Chương I).tại Điều 2 của Luật Viên chức 2019 tiếp tục quy định “Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”. Từ khái niệm trên, để xác định một người là viên chức có thể căn cứ vào các tiêu chí như sau: Một là, công dân Việt Nam. Công dân Việt Nam theo quy định của Luật Quốc tịch 2008 ( sửa đổi, bổ sung năm 2014) và Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức 2019 sửa đổi được xác định là: người mang quốc tịch Việt Nam. Tiêu chí này cũng tương tự như cán bộ, công chức.
Mặc dù, theo quan điểm của nhiều nhà khoa học quy định viên chức phải là công dân Việt Nam là một quy định quá chặt chẽ. Nếu như cán bộ, công chức công việc mang tính chính trị - hành chính đòi hỏi phải là công dân Việt Nam để đảm bảo an ninh trật tự thì đối với viên chức là những người gắn liền với trình độ, chuyên môn cao thì việc sử dụng viên chức là người nước ngoài trở thành một nhu cầu quan trọng đặc biệt trong các lĩnh vực đòi hỏi trình độ chuyên môn cao như giáo dục hay y tế [; 9]. Hai là, nơi làm việc Viên chức làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập. Đây cũng là điểm khác biệt so với cán bộ, công chức khi các đối tượng này chủ yếu làm việc trong cơ quan nhà 14 Luan van nước, tổ chức chính trị xã hội ở cấp trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện (trừ một số công chức là lãnh đạo, quản lý các đơn vị sự nghiệp công lập).Theo khoản 1 Điều 9 Luật Viên chức năm 2010, đơn vị sự nghiệp công lập được hiểu là “…tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước”.
Dịch vụ công bao gồm các hoạt động phục vụ nhu cầu chung của xã hội, các quyền và lợi ích cơ bản hợp pháp của con người và công dân như giáo dục, y tế, văn hóa, khoa học, bảo hiểm, an sinh xã hội. Thời kỳ bao cấp, Nhà nước là chủ thể độc quyền trong việc tổ chức và trực tiếp cung cấp dịch vụ công bằng nguồn kinh phí được cấp từ ngân sách nhà nước, những người làm việc ở đây hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước và theo định hướng XHCN, để nâng cao chất lượng dịch vụ đáp ứng nhu cầu của xã hội trong điều kiện cạnh tranh của thị trường và nguồn kinh phí từ ngân sách nhà nước có giới hạn, Nhà nước đã tiến hành xã hội hoá các dịch vụ công thông qua việc huy động, tổ chức sự tham gia rộng rãi, chủ động của người dân và các tổ chức vào hoạt động cung cấp dịch vụ công. Tuy nhiên vai trò của Nhà nước trong việc cung cấp dịch vụ cônglà rất quan trọng nên Nhà nước vẫn tự tổ chức ra các đơn vị cung cấp dịch vụ công cho xã hội.
Và các đơn vị sự nghiệp công lậplà các tổ chức do Nhà nước lập ra và vẫn giữ vai trò chủ đạo trong việc cung cấp dịch vụ trong các lĩnh vực: Giáo dục đào tạo; dạy nghề; y tế; văn hóa, thể thao và du lịch; thông tin truyền thông và báo chí; khoa học và công nghệ. Ba là, chế độ tuyển dụng và hình thức làm việc Viên chức làm việc theo chế độ hợp đồng làm việc. Đây cũng là điểm khác biệt với cán bộ, công chức là người trong biên chế nhà nước. Thuật ngữ “ hợp đồng làm việc” lần đầu tiên được quy định trong Nghị định 116/2003/NĐ-CP về tuyển dụng, sử dụng, quản lý cán bộ, công chức trong đơn vị sự nghiệp công lập đánh dấu một xư hướng mới thay thế cho chế độ “biên chế” tồn tại rất lâu trong các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước.
Nghị định 115/2020/NĐ-CP quy định về 15 Luan van tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức ngày 25 tháng 9 năm 2020 của chính phủ cũng tiếp tục quy định rõ. Hợp đồng làm việc có hai loại: có thời hạn và không thời hạn. Việc xác định viên chức làm việc theo chế độ hợp đồng là điểm mới trong tư duy quản lýnhân sự của nhà nước. Hợp đồng làm việc là căn cứ để viên chức và bên tuyển dụng có sự thỏa thuận về vị trí việc làm, tiền lương, chế độ đãi ngộ, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên… Hợp đồng làm việc là cơ sở pháp lí để sau này xử lí các việc liên quan đến việc vi phạm quyền hay các vấn đề khác phát sinh giữa hai bên.
Trong điều kiện xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế, cùng với cải cách hành chính, Nhà nước tiến hành cải cách lĩnh vực sự nghiệp công. Để nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động sự nghiệp công, khắc phục tình trạng hành chính hóa, đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động sự nghiệp công, cần phải thay đổi cách tuyển dụng, cơ chế, chế độ, chính sách đối với viên chức nhà nước; không áp dụng cách thức tuyển dụng vào làm việc suốt đời mà theo chế độ hợp đồng; tạo quyền chủ động cho các đơn vị sự nghiệp công và qua đó đòi hỏi viên chức nhà nước phải không ngừng phấn đấu, rèn luyện và học tập để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ của mình. Nếu người viên chức không đáp ứng được yêu cầu, cũng như căn cứ vào nhu cầu, khả năng của hai bên thì hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc của họ có thể bị chấm dứt bất kỳ lúc nào. Việc kí hợp đồng làm việc căn cứ vào nhu cầu và viên chức sẽ được tuyển dụng theo vị trí việc làm.
Vị trí việc làm được hiểu là “công việc hoặc nhiệm vụ gắn với chức danh nghề nghiệp hoặc chức vụ quản lí tương ứng, là căn cứ xác định số lượng người làm việc, cơ cấu viên chức để thực hiện việc tuyển dụng, sử dụng và quản lí viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập” (Điều 7 Luật Viên chức 2010, có hiệu lực từ ngày 01/01/2012; Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức 2019 sửa đổi ). Vị trí việc làm có thể có một hoặc nhiều công việc, có tính thường xuyên, liên tục chứ không bao gồm những công việc thời vụ, tạm thời. Để được tuyển dụng vào vị trí việc làm thì phải thông qua một trong hai phương thức tuyển dụng: thi tuyển hoặc xét tuyển. Vàviệc tuyển dụng viên chức phải căn cứ vào nhu cầu công việc, vị trí việc làm, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp và quỹ tiền lương của đơn vị sự nghiệp 16 Luan van công lập” (Điều 20 Luật Viên chức 2010, có hiệu lực từ ngày 01/01/2012; Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức 2019 sửa đổi).
Bốn là, viên chức hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật khác với cán bộ, công chức lương hưởng từ ngân sách của Nhà nước. Do vậy, tiền lương mà viên chức nhận được phụ thuộc vào sự thỏa thuận của viên chức và bên tuyển dụng và khoản thu của của đơn vị sự nghiệp công lập. Nếu viên chức có trình độ cao và đơn vị sự nghiệp công việc có nguồn thu cao hơn nguồn chi thì lương và thu nhập tăng thêm của viên chức sẽ cao và ngược lại. Hiện nay, lương của viên chức vẫn tính theo bảng lương về ngạch, bậc do Nhà nước ban hành.
Tuy nhiên căn cứ vào nguồn thu thì các đơn vị sự nghiệp công lập có thể chi trả thu nhập tăng thêm hoặc thưởng nhân dịp lễ, tết. Năm là, phân loại viên chức. Có rất nhiều cách phân loại khác nhautheo những tiêu chí khác nhau. Có một số cách phân loại viên chức hay được sử dụng như sau: - Phân loại theo lĩnh vực hoạt động: + Viên chức hoạt động trong lĩnh vực y tế.
+ Viên chức hoạt động trong lĩnh vực giáo dục. + Viên chức hoạt động trong lĩnh vực khoa học. + Viên chức hoạt động trong lĩnh vực văn hóa. - Phân loại theo trình độ đào tạo: + Viên chức có trình độ giáo dục đại học trở lên.
+ Viên chức có trình độ giáo dục nghề nghiệp. + Viên chức có trình độ dưới giáo dục nghề nghiệp. - Phân loại theo cấp quản lý: + Viên chức làm việc trong các tổ chức sự nghiệp công lập trung ương; + Viên chức làm việc trong các tổ chức sự nghiệp công lập cấp tỉnh; + Viên chức làm việc trong các tổ chức sự nghiệp công lập cấp huyện. - Theo vị trí việc làm, viên chức được phân loại như sau: 17 Luan van + Viên chức quản lý: là người được bổ nhiệm giữ chức vụ quản lý có thời hạn, chịu trách nhiệm điều hành, tổ chức thực hiện một hoặc một số công việc trong đơn vị sự nghiệp công lập nhưng không phải là công chức và được hưởng phụ cấp chức vụ quản lý.
+ Viên chức không giữ chức vụ quản lý: bao gồm những người chỉ thực hiện chuyên môn nghiệp vụ theo chức danh nghề nghiệp trong đơn vị sự nghiệp công lập. - Theo chức danh nghề nghiệp, viên chức được phân loại trong từng lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp với các cấp độ từ cao xuống thấp như sau: + Viên chức giữ chức danh nghề nghiệp hạng I. + Viên chức giữ chức danh nghề nghiệp hạng II. + Viên chức giữ chức danh nghề nghiệp hạng III.
+ Viên chức giữ chức danh nghề nghiệp hạng IV. Việc phân loại viên chức có ý nghĩa rất quan trọng trong xây dựng, quản lý và sử dụng viên chức có hiệu quả. Nó là cơ sở để tuyển chọn, bố trí người vào làm việc phù hợp với từng vị trí việc làm trong các tổ chức sự nghiệp, đáp ứng yêu cầu của công việc. Bên cạnh đó việc phân loại viên chức cũng giúp cho việc xác định tiền lương, các chế độ, chính sách đãi ngộ một cách hợp lý, chính xác và nó cũng là cơ sở cho việc xây dựng và thực hiện hoạt động đào tạo bồi dưỡng viên chức theo yêu cầu công việc.
Như vậy, đồng thời với việc Luật Cán bộ, công chức phân định “cán bộ” và công chức, Luật Viên chức cũng đã làm rõ được khái niệm viên chức, phân biệt viên chức với cán bộ và công chức.