CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan các tài liệu về các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu của Việt Nam a) Tài liệu nước ngoài: 2 Thứ nhất, các nghiên cứu phân tích dữ liệu bảng về các yếu tố tác động đến hiệu quả xuất khẩu khu vực ASEAN - Determinants of Export Performance in ASEAN Region: Panel Data Analysis, Thida Oo và các cộng sự (International Business Research; Vol.8; 2019) đã xác định và đo lường mức độ tác động của lãi suất, tốc độ tăng trưởng kinh tế và nguồn vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài lên các hoạt động xuất khẩu của các quốc gia khu vực Đông Nam Á. Trong nghiên cứu này, Thida Oo và cộng sự sử dụng mô hình tự phân phối độ trễ hồi quy (ARDL) áp dụng trong giai đoạn 2000 đến 2015. Nghiên cứu chỉ ra rằng giữa các yếu tố lãi suất, tốc độ tăng trưởng kinh tế và nguồn vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài luôn có mối quan hệ lâu dài với khả năng và giá trị xuất khẩu của các nước trong khu vực ASEAN.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội GDP có ảnh hưởng lớn nhất đến hoạt động xuất khẩu của các quốc gia đang phát triển. Và tỷ giá hối đoái có tác động không đáng kể đến hoạt động xuất khẩu ở các nước khu vực ASEAN. Việt Nam là một nước thuộc khu vực Đông Nam Á, vì vậy kết quả nghiên cứu này, đang phản ánh đúng mối liên hệ giữa các yếu tố và hoạt động xuất khẩu của Việt Nam. Thứ hai, theo bài báo nghiên cứu Determinants of Vietnam’s exports: Application of the Gravity Model của tác giả Nguyen Huy Quynh, đại học quốc gia Australia, đã mở rộng thêm một số yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu của Việt Nam với độ phủ số liệu của 28 quốc gia trong giai đoạn 4 năm từ 2001 đến 2004.
Ngoài yếu tố tổng sản phẩm quốc nội (GDP); tỷ giá hối đoái và vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI), Nguyen Huy Quynh đã đánh giá tác động của khoảng cách địa lí giữa Việt Nam và nước nhập khẩu, lượng hóa biến giả các quốc gia có tham gia các hiệp định thương mại song phương với Việt Nam và các biến giả các quốc gia là thành viên của cộng đồng kinh tế ASEAN và đo lường mức độ tác động của các yếu tố này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, thương mại song phương có ảnh hưởng tích cực đến GDP nước xuất khẩu – Việt Nam và GDP các quốc gia nhập khẩu. Tuy nhiên, số liệu của bài nghiên cứu chỉ trong khoảng thời gian từ 2001 đến 2004, điều này có thể ảnh hưởng đến độ chính xác của nghiên cứu khi không phản ánh những thay đổi trong hoạt động xuất khẩu của Việt Nam. Thứ ba, trong bài nghiên cứu The Determinants of Vietnamese Export Flows: Static and Dynamic Panel Gravity Approaches, tác giả Bac Xuan Nguyen đã phân tích mối tương quan chặt chẽ giữa dòng xuất khẩu hiện tại của Việt Nam so với những năm trước đó và giữa việc hồi quy cả mô hình trọng lực tĩnh và động, tác giả thấy rằng sử dụng mô hình động phù hợp với dữ liệu hơn mô hình tĩnh.
Ngoài ra, trong bài nghiên cứu này, tác giả đã kiểm soát các cá nhân không được quan sát tác động theo mô hình tác động cố định (FEM) hoặc mô hình tác động ngẫu nhiên (REM). Từ đó, tác giả rút ra kết luận, lực hấp dẫn giữa nền kinh tế địa phương và nền kinh tế điểm đến du 3 lịch, chi phí vận chuyển và tỷ lệ trao đổi là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến xuất khẩu của Việt Nam. Bên cạnh đó, tư cách thành viên ASEAN dường như cũng có mối liên hệ với dòng xuất khẩu của Việt Nam, đặc biệt kể từ khi nước này bắt đầu hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế khu vực trong những năm gần đây. Chi phí vận tải đóng vai trò quan trọng trong hoạt động xuất khẩu của Việt Nam.
Chi phí vận chuyển cao hơn cản trở hoạt động xuất khẩu và ngược lại, chi phí vận chuyển giảm sẽ hỗ trợ xuất khẩu của Việt Nam. Tuy nhiên, ảnh hưởng của chi phí vận chuyển đến xuất khẩu của Việt Nam có xu hướng giảm dần theo thời gian. Sự phụ thuộc của xuất khẩu Việt Nam vào chi phí vận tải hàm ý rằng bên cạnh việc coi trọng các nền kinh tế lớn trên thế giới là thị trường điểm đến chính cho hàng xuất khẩu của Việt Nam, chính phủ cũng cần quan tâm đúng mức đến các thị trường điểm đến có chi phí vận chuyển rẻ hơn. Việc tiếp cận các thị trường này cần được tạo điều kiện thuận lợi bằng các chính sách liên quan để tận dụng lợi thế về vị trí địa lý nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh của hàng xuất khẩu của Việt Nam.
b) Tài liệu trong nước: Kết quả nghiên cứu Đánh giá tiềm năng và hiệu quả hoạt động xuất khẩu của Việt Nam của Phạm Vĩnh Thái và Phạm Văn Minh cho thấy tổng sản phẩm quốc nội của Việt Nam và nước đối tác đều có tác động cùng chiều đến hoạt động và tiềm năng xuất khẩu của Việt Nam. Đồng Việt Nam mất giá so với đồng của các quốc gia đối tác sẽ thúc đẩy xuất khẩu của Việt Nam sang các quốc gia này nhờ lợi thế về giá cả. Khoảng cách địa lý giữa Việt Nam với quốc gia nhập khẩu và quy mô dân số nước nhập khẩu có ảnh hưởng ngược chiều đối với hoạt động xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam. Mô hình còn hạn chế về nguồn vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài do hạn chế về số liệu trong giai đoạn 1995-2014, nếu có thể bổ sung biến này vào mô hình thì kết quả nghiên cứu sẽ chính xác hơn nữa.
Nghiên cứu Các yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam giai đoạn 2004-2021 của tác giả Nguyễn Văn Công (Khoa Kinh tế học, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân) đã sử dụng mô hình tác động ngẫu nhiên robust để ước lượng các hệ số của mô hình đối với xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang 28 quốc gia và vùng lãnh thổ trong 2004-2021. Tương tự như các nghiên cứu nước ngoài trước, dân số, FDI, việc tham gia các hiệp định thương mại tự do có tác động cùng chiều đối với tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam và khoảng cách địa lý có tác động ngược lại. Ngoài ra, yếu tố năng suất lao động tương đối của Việt Nam so với các quốc gia đối tác có tác động tích cực đối với hoạt động xuất khẩu. Yếu tố đường biên giới chung hay riêng đều không có ý nghĩa thống kê đối với hoạt động xuất khẩu của Việt Nam.
Bên cạnh đó, tính đa dạng của hàng hóa cũng được coi là yếu tố có ảnh hưởng đến tăng trưởng xuất khẩu. Bổ sung thêm yếu tố thực tế này có thể giúp cải thiện kết quả của mô hình. 4 Nghiên cứu Các yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang các nước ASEAN trong bối cảnh hội nhập AEC ước lượng và kiểm định các yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu của Việt Nam sang các nước ASEAN trong giai đoạn 1997- 2015. Trong nghiên cứu này, nhóm tác giả đã sự dụng mô hình kinh tế lượng, kết quả cho thấy xuất khẩu của Việt Nam tăng khi tổng sản phẩm quốc nội (Gross domestic product-GDP) bình quân đầu người của Việt Nam và GDP bình quân đầu người của nước nhập khẩu tăng lên.
Ngược lại, chi phí vận chuyển, được đại diện bởi khoảng cách địa lý, có tác động tiêu cực đến xuất khẩu của Việt Nam. Ngoài ra, nghiên cứu cũng kết luận rằng hội nhập AEC chưa tác động tích cực ngay đến xuất khẩu Việt Nam, nhưng những lợi ích tiềm tàng trong cắt giảm thuế quan vẫn hứa hẹn tác động tích cực đến xuất khẩu của Việt Nam và đưa ra một số kiến nghị để thúc đẩy xuất khẩu Việt Nam ra thị trường ASEAN. Nghiên cứu Việt Nam tham gia Hiệp định CPTPP: Cơ hội và thách thức đối với xuất khẩu hàng hóa Việt Nam tác giả Nguyễn Thị Oanh sẽ phân tích một số nội dung cam kết trong CPTPP ảnh hưởng đến lĩnh vực xuất khẩu của Việt Nam, những có hội và thách thức đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam, từ đó đưa ra một số khuyến nghị đối với Nhà nước và doanh nghiệp trong nước nhằm tiếp tục mở rộng quy mô và tăng kim ngạch xuất khẩu vào thị trường này. Trong bài viết, tác giả đã chỉ ra những cơ hội của Việt Nam khi tham gia CPTPP là tăng kim ngạch xuất khẩu, mở rộng cơ cấu mặt hàng xuất khẩu, giúp Việt Nam tiếp xúc với các thị trường mới, bên cạnh đó là những thách thức Việt Nam phải đối mặt như việc để được hưởng lợi ích từ việc cắt giảm thuế quan, các sản phẩm dệt may Việt Nam phải chứng minh được xuất xứ “từ sợi trở đi”, thách thức về hàng rào phi thuế quan của các nước CPTPP.
Từ đó, tác giả đưa ra một số kiến nghị đối với Nhà và doanh nghiệp. Tổng quan các tài liệu về các yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu mặt hàng gỗ a) Tài liệu trong nước: Nghiên cứu của Tô Xuân Phúc và cộng sự (2015) về xuất khẩu dăm gỗ của Việt Nam đã chỉ ra những tác động ngược chiều của xuất khẩu dăm gỗ lên ngành đồ gỗ. Dù bài nghiên cứu chưa có mô hình định lượng, nhưng đã có những lập luận chặt chẽ về mối quan hệ giữa 2 ngành này. Tính đến thời điểm hiện tại, dăm gỗ đối với các cơ quan quản lý xuất khẩu vẫn được coi là nguyên liệu thô, không tạo ra được giá trị thặng dư trong sản phẩm xuất khẩu và có một số ý kiến cho rằng sự phát triển của sản xuất và xuất khẩu ngành dăm gỗ sẽ làm mất nguồn cung đầu vào cho ngành chế biến đồ gỗ vì 2 ngành này cùng sử dụng chung nguồn gỗ đầu vào là rừng trồng.
Chính phủ đã có những chiến lược nhằm hạn chế xuất khẩu dăm, mục đích nhằm gia tăng nguyên liệu đầu vào cho ngành công nghiệp chế biến gỗ thông qua một số chế tài đặc biệt là thuế xuất khẩu từ đó giúp khuyến khích sản phẩm đồ gỗ tinh chế giúp nâng cao giá trị gia tăng cho sản 5 phẩm. Kết quả của cuộc nghiên cứu sẽ giúp ích cho quá trình nghiên cứu chính xác mối quan hệ giữa 2 ngành xuất khẩu dăm gỗ và ngành chế biến gỗ từ đó hình thành các chính sách một cách hiệu quả hơn. Đây là một bài nghiên cứu đáng tham khảo để bổ sung vào mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu các sản phẩm gỗ.