Tổng quan nghiên cứu

Trong giai đoạn 2016–2020, tổng vốn ngân sách nhà nước cấp cho hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản tại Viện kiểm sát nhân dân tối cao đạt khoảng 1.834,9 tỷ đồng. Mặc dù nguồn vốn được điều chỉnh tăng dần từ 246,0 tỷ đồng năm 2016 lên 576,5 tỷ đồng năm 2020, kinh phí thực tế chỉ đáp ứng xấp xỉ 30% nhu cầu đầu tư tối thiểu của toàn ngành. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là giải quyết mâu thuẫn giữa yêu cầu hiện đại hóa công sở phục vụ chiến lược cải cách tư pháp và những rào cản, vướng mắc pháp lý trong tổ chức thực thi đầu tư công tại một cơ quan tư pháp trung ương.

Mục tiêu cụ thể của công trình nhằm hệ thống hóa cơ sở lý luận và pháp lý về thực hiện pháp luật đầu tư xây dựng cơ bản, phân tích thực trạng quản lý và thi hành từ khâu quy hoạch, phân bổ vốn, thẩm định đến thanh quyết toán giai đoạn 2016–2020. Từ đó, tác giả luận giải nguyên nhân và xác lập các giải pháp có căn cứ khoa học nhằm nâng cao hiệu lực quản trị dự án.

Phạm vi nghiên cứu tập trung vào hệ thống Viện kiểm sát nhân dân các cấp do Viện kiểm sát nhân dân tối cao trực tiếp quản lý và phân bổ vốn trong khung thời gian 5 năm (2016–2020) trên địa bàn 63 tỉnh, thành phố. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài thể hiện qua việc đề xuất mô hình tối ưu hóa quy trình, hướng tới mục tiêu giảm 20% đến 25% thời gian chuẩn bị đầu tư, giải quyết triệt để 92 dự án tồn đọng quyết toán năm 2020 và nâng tỷ lệ giải ngân vốn hàng năm đạt trên 95% kế hoạch giao.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết quản lý tài chính công hiện đại kết hợp với lý thuyết thực hiện pháp luật trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Mô hình nghiên cứu được xây dựng theo chu trình dự án đầu tư xây dựng cơ bản khép kín bao gồm hai giai đoạn chính: giai đoạn chuẩn bị đầu tư và giai đoạn thực hiện đầu tư theo quy định tại Nghị định 59/2015/NĐ-CP.

Hệ thống khái niệm nền tảng bao gồm:

  • Đầu tư xây dựng cơ bản: Quá trình hy sinh nguồn lực hiện tại nhằm hình thành tài sản cố định vật chất và kỹ thuật phục vụ quản trị nhà nước.
  • Thực hiện pháp luật về đầu tư xây dựng: Quá trình hiện thực hóa các quy phạm pháp luật vào hành vi xử sự hợp pháp của các chủ thể thông qua 4 hình thức cơ bản là tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật, sử dụng pháp luật và áp dụng pháp luật.
  • Chủ đầu tư cơ quan nhà nước: Tổ chức được giao trực tiếp quản lý, sử dụng vốn ngân sách nhà nước theo Điều 68 Luật Xây dựng 2014 và Thông tư 16/2016/TT-BXD.
  • Dự án nhóm B và nhóm C ngành kiểm sát: Các công trình xây dựng trụ sở, nhà công vụ có quy mô vốn dưới 230 tỷ đồng đối với nhóm B và dưới 120 tỷ đồng đối với nhóm C.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn bao gồm dữ liệu thứ cấp từ các báo cáo phân bổ vốn, báo cáo quyết toán của Cục Kế hoạch – Tài chính (Cục 3) thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao từ năm 2016 đến hết năm 2020, cùng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật như Luật Xây dựng số 50/2014/QH13, Luật Đầu tư công, Luật Đấu thầu và Luật Ngân sách nhà nước.

Cỡ mẫu nghiên cứu bao trùm 100% các dự án đầu tư xây dựng cơ bản của ngành kiểm sát trong giai đoạn 5 năm với tổng số hơn 680 lượt dự án được bố trí vốn (dao động từ 111 đến 157 dự án mỗi năm). Tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu có chủ đích kết hợp khảo sát thực tế tại 63 Viện kiểm sát cấp tỉnh và khảo sát nguồn nhân lực chuyên trách gồm 42 công chức Cục 3, đặc biệt là 9 công chức thuộc Phòng Đầu tư xây dựng.

Phương pháp phân tích được lựa chọn gồm phương pháp thống kê mô tả, phân tích tổng hợp, so sánh đối chiếu và quy nạp logic. Lý do lựa chọn hệ phương pháp này nhằm định lượng chính xác sự biến động nguồn vốn ngân sách, phân tích mối tương quan giữa tỷ lệ thiếu vốn và độ trễ tiến độ, đồng thời đánh giá khách quan các hạn chế mang tính đặc thù của quy trình khép kín trong ngành kiểm sát. Timeline nghiên cứu được thực hiện xuyên suốt từ năm 2016 đến năm 2020 và hoàn thiện tổng hợp toàn diện vào năm 2021.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tỷ trọng vốn đầu tư xây dựng cơ bản trong tổng kinh phí hoạt động của ngành kiểm sát duy trì ở mức thấp và tăng trưởng không ổn định. Giai đoạn 2016–2020, chi đầu tư xây dựng chỉ chiếm từ 10,4% (năm 2018) đến 17,2% (năm 2020) tổng ngân sách cấp cho ngành. So với các cơ quan tư pháp khác, nguồn vốn này chỉ bằng 61% đến 75% so với Tòa án nhân dân tối cao và bằng 68,4% đến 86,6% so với Bộ Tư pháp.

Thứ hai, tình trạng nợ đọng thanh toán đối với các dự án đã hoàn thành diễn ra phức tạp và gia tăng liên tục. Năm 2016 chỉ có 12 dự án hoàn thành thiếu vốn thanh toán, con số này tăng vọt lên 85 dự án năm 2017, đạt mức kỷ lục 111 dự án năm 2018 và duy trì ở mức 92 dự án vào năm 2020.

Thứ ba, sự phân bổ vốn đầu tư tạo ra áp lực dồn toa đối với các dự án khởi công mới. Trong giai đoạn 2016–2019, số dự án khởi công mới rất hạn chế (năm 2016 có 0 dự án; năm 2017 và 2018 có 3 dự án/năm; năm 2019 có 5 dự án). Tuy nhiên, đến năm 2020, số lượng dự án khởi công mới tăng đột biến lên 40 dự án (chiếm 29,4% tổng số dự án được bố trí vốn), tạo áp lực khổng lồ cho công tác thẩm định và kiểm soát thi công.

Thứ tư, tình trạng chậm tiến độ do thiếu hụt nguồn lực tài chính diễn biến nghiêm trọng, đỉnh điểm là năm 2017 có 22 dự án chậm tiến độ (gồm 4 dự án nhóm B và 18 dự án nhóm C) và năm 2018 có 13 dự án chậm tiến độ (4 dự án nhóm B và 9 dự án nhóm C).

Thảo luận kết quả

Thực trạng chậm tiến độ và nợ đọng vốn bắt nguồn từ quy định pháp lý ràng buộc: dự án chỉ được ghi kế hoạch vốn năm sau khi có quyết định phê duyệt Báo cáo kinh tế - kỹ thuật hoặc dự án đầu tư trước ngày 30 tháng 10 hàng năm. Áp lực thời gian này khiến công tác khảo sát và thiết kế sơ sài, dẫn đến việc phải điều chỉnh dự toán nhiều lần trong quá trình thi công.

Quy trình quản trị mang tính khép kín khi Viện kiểm sát nhân dân tối cao vừa phê duyệt chủ trương, thẩm định dự án, phê duyệt kế hoạch lựa chọn nhà thầu đến phê duyệt quyết toán, trong khi lực lượng chuyên trách tại Phòng Đầu tư xây dựng chỉ có 9 công chức phụ trách toàn bộ 710 địa bàn cấp huyện và 63 cấp tỉnh.

So sánh với các công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thủy Lan (2016) về quản lý dự án công và nghiên cứu của tác giả Trịnh Quang Bắc (2017) về vi phạm pháp luật đầu tư, phát hiện của luận văn củng cố thêm luận điểm rằng sự phân tán nguồn lực và cơ chế thẩm định thiếu độc lập là nguyên nhân cốt lõi làm giảm hiệu quả đầu tư công. Trên biểu đồ so sánh cơ cấu vốn, sự chênh lệch tuyệt đối từ 154 đến 192 tỷ đồng mỗi năm giữa ngành Kiểm sát và Tòa án phản ánh rõ khoảng cách nguồn lực cần được cân đối lại qua chính sách ngân sách nhà nước.

Đề xuất và khuyến nghị

Từ kết quả nghiên cứu thực chứng, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp mang tính hành động cao:

Thứ nhất, hoàn thiện cơ chế lập kế hoạch và phân bổ vốn đầu tư công. Viện kiểm sát nhân dân tối cao cần phối hợp chặt chẽ với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính xây dựng kế hoạch vốn trung hạn linh hoạt, ưu tiên bố trí dứt điểm nguồn vốn thanh toán nợ đọng cho 92 dự án đã hoàn thành, đặt mục tiêu xóa bỏ 100% nợ đọng xây dựng cơ bản trước năm 2023. Chủ thể thực hiện là Cục Kế hoạch – Tài chính.

Thứ hai, chuẩn hóa và nâng cao chất lượng công tác khảo sát, thiết kế và thẩm định dự án. Ban hành quy chế chuẩn hóa thiết kế mẫu trụ sở Viện kiểm sát cấp huyện và cấp tỉnh phù hợp định mức biên chế mới. Đặt chỉ tiêu nâng tỷ lệ hồ sơ thẩm định đúng hạn đạt trên 98% và giảm thiểu tối đa tình trạng phát sinh điều chỉnh dự toán trong giai đoạn 2021–2023. Chủ thể chịu trách nhiệm là Cục 3 phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân các địa phương.

Thứ ba, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và phần mềm chuyên dụng trong quản trị dự án. Đầu tư mua sắm hệ thống phần mềm quản lý dự án tích hợp cơ sở dữ liệu dùng chung kết nối 63 tỉnh, thành phố với trung ương. Mục tiêu số hóa 100% hồ sơ dự án và rút ngắn 30% thời gian xử lý thủ tục hành chính, hoàn thành triển khai trong năm 2022 dưới sự chủ trì của Cục Thống kê tội phạm và Công nghệ thông tin cùng Cục 3.

Thứ tư, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ và siết chặt kỷ luật quản lý hợp đồng. Tổ chức tối thiểu 2 khóa đào tạo chuyên sâu hàng năm về pháp luật xây dựng và đấu thầu qua mạng cho cán bộ phụ trách tại các địa phương. Đề xuất tăng cường biên chế cho Phòng Đầu tư xây dựng từ 9 lên 15 công chức có chuyên môn kỹ thuật xây dựng trước năm 2024 do Vụ Tổ chức cán bộ và Ban Lãnh đạo Viện phê duyệt.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị tham khảo chuyên sâu cho 4 nhóm đối tượng chính:

  • Lãnh đạo và cán bộ quản lý ngành Kiểm sát nhân dân: Khai thác tài liệu để hoạch định chiến lược đầu tư cơ sở vật chất, nắm bắt điểm nghẽn pháp lý và áp dụng quy trình kiểm soát vốn cho 63 đơn vị cấp tỉnh và 710 đơn vị cấp huyện.
  • Chuyên viên quản lý dự án tại các cơ quan tư pháp và hành chính công: Sử dụng khung giải pháp về thẩm định hồ sơ, quản trị hợp đồng và quy trình thanh quyết toán vốn đầu tư xây dựng các dự án nhóm B và nhóm C.
  • Giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Luật Hiến pháp, Luật Hành chính và Quản lý công: Nguồn tư liệu học thuật giá trị về lý luận thực hiện pháp luật và chuỗi dữ liệu thực chứng 5 năm (2016–2020) phục vụ nghiên cứu và giảng dạy.
  • Các nhà thầu xây dựng và đơn vị tư vấn quản lý dự án: Nắm rõ các quy chuẩn pháp lý đặc thù, tiêu chuẩn thẩm duyệt thiết kế, an toàn phòng cháy chữa cháy và thủ tục giải ngân khi tham gia đấu thầu công trình cơ quan nhà nước.

Câu hỏi thường gặp

  1. Vốn đầu tư xây dựng của Viện kiểm sát nhân dân tối cao giai đoạn 2016–2020 thay đổi như thế nào?
    Nguồn vốn được giao tăng từ 246,0 tỷ đồng năm 2016 lên 576,5 tỷ đồng năm 2020, chiếm tỷ trọng từ 10,4% đến 17,2% tổng kinh phí ngành. Tuy nhiên, mức vốn này bình quân chỉ đáp ứng khoảng 30% nhu cầu tối thiểu và chỉ bằng 61% đến 75% so với ngành Tòa án.

  2. Đâu là nguyên nhân cốt lõi dẫn đến tình trạng chậm tiến độ dự án trong ngành Kiểm sát?
    Nguyên nhân chính là thiếu vốn bố trí hàng năm, dẫn đến 22 dự án chậm tiến độ năm 2017 và 13 dự án năm 2018. Bên cạnh đó, quy định phê duyệt hồ sơ trước ngày 30/10 tạo sức ép làm giảm chất lượng khảo sát và thiết kế.

  3. Thực trạng nợ đọng vốn tại các dự án hoàn thành diễn ra ở mức độ nào?
    Số dự án hoàn thành thiếu vốn thanh toán gia tăng nhanh chóng từ 12 dự án năm 2016 lên 85 dự án năm 2017, đạt đỉnh 111 dự án năm 2018 và vẫn còn 92 dự án năm 2020, đòi hỏi cơ chế thanh toán dứt điểm.

  4. Cơ cấu nhân lực quản lý đầu tư xây dựng tại Viện kiểm sát nhân dân tối cao có đặc điểm gì?
    Cục Kế hoạch – Tài chính có 42 công chức, riêng Phòng Đầu tư xây dựng chỉ có 9 công chức. Lực lượng mỏng này phải đảm nhiệm khối lượng công việc rất lớn gồm thẩm định, quản lý, hướng dẫn và giám sát hàng trăm dự án trên toàn quốc.

  5. Luận văn đưa ra giải pháp đột phá nào về ứng dụng công nghệ trong quản lý?
    Tác giả đề xuất đầu tư hệ thống phần mềm quản lý dự án liên thông trực tuyến giữa Viện kiểm sát nhân dân tối cao và 63 Viện kiểm sát cấp tỉnh, giúp số hóa hồ sơ, giám sát tiến độ thực và kiểm soát dòng tiền chi tiết theo thời gian thực.

Kết luận

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và 4 hình thức thực hiện pháp luật đầu tư xây dựng cơ bản trong cơ quan tư pháp.
  • Đánh giá trung thực thực trạng giải ngân 1.834,9 tỷ đồng giai đoạn 2016–2020, làm rõ nghịch lý thiếu hụt 70% nhu cầu vốn.
  • Nhận diện trực diện các điểm nghẽn về nợ đọng thanh toán tại 92 dự án và áp lực quá tải của 9 cán bộ chuyên trách.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ về thể chế, quản trị phân bổ vốn, chuyển đổi số và nâng cao năng lực cán bộ giai đoạn 2021–2025.
  • Đóng góp luận cứ khoa học quan trọng giúp hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính công và nâng cao hiệu quả đầu tư cơ sở vật chất ngành kiểm sát.

Đóng góp chính của luận văn là thu hẹp khoảng trống nghiên cứu về thực thi pháp luật đầu tư xây dựng tại cơ quan thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp. Để nâng cao hiệu lực quản lý, các cơ quan chuyên trách cần khẩn trương triển khai ứng dụng phần mềm quản lý và kiện toàn nhân sự ngay từ giai đoạn 2021–2023. Hãy tham khảo toàn văn luận văn để áp dụng chi tiết các mô hình và giải pháp quản trị dự án đầu tư công hiệu quả.