Chương 1 VAI TRÒ CỦA VIỆC BẢO VỆ, THÚC ĐẨY QUYỀN CỦA NGƢỜI CAO TUỔI 1. Ngƣời cao tuổi và tình hình ngƣời cao tuổi 1. Người cao tuổi Việc xác định thế nào là “Ngƣời cao tuổi” có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc xác định họ có phải là chủ thể đƣợc hƣởng các quyền của NCT hay không cũng nhƣ xác định thời điểm một ngƣời đƣợc hƣởng các chế độ, chính sách của quốc gia đó dành cho NCT. Trong khuôn khổ luận văn này, khái niệm “ngƣời cao tuổi” đƣợc xác định dựa trên độ tuổi của họ và độ tuổi này đƣợc xác định cụ thể bởi luật nhân quyền quốc tế hay nói cách khác trong khuôn khổ luận văn này chỉ xem xét khái niệm “Ngƣời cao tuổi” dựa trên cơ sở pháp lý.
Trong Bình luận chung số 6 (Quyền kinh tế, xã hội và văn hóa của những ngƣời cao tuổi) do Ủy ban về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa đƣa ra tại phiên họp thứ 13 (1995) đã ghi nhận rằng: Thuâ ̣t ngƣ̃ dùng để mô tả ngƣời cao tuổ i khá đa da ̣ng , kể cả trong các tài liê ̣u quố c tế , chúng bao gồ m : “ngƣời cao tuổ i” , “ngƣời già” , “ngƣời già cả” , “thế hê ̣ thƣ́ ba” ; “ngƣời có tuổ i” , và để biểu thị những ngƣời t ừ 80 tuổ i trở lên, thuâ ̣t ngƣ̃ đƣơ ̣c dùng là “thế hê ̣ thƣ́ tƣ”. Ủy ban đã cho ̣n thuâ ̣t ngƣ̃ “ngƣời cao tuổ i” (older person, trong tiế ng Pháp là: personnes agee , tiế ng Tây Ban Nha là: personas mayores ), tƣ̀ này đƣơ ̣c sƣ̉ du ̣ng trong các Nghi ̣quyế t 47/5 và 48/98 của Đại hội đồng. Theo kinh nghiê ̣m của cơ quan thố ng kê Liên h ợp quố c , nhƣ̃ng thuâ ̣t ngƣ̃ này bao hàm cả nhƣ̃ng ngƣờ i tƣ̀ 60 tuổ i trở lên (Eurostat - Cơ quan Thố ng kê của Liên 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com minh châu Âu coi “ngƣời cao tuổ i” là nhƣ̃ng ngƣời tƣ̀ 65 tuổ i trở lên, vì tuổi về hƣu thông thƣờng nhất là 65 tuổ i và xu hƣớng nghỉ hƣu ngày càng muô ̣n hơn ) [59, tr. Ở Việt Nam, Điều 2 Luật ngƣời cao tuổi năm 2009 quy định NCT là ngƣời “từ đủ 60 tuổi trở lên”.
Có thể thấy quan điểm của quốc tế và Việt Nam trong việc xác định độ tuổi đƣợc coi là “ngƣời cao tuổi” chƣa thực sự đồng nhất. Khoảng cách giữa một ngƣời “từ 60 tuổi trở lên” với một ngƣời “từ đủ 60 tuổi trở lên” là một khoảng trống mà ở đó một số ngƣời “lẽ ra” đã đƣợc xác định là NCT theo quan điểm của luật nhân quyền quốc tế nhƣng lại chƣa đƣợc xác định là NCT theo pháp luật Việt Nam, dẫn đến việc họ chƣa đƣợc coi là chủ thể của quyền của NCT. Nhƣ vậy, khái niệm “Ngƣời cao tuổi” theo quan điểm chung của quốc tế là khái niệm rộng hơn so với khái niệm “ngƣời cao tuổi” theo pháp luật Việt Nam. Lý giải về điều này, trong quá trình xây dựng dự thảo Luật NCT của Việt Nam, một số đại biểu cho rằng việc quy định độ tuổi nhƣ vậy là để “đảm bảo tính kế thừa Pháp lệnh ngƣời cao tuổi và Luật Quốc tịch” [30].
Tuy nhiên, khi nhìn nhận vấn đề một cách tổng quát có thể thấy rằng, xét trên điều kiện kinh tế, xã hội tại Việt Nam ở thời điểm hiện tại, việc quy định NCT là ngƣời “từ đủ 60 tuổi trở lên” là tƣơng đối phù hợp với thực tiễn khách quan tại Việt Nam, thêm vào đó việc quy định nhƣ thế này sẽ tạm thời giảm bớt áp lực cho nhà nƣớc trong việc giải quyết vấn đề an sinh xã hội của quốc gia. Mặc dù vậy theo tiến trình phát triển kinh tế, xã hội của quốc gia cũng nhƣ để đáp ứng việc hội nhập và xây dựng pháp luật quốc gia phù hợp với pháp luật quốc tế nhằm nâng cao hơn nữa việc bảo vệ, thúc đẩy nhân quyền thì về lâu dài Việt Nam nên điều chỉnh vấn đề này cho phù hợp với các tiêu chuẩn của luật nhân quyền quốc tế. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Tình hình người cao tuổi trên thế giới Báo cáo tóm tắt“Già hóa trong thế kỷ 21: thành tựu và thách thức” do Quỹ dân số LHQ và Tổ chức hỗ trợ NCT quốc tế công bố năm 2012 đã đƣa đến một cái nhìn tổng thể về tình hình NCT trên thế giới, trong đó có thể tóm tắt một số kết quả cơ bản nhƣ sau: Hiện nay trên thế giới cứ chín ngƣời thì có một ngƣời từ 60 tuổi trở lên và con số này dự tính đến năm 2050 sẽ tăng lên là cứ năm ngƣời sẽ có một ngƣời từ 60 tuổi trở lên.
Năm 1950, toàn thế giới có 205 triệu ngƣời từ 60 tuổi trở lên. Đến năm 2012, số ngƣời cao tuổi tăng lên đến gần 810 triệu ngƣời. Dự tính con số này sẽ đạt 1 tỷ ngƣời trong vòng gần 10 năm nữa và đến năm 2050 sẽ tăng gấp đôi là 2 tỷ ngƣời, chiếm 22% tổng dân số thế giới. Trong đó tỷ lệ NCT có sự khác biệt lớn giữa các vùng, ví dụ: năm 2012, Châu Phi có 6 % dân số tuổi từ 60 trở lên, ở Châu Mỹ La Tinh và vùng biển Caribe là 10%, ở Châu Á là 11%, Châu Đại dƣơng là 15%, Nam Mỹ là 19% và Châu Âu là 22%; Đến năm 2050, dự báo tỷ trọng ngƣời cao tuổi từ 60 tuổi trở lên ở Châu Phi sẽ tăng lên chiếm 10% tổng dân số, ở Châu Á và Châu Đại dƣơng là 24%, Châu Mỹ La Tinh và vùng biển Caribe là 25%, Nam Mỹ là 27% và ở Châu Âu là 34%.
Trên toàn cầu, phụ nữ chiếm đa số trong dân số cao tuổi. Hiện nay trên thế giới, cứ 100 phụ nữ từ 60 tuổi trở lên thì chỉ có 84 nam giới. Cứ 100 phụ nữ từ 80 tuổi trở lên thì chỉ có 61 nam giới. Trên toàn thế giới, trong số ba ngƣời từ 60 tuổi trở lên thì có hai ngƣời sống ở các nƣớc đang phát triển.
Đến năm 2050, trong số 5 ngƣời từ 60 tuổi trở lên thì sẽ có 4 ngƣời sống ở nƣớc đang phát triển. Trên toàn thế giới chỉ có một phần ba các quốc gia, chiếm 28% tổng dân số thế giới, có hệ thống bảo trợ xã hội toàn diện bao phủ tất cả các khía cạnh của an sinh xã hội. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chi phí cho quỹ hƣu trí toàn dân cho ngƣời từ 60 tuổi trở lên ở các nƣớc đang phát triển chỉ chiếm từ 0,7% đến 2,6% tổng thu nhập quốc dân. Trên toàn cầu, có 47% nam giới cao tuổi và 23,8% nữ giới cao tuổi tham gia vào lực lƣợng lao động.
Có hơn 46% ngƣời từ 60 tuổi trở lên là ngƣời khuyết tật. Có hơn 250 triệu ngƣời cao tuổi bị khuyết tật vừa đến khuyết tật nặng.300 nam giới và phụ nữ cao tuổi tham gia một cuộc khảo sát, có: 43% ngƣời cho biết họ lo sợ bạo lực cá nhân; 49% ngƣời tin rằng họ đƣợc đối xử một cách kính trọng; 61% ngƣời sử dụng điện thoại di động; 53% ngƣời cho biết họ gặp khó khăn hoặc rất khó khăn trong việc chi trả các dịch vụ cơ bản; 44% ngƣời nhận định tình trạng sức khỏe hiện tại của họ là ổn; 34% ngƣời cho biết họ gặp khó khăn hoặc rất khó khăn trong việc tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe khi họ cần [47, tr. Có thể thấy rằng số lƣợng NCT trên thế giới chiếm một tỷ lệ không nhỏ trong tổng dân số thế giới và số lƣợng này đang ngày càng tăng với tốc độ tăng ngày càng nhanh, đặc biệt là ở các quốc gia đang phát triển. Trong đó số lƣợng NCT là phụ nữ chiếm đa số.
Những vấn đề chủ yếu mà NCT thế giới phải đối mặt đó là sự nghèo đói, bệnh tật, bạo hành hoặc lạm dụng, sự phân biệt đối xử và sự thiếu hụt hoặc khó khăn trong tiếp cận các dịch vụ cần thiết cho cuộc sống của họ cũng nhƣ vấn đề an sinh xã hội. Tình hình người cao tuổi tại Việt Nam Theo kết quả của Điều tra biến động dân số và kế hoạch hóa gia đình thời điểm 01/4/2013 thì Việt Nam chính thức bƣớc vào thời kỳ già hóa từ năm 2011. Dân số Việt Nam (đến 1/4/2013) ƣớc tính là 89,5 triệu ngƣời, trong đó tỷ trọng dân số từ 60 tuổi trở lên tăng từ 7,1 % (1989) lên 10,5 % (2013); Chỉ số già hoá đã tăng từ 18,2% năm 1989 lên 24,3% năm 1999 và đạt 43,5% năm 2013. Điều này cho thấy xu hƣớng già hoá dân số ở nƣớc ta diễn ra tƣơng đối nhanh trong hai thập kỷ qua [52].
9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ngƣời cao tuổi tại Việt Nam đa phần là nữ và là nữ góa chồng. Theo số liệu về tình trạng hôn nhân của ngƣời cao tuổi tại Báo cáo Điều tra quốc gia về người cao tuổi Việt Nam năm 2011 thì tỷ lệ goá chồng của phụ nữ cao tuổi là 50,7% trong khi tỷ lệ goá vợ của nam giới cao tuổi là 14%, tức là tỷ lệ góa chồng của phụ nữ cao tuổi cao gấp 3,6 lần so với tỷ lệ góa vợ của nam giới cao tuổi. Bên cạnh đó, khi tuổi càng cao thì tỷ lệ nữ goá chồng của NCT ngày càng lớn [18]. Ngƣời cao tuổi Việt Nam chủ yếu sống ở nông thôn, là nông dân và làm nông nghiệp.
Theo số liệu tác giả tạm tính từ Kết quả Điều tra biến động dân số và kế hoạch hóa gia đình năm 2013 thì trong tổng số NCT tại Việt Nam hiện có tới 68,3% NCT sống ở nông thôn. Khi điều tra về công việc hiện tại của NCT thì có đến 56,8 % NCT tự làm nông nghiệp và 33,6 % là tự làm phi nông nghiệp; Xem xét theo khu vực thì ở khu vực nông thôn có 67,2 % NCT tự làm nông nghiệp và 26,9 % NCT tự làm phi nông nghiệp trong khi ở khu vực thành thị tỷ lệ NCT tự làm nông nghiệp chỉ có 20 % nhƣng tỷ lệ làm việc phi nông nghiệp thì lại là 57,8 % [52]. Một bộ phận khá lớn ngƣời cao tuổi vẫn đang làm việc và làm việc chủ yếu trong hộ gia đình. Khoảng 39% NCT vẫn đang làm việc với những công việc khác nhau.
Vẫn có tới 60% NCT trong độ tuổi 60-69 đang làm việc nhƣng tỷ lệ làm việc của nhóm tuổi 70-79 và từ 80 tuổi trở lên giảm rất nhanh so với nhóm tuổi 60-69 (chỉ tƣơng ứng là 30% và 11%).