác nhau dé bảo đảm cho văn bản QPPL được tuân thủ nghiêm chỉnh trên thực tế như: Biện pháp phổ biến, tuyên truyền; biện pháp kinh tế; biện pháp cưỡng ché;. Thứ hai, văn bản quy phạm pháp luật có nội dung là quy phạm pháp luật có tính chất bắt buộc chung. Quy phạm pháp luật hiểu theo nghĩa hẹp chỉ là quy tắc xử sự chung. Quy phạm pháp luật hiểu theo nghĩa rộng là tổng thể quy tắc xử sự và các nguyên tắc, định hướng mục đích pháp luật do cơ quan nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện, thé hiện ý chi của Nhà nước, nhằm điều chỉnh các mối quan hệ xã hội.
Vì văn bản QPPL chứa đựng quy phạm pháp luật nên văn bản QPPL luôn có tính chất bắt buộc chung, được thực hiện nhiều lần trong cuộc song. Tính bắt buộc chung của văn bản QPPL được hiểu là bắt buộc đối với mọi chủ thể khi ở vào điều kiện, hoàn cảnh mà văn bản QPPL quy định. Văn bản QPPL không đặt ra quy định cho đối tượng cụ thé, xác định mà nhằm tới các đối tượng khái quát, trừu tượng như công dân, tô chức xã hội, các Chủ tịch tỉnh, doanh nghiệp, người có công với cách mạng. Dấu hiệu áp dụng nhiều lần được hiểu là quy phạm pháp luật luôn được các chủ thế áp dụng pháp luật lựa chon làm co sở pháp lý dé triển khai thực hiện hoặc giải quyết những công việc cụ thê xảy ra trên thực tế, nên được áp dụng lặp đi lặp lại nhiều lần, trong một khoảng thời gian lâu dài.
Ngoài ra, văn bản QPPL có hiệu lực pháp lý trong phạm vi cả nước hoặc từng địa phương tùy thuộc vào thâm quyền của co quan ban hành cũng như nội dung của mỗi văn bản QPPL. Thứ: ba, van bản quy phạm pháp luật được ban hành ding hình thức pháp luật quy định. Văn bản quy phạm pháp luật được ban hành theo hình thức có nghĩa là đúng tên loại văn bản và đúng thê thức, kĩ thuật trình bày. Theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015, những cơ quan nhà nước, cá nhân có thâm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật với tên gọi xác định: Quốc hội ban hành Hiến pháp, luật, nghị quyết; ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành pháp lệnh, nghị quyết, nghị quyết liên tịch với Doan Chủ tịch Uy ban trung ương Mặt trận Tố quốc Việt Nam; Chủ tịch nước ban hành lệnh, quyết định; Chính phủ ban hành nghị định, nghị quyết liên tịch với Đoàn Chủ tịch Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;.
Theo quy định của pháp luật, văn bản quy phạm pháp luật phải có đủ và trình bày đúng những yếu tố như: quốc hiệu; tiêu ngữ; tên cơ quan ban hành; số, kí hiệu văn bản; địa danh, thời gian ban hành; tên văn bản; trích yếu nội dung; chữ kí; nơi nhận. Cuối cùng là văn bản quy phạm pháp luật được ban hành theo thủ tục, trình tự pháp luật quy định. Xuất phát từ vai trò của văn bản QPPL, đối với hoạt động quản lý nhà nước, từ yêu cầu bảo đảm sự chặt chẽ, thống nhất cho hoạt động xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015 đã quy định một quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật tương đối chặt chẽ. Theo đó, văn bản quy phạm pháp luật được ban hành với trình tự từ khâu lập chương trình, soạn thảo, thâm định, thâm tra, lay y kién đóng góp cho dự thảo, cho đến thông qua, ký, công bố công khai, tất cả đều phải tuân thủ đúng quy định của pháp luật.
Mặc dù, văn bản được ban hành bởi chủ thể có thâm quyền, nội dung hoàn toàn đúng quy định của pháp luật nhưng trong quá trình ban hành không tuân thủ đúng quy định về thủ tục, trình tự ban hành đều làm ảnh hưởng đến chất lượng của văn bản quy phạm pháp luật. Vai trò của văn bản quy phạm pháp luật Điều 12 Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam 2013 ghi nhận: “Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật và không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa”. Như vậy, văn bản quy phạm pháp luật có vai trò vô cùng to lớn trong việc quản lý xã 4 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (2015), Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (2020) và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 của Chính phủ quy định chỉ tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật. 7 hội, ở các góc độ sau đây: Thứ nhất, văn bản quy phạm pháp luật có thể điều tiết những vẫn dé thực tiễn.
Xã hội ngày càng phát triển đa dang với những mối quan hệ phức tạp, nhiều van đề liên quan trực tiếp đến sự ôn định và phát triển kinh tế - xã hội do đó đặt ra cho Nhà nước những vấn đề thực tiễn cần phải giải quyết trong quá trình quan lý, điều hành. Thứ hai, van bản quy phạm pháp luật thể chế hóa và bảo dam thực hiện các chính sách. Pháp luật là biêu hiện hoạt động của các chính sách. Pháp luật được ban hành có thé đưa ra các biện pháp gián tiếp, thông qua việc tạo ra hành lang pháp lý mà trong phạm vi đó, từng cá nhân đóng vai trò là động lực.
Luật pháp có thé đem lại công băng xã hội, giảm đói nghèo, tạo ra động lực cho xã hội phát triển. Tuy nhiên, cần lưu ý là phát triển thôi chưa đủ mà còn cần phải phát triển bền vững, đòi hỏi khi đưa ra các biện pháp quản lý, nhà quản lý phải tính đến việc bảo vệ môi trường. Thông qua các văn bản quy phạm pháp luật, địa phương đưa ra các biện pháp dé quan lý tốt các trường học, bệnh viện, xây dựng và quản lý tốt hệ thống nước sạch, đường giao thông, đưa ra các biện pháp thu hút đầu tư, khuyến khích sự phát triển của các doanh nghiệp, các cơ chế thực thi hiệu quả,. Thứ ba, văn bản quy phạm pháp luật có théphân bổ các nguồn lực nhằm phát triển kinh tế.
Pháp luật có thé tạo điều kiện dé tăng việc làm và tăng thu nhập. Pháp luật tạo điều kiện cho các chủ sở hữu tiếp cận với các công nghệ thông tin và thị trường, với các kỹ năng về tín dụng và quản lý, qua đó giúp họ tăng năng suất lao động và tăng thu nhập. Các nhà soạn thảo cần phải chú ý đưa ra các biện pháp pháp ly dé mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hóa, thị trường lao động,. đồng thời phát huy được các nguồn lực.
Thứ tw, văn bản quy phạm pháp luật góp phan làm 6n định trật tự xã hội, tạo cơ hội quản lý tốt và phát triển. Cần phân biệt quy phạm pháp luật với các quy phạm xã hội khác. Trong khi các quy phạm mang tính xã hội, dù được xã hội thừa nhận, nhưng vẫn không được bảo đảm băng các biện pháp cưỡng chế của nhà nước, thì trái lại, quy phạm pháp luật luôn luôn được bảo đảm bằng sức mạnh cưỡng chế của nhà nước. Thứ năm, văn bản quy phạm pháp luật làm thay doi các hành vi xử sự không mong muốn và thiết lập các hành vi xử sự phù hợp.