Chương 1: Lý luận và pháp luật về thực hành quyền công tổ trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự đối với các tội phạm về ma túy. Chương 2: Thực trạng thực hành quyền công tổ trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự đối với các tội phạm về ma túy trên địa bàn thành phố Hải Phòng. Chương 3: Yêu cầu và giải pháp nâng cao chất lượng thực hành quyền công tô trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự đối với các tội phạm về ma túy của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng. CHUONG 1 LY LUAN VA PHAP LUAT VE THUC HANH QUYEN CONG TO TRONG GIAI DOAN DIEU TRA VU AN HINH SU DOI VOI CAC TOI PHAM VE MA TUY 1.
Lý luận về thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự đôi với các tội phạm về ma túy 1.1 Khái niệm quyền công tổ và thực hành quyền công to Quyền công tố và thực hành quyền công tố là những khái niệm được nhắc đến nhiều trong luật tô tụng hình sự (TTHS) nước ta khi dé cập chức năng của viện kiểm sát các cấp. Điều 138 Hiến pháp năm 1980 lần đầu tiên quy định Viện kiểm sát nhân dân tối cao nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam kiểm sát việc tuân theo pháp luật. thực hành quyền công tố, bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất; các viện kiểm sát nhân dân địa phương va viện kiểm sát quân sự kiểm sát việc tuân theo pháp luật, thực hành quyền công tổ trong phạm vi trách nhiệm của mình. Quy định đó cũng được nhắc lại trong Hiến pháp năm 1992.
Trên cơ sở quy định của Hiến pháp, Luật tổ chức viện kiểm sát nhân dân và các văn bản pháp luật TTHS khác cũng có những quy định tương tự. Trong khoa học luật TTHS, việc xác định khái niệm quyền công tố và theo đó là thực hành quyền công tố có ý nghĩa lí luận và thực tiễn rất quan trọng. Giải quyết tốt vẫn đề đó giúp cho việc xác định chính xác vai trò, vị trí của viện kiêm sát trong hệ thống cơ quan nhà nước nói chung va trong các cơ quan tư pháp nói riêng; xác định rõ chức năng của viện kiểm sát, đặc biệt là trong TTHS; từ đó có những quyết định đúng đắn về tổ chức viện kiểm sát các cấp. Quyền công tố là khái niệm pháp lý gắn liền với chức năng của Viện kiểm sát, hiểu, nhận thức đúng, day đủ quyền công tố là van đề không đơn giản.
Khái nệm quyền công tố đã được đề cập tại các bài báo, tạp chí chuyên ngành và các công trình nghiên cứu, với nhiêu cách tiép cận khác nhau. Theo Đại từ điên Tiêng Việt, “Công” được hiéu là “thuộc vê Nhà nước”, 8 mang yêu tô công cộng, thuộc tính chung xã hội, trái ngược với “tư” là thuộc vê cá nhân, cái riêng. “To” được hiệu là “trình bày công khai cho mọi người biết việc làm sai trái, phạm pháp của người phạm tội khác”. “Công tô” là “điêu tra, truy tố, buộc tội kẻ phạm pháp và phát biéu ý kiến trước tòa án” [25, tr459].
Từ điển Luật học cho rằng công tố là “quyền buộc tội nhân danh Nhà nước đối với người phạm tội. được xem xét trong mối liên hệ với lĩnh vực pháp luật., không thé tách rời với việc nhân danh Nhà nước chống lại hình thức vi phạm pháp luật nghiêm trọng (tội phạm), đó là lĩnh vực tố tụng hình sự” [50, tr188]. Theo từ điển Oxford, công tố (prosecution) được hiểu là quá trình thực hiện một loạt hoạt động pháp lý dé chứng minh trước Tòa án rằng một người nào đó phạm tội, là hoạt động chính thức cho việc buộc tội một hành vi phạm pháp. Có thé hiểu rằng quyên công tố là quyền lực dé cơ quan có thẩm quyền thực hiện các thủ tục tố tụng đã được quy định dé buộc tội hành vi phạm pháp trước cơ quan xét xử là Tòa án.
Ở Việt Nam, nói đến quyền công tố và THỌCT là đề cập đến chức năng của VKSND. Hiến pháp năm 1980, tại Điều 138 lần đầu tiên đưa ra thuật ngữ “Thực hành quyên công to”. Nội dung này tiếp tục được đề cập tại các Điều 1, Điều 3 Luật Tô chức VKSND các năm 1981 và 2002. Hiến pháp năm2013 được Quốc hội khóa XIII thông qua tại kỳ họp thứ 6 và Luật t6 chức VSKND sửa đổi, bổ sung được Quốc hội thông qua ngày 24/11/2014, có hiệu lực thi hành kế từ ngày 01/6/2015 tiếp tục khang định chức năng của VKSND là THQCT và KSHDTP.
Tuy nhiên, ké từ khi xuất hiện, nhận thức về quyền công tố còn có nhiều quan điểm khác nhau, thê hiện: Quan điểm thứ nhất: Tất cả các hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát đều là thực hành quyền công tố. Quan điểm này dựa trên quy định tại Điều 3 Luật Tổ chức VKSND năm 1981 va đã đánh đồng quyền công tố với hoạt động kiêm sát tuân theo pháp luật. Theo đó, công tố không phải là một chức năng độc lập mà chỉ là một hình thức thực hiện chức năng kiểm sát tuân theo pháp luật của VKS. Tuy nhiên, quan điểm này chưa chính xác vì trong thực tiễn hoạt động của VKS, mặc dù hai chức năng công tố và kiểm sát tuân theo pháp luật có sự liên hệ chặt chẽ và tác động qua lại lẫn nhau nhưng đây là hai chức năng độc lập cả về phạm vi áp dụng và nội dung.
Quan điểm thứ hai: Công tố chỉ là hình thức thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật, không phải là một chức năng riêng biệt của VKS. Quyền công tố là quyền nhân danh Nhà nước kiểm sát tính hợp pháp của quá trình điều tra tội phạm, nhằm truy tố và buộc tội người phạm tội ra Tòa án dé xét xử đúng người, đúng tội, đúng luật, đảm bảo lợi ích xã hội, lợi ích Nhà nước và đặc biệt là quyền tự do của con người. Theo quan điểm này, giữa THQCT và kiểm sát sự tuân theo pháp luật là quan hệ giữa cái riêng và cái chung, quan điểm này dựa trên lý luận của các nhà TTHS học Xô Viết, phổ biến trong giai đoạn trước khi Hiến pháp năm 1980 quy định cụ thé hon về THQCT của VKS. Quan điểm thứ ba: Quyền công tổ là quyền lực của Nhà nước giao cho các cơ quan cụ thé dé thực hiện việc khởi tố, điều tra và truy tố người phạm tội ra trước tòa án dé xét xử và buộc tội trước phiên tòa.
Quan điểm này được phổ biến trong các Nhà nước có sự phân chia quyên lực. Quan điểm thứ tư: Quyền công tố là quyền lực của Nhà nước giao cho VKS thực hiện các hoạt động truy tố người phạm tội trước Tòa án, buộc tội người đó tại phiên tòa với tội danh cụ thé bang quá trình chứng minh có căn cứ và đúng pháp luật được thể hiện trong bản cáo trạng. Những người có quan điểm này cho rằng đây là quan điểm phù hợp nhất với lý luận và thực tiễn hoạt động của VKS. Quan điểm thứ năm: Quyền công tổ là quyền đại điện cho Nhà nước đưa các vụ việc vi phạm pháp luật ra Tòa án dé xét xử nhằm bảo vệ lợi ich Nha nước, xã hội, công dân, bảo vệ trật tự pháp luật.
Theo quan điểm này, quyền công tố xuất hiện từ khi có Nhà nước và pháp luật, được thé hiện đầu tiên trong lĩnh vực TTHS. Cùng với sự phát triển của xã hội và các ngành luật nên quyền 10 công tố được mở rộng sang các lĩnh vực như tố tụng dân sự, tố tụng khác như một quyền năng nhằm thực hiện chức năng kiểm sát tuân theo pháp luật, nhăm dam bao mọi hành vi vi phạm pháp luật va tội phạm đều bị phát hiện, xử lý theo pháp luật. Quan điểm này đã đánh đồng giữa khái niệm quyền công tố Nhà nước với thầm quyền của VKS trong việc giải quyết vụ án hình sự, dân sự. dẫn tới việc xác định quá rộng khái niệm, nội dung và phạm vi của quyền công tố, làm mat đi ranh giới, tính đặc thù của TTHS và các lĩnh vực tố tụng khác.
Đây cũng là quan điểm đã được đưa vào chương trình giảng dạy chính thức tại trường Cao đăng kiểm sát. Do các quan niệm khác nhau như trên về quyền công tố cho nên dẫn đến cách lí giải khác nhau về phạm vi thời gian cũng như không gian của quyền công tố. Về không gian, đa số các quan điểm cho rằng quyền công tố chỉ có trong lĩnh vực duy nhất là TTHS nhưng cũng có quan điểm cho rang quyền công tố được thực hiện trong cả các lĩnh vực hoạt động tư pháp như TTHS, tố tụng dân sự, kinh tế, lao động. Tổng hợp các quan điểm khoa học, tác giả xin đưa ra khái niệm về quyền công tố như sau: Quyền công tổ là một loại quyền lực Nhà nước, được Nhà nước trao cho cơ quan công tố (VKS), đại điện Nhà nước truy cứu trách nhiệm hình sự và truy tố, buộc tội đối với người phạm tdi.
Đối tượng của quyền công tố: Đối tượng của quyền công tố không phải mọi hành vi vi phạm pháp luật mà chỉ là những hành vi xâm phạm những quan hệ xã hội quan trọng được nhà nước bảo vệ va được quy định trong Bộ luật hình sự. Những hành vi xâm phạm quan hệ pháp luật dân sự, kinh tế, hành chính, không phải là đối tượng của quyền công tố, bởi quyền công tố là phạm trù gan liền với trách nhiệm hình sự và van đề truy cứu trách nhiệm hình sự. Quyền công té chi tác động vào những hành vi xâm phạm quan hệ pháp luật hình sự và người thực hiện hành vi đó. Quyền công tô được thực hiện thông qua cơ quan có thâm quyền, nhằm đảm bảo mọi hành vi phạm tội đều được phát hiện, xử lý, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, qua đó duy trì ôn định và trật tự xã hội.
Vì vậy, chúng tôi cho răng đôi tượng của quyên công tô là tội phạm và 11 người phạm tdi. Nội dung của quyền công tố Trong chức năng buộc tội, với tư cách là một chức năng tổ tụng luôn nhằm chống lại một cá nhân cụ thể và bản chất của nó là hoạt động truy cứu TNHS đối với người phạm tội. Xuất phát từ quan điểm quyền công tổ là quyền nhân danh Nhà nước truy cứu TNH§ đối với người phạm tội, là sự buộc tội nhân danh Nhà nước. Do vậy, nội dung của quyền công tố chính là sự buộc tội đối với người đã thực hiện hành vi tội phạm.