Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN, PHÁP LÝ CỦA THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ VIÊN CHỨC 1. Viên chức và pháp luật về quản lý viên chức 1. Viên chức Luật Viên chức 2010 đã đưa ra định nghĩa về viên chức như sau: “Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”. Theo định nghĩa nêu trên, viên chức là công dân Việt Nam tức là người có quốc tịch Việt Nam; làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập; có trình độ chuyên môn, năng lực phù hợp với vị trí việc làm.
Trước đây, Pháp lệnh cán bộ, công chức chưa làm rõ khái niệm “viên chức”. Khắc phục hạn chế này, Luật viên chức đã xây dựng khái niệm về viên chức, đồng thời với việc Luật cán bộ, công chức phân định “cán bộ ” và “công chức”, Luật viên chức cũng đã làm rõ được khái niệm viên chức, phân biệt viên chức với cán bộ và công chức. Sự khác biệt cơ bản của viên chức so với cán bộ, công chức đó chính là chế độ tuyển dụng gắn với vị trí việc làm, thông qua chế độ hợp đồng lao động làm việc và tiền lương được hưởng từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập. Lao động của viên chức không mang tính quyền lực công, chỉ thuần túy là hoạt động nghề nghiệp mang tính chuyên môn nghiệp vụ, vì vậy, Luật viên chức đã làm rõ “ Hoạt động nghề nghiệp của viên chức là việc thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ có yêu cầu về trình độ, năng lực, kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ trong đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật về viên chức và các pháp luật có liên quan”.
Tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý viên chức, Luật viên chức đã làm rõ 9 các khái niệm cơ bản như vị trí việc làm, tuyển dụng, hợp đồng làm việc, đạo đức nghề nghiệp, quy tắc ứng xử. Đặc biệt quy định về “chức danh nghề nghiệp” thay cho quy định về “ngạch” để khắc phục các hạn chế trong quản lý đội ngũ viên chức hiện nay. Luật viên chức đã thống nhất cách hiểu về đơn vị sự nghiệp công lập, theo quy định tại Điều 9 Luật Viên chức 2010 được chia thành hai loại, là đơn vị sự nghiệp công được giao quyền tự chủ và đơn vị sự nghiệp công chưa được giao quyền tự chủ. Như vậy, đơn vị sự nghiệp công lập có thể hoạt động như một doanh nghiệp, tự chịu trách nhiệm về dịch vụ do mình cung ứng nhưng không nhằm mục đích lợi nhuận.
Bổ sung một số quy định mang tính định hướng liên quan đến chính sách xây dựng, phát triển các đơn vị sự nghiệp công lập và đội ngũ viên chức. Việc ban hành Luật Viên chức 2010 là một bước tiến trọng hoạt động lập pháp của Quốc hội, tuy nhiên trong quá trình thực hiện vẫn còn một số bất cập như: vấn đề hợp đồng làm việc viên chức, về chế độ thôi việc, việc chuyển đổi giữa viên chức và cán bộ công chức và vấn đề kỷ luật đối với viên chức .vẫn chưa được nhất quán. Ngày 25/11/2019, tại kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa 14 thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức, có hiệu lực từ 01/7/2020 đã giải quyết linh hoạt các bất cập nêu trên. Ví dụ, Theo như quy định tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều trong Luật cán bộ, công chức và Luật viên chức 2019 thì việc bỏ chế độ viên chức suốt đời đã được thi hành và chính thức có hiệu lực từ ngày 01/07/2020.
Theo đó, những viên chức được tuyển dụng vào sau ngày 01/07/2020 sẽ làm việc theo một chế độ hợp đồng làm việc duy nhất là hợp đồng làm việc có xác định thời hạn; hoặc bổ sung thêm trường hợp đơn vị sự nghiệp công lập được đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc với viên chức, khi viên chức không đạt yêu cầu sau thời gian tập sự. Từ những quy định trên, viên chức có những đặc điểm sau: 10 Thứ nhất, phải là công dân Việt Nam, theo quy định tại khoản 1 Điều 17 Hiến pháp 2013 “Công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam”. Người được xác định có quốc tịch Việt Nam (là công dân Việt Nam) theo quy định của Luật Quốc tịch Việt Nam. Một công dân được mang quốc tịch Việt Nam khi người này được sinh ra tại Việt Nam, có cha mẹ là người Việt Nam.
Các trường hợp khác có cha hoặc mẹ là người nước ngoài thì cũng được lựa chọn quốc tịch, hoặc một số cá nhân khác được phép xin nhập quốc tịch Việt Nam, nhưng phải đảm bảo một số điều kiện cần thiết theo quy định. Thứ hai, về chế độ tuyển dụng (thi tuyển hoặc xét tuyển): Viên chức phải là người được được tuyển dụng theo vị trí việc làm, được bổ nhiệm vào một chức danh nghề nghiệp tại các đơn vị sự nghiệp công lập và thực hiện theo chế độ hợp đồng làm việc. Theo đó, căn cứ đầu tiên để tuyển dụng viên chức là vị trí việc làm. Ngoài ra, Điều 20 Luật Viên chức năm 2010 quy định cụ thể hơn về chế độ tuyển dụng như sau: “Việc tuyển dụng viên chức phải căn cứ vào nhu cầu công việc, vị trí việc làm, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp và quỹ tiền lương của đơn vị sự nghiệp công lập” [28].
Vị trí việc làm được hiểu là “công việc hoặc nhiệm vụ gắn với chức danh nghề nghiệp hoặc chức vụ quản lý tương ứng, là căn cứ xác định số lượng người làm việc, cơ cấu viên chức để thực hiện việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập”. Vị trí việc làm có thể có một hoặc nhiều công việc, có tính thường xuyên, liên tục chứ không bao gồm những công việc thời vụ, tạm thời. Để được tuyển dụng vào vị trí việc làm thì phải thông qua một trong hai phương thức tuyển dụng Viên chức: thi tuyển hoặc xét tuyển (Điều 23 Luật Viên chức năm 2010). Thứ ba, về nơi làm việc: Viên chức làm việc và hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật.
Đơn vị sự 11 nghiệp công lập theo khoản 1 Điều 9 Luật Viên chức năm 2010 được hiểu là “…tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước”. Đơn vị sự nghiệp công lập bao gồm: Đơn vị sự nghiệp công lập được giao quyền tự chủ hoàn toàn về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự (sau đây gọi là đơn vị sự nghiệp công lập được giao quyền tự chủ); Đơn vị sự nghiệp công lập chưa được giao quyền tự chủ hoàn toàn về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự (sau đây gọi là đơn vị sự nghiệp công lập chưa được giao quyền tự chủ). Thứ tư, về thời gian làm việc: Thời gian làm việc của viên chức được tính kể từ khi được tuyển dụng, Hợp đồng làm việc có hiệu lực cho đến khi chấm dứt hợp đồng làm việc hoặc đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định của Bộ luật Lao động. Thứ năm, về chế độ lao động: viên chức làm việc theo chế độ Hợp đồng làm việc và hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật.
Điều đó có nghĩa giữa viên chức và bên tuyển dụng có sự thỏa thuận về vị trí việc làm, tiền lương, chế độ đãi ngộ, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên… Hợp đồng làm việc là cơ sở pháp lý để sau này xử lý các việc liên quan đến việc vi phạm quyền hay các vấn đề khác phát sinh giữa hai bên. Lương của Viên chức được nhận từ quỹ của đơn vị sự nghiệp công lập nơi họ làm việc chứ không phải từ Nhà nước. Do vậy, tiền lương mà viên chức nhận được phụ thuộc vào sự thỏa thuận của viên chức và bên tuyển dụng, Nhà nước hầu như không can thiệp vào vấn đề này. Với những đặc điểm nêu trên, Luật Viên chức 2010 đã làm rõ được khái niệm viên chức, phân biệt viên chức với cán bộ và công chức đó chính là chế độ tuyển dụng gắn với vị trí việc làm, làm việc theo chế độ hợp đồng làm 12 việc, được bổ nhiệm vào một chức danh nghề nghiệp và tiền lương được hưởng từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập.
Quản lý viên chức Để làm rõ hơn nội hàm cụm từ quản lý viên chức, cần xác định rõ thuật ngữ “quản lý”. Thuật ngữ “Quản lý” được hiểu là sự tác động có ý thức của con người lên một hệ thống nào đó nhằm đạt được mục đích nhất định. Quản lý xuất hiện khi có hoạt động lao động của con người. Trong quá trình lao động sản xuất, con người thấy cần thiết phải có sự quản lý để các hoạt động của con người có tổ chức hơn, chặt chẽ hơn, gắn kết với nhau hơn.
Quản lý là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học, mỗi ngành khoa học nghiên cứu về quản lý từ những góc độ khác nhau và đưa ra định nghĩa riêng về quản lý, rất nhiều học giả trong và ngoài nước đã đưa ra giải thích không giống nhau về quản lý. Cho đến nay, vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về quản lý. Theo quan niệm của C.Mác: “Bất kỳ lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào đó mà được tiến hành tuân theo một quy mô tương đối lớn đều cần có sự quản lý ở mức độ nhiều hay ít nhằm phối hợp những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất, sự vận động này khác với sự vận động của các cơ quan độc lập của cơ thể đó. Một nhạc công tự điều khiển mình, nhưng một dàn nhạc phải có nhạc trưởng”.
Theo cách hiểu chung nhất thì quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý. Việc tác động theo cách nào còn tùy thuộc vào các góc độ khoa học khác nhau, các lĩnh vực khác nhau cũng như cách tiếp cận của người nghiên cứu.