Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về thừa kế thế vị và pháp luật vè thừa kế thế vị. Chương 2: Thực trạng và thực tiễn thực hiện pháp luật về thừa kế thế vị ở Việt Nam hiện nay. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật về thừa kế thế vị. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THỪA KẾ THẾ VỊ VÀ PHÁP LUẬT VỀ THỪA KẾ THẾ VỊ 1.
Một số vấn đề lý luận về thừa kế thế vị 1. Khái niệm thừa kế, quyền thừa kế * Khái niệm về thừa kế Con ngƣời là một thực thể trong xã hội, không thể sống và lao động khi không có tài sản để thỏa mãn nhu cầu cần thiết trong sinh hoạt cũng nhƣ trong sản xuất. Tài sản chung của con ngƣời gồm tƣ liệu sản xuất và tƣ liệu tiêu dùng chính là phƣơng tiện sống, phƣơng tiện sinh hoạt, phƣơng tiện thực hiện các hoạt động sản xuất, kinh doanh. Con ngƣời khai thác tài sản của mình để phục vụ cho nhu cầu của bản thân, khi chết, tài sản của họ đƣợc dịch chuyển cho ngƣời còn sống.
Quá trình dịch chuyển tài sản này đƣợc gọi là thừa kế. Thừa kế là một quan hệ xã hội mà đã xuất hiện ngay từ thời kỳ sơ khai của xã hội loài ngƣời. Ngay từ thời kỳ sơ khai này, sở hữu và thừa kế xuất hiện là một phạm trù kinh tế, giữa chúng có mối quan hệ qua lại, ràng buộc lẫn nhau. Quan hệ sở hữu là quan hệ giữa ngƣời với ngƣời về việc chiếm hữu của cải vật chất trong xã hội, trong quá trình sản xuất, lƣu thông của cải vật chất.
Cá nhân có quyền sở hữu của cải vật chất hợp pháp, họ sẽ có quyền sử dụng chúng để thỏa mãn nhu cầu của mình và có quyền định đoạt chúng khi cần thiết. Khi họ chết, những của cải vật chất thuộc sở hữu hợp pháp của họ còn lại sẽ đƣợc dịch chuyển cho cá nhân, tổ chức khác. Quá trình dịch chuyển của cải này đƣợc gọi là thừa kế. Khi lực lƣợng sản xuất phát triển, của cải dƣ thừa, những ngƣời có địa vị nắm quyền điều hành thị tộc, bộ lạc và lợi dụng chức phận chiếm đoạt của cải.
Lúc này, xã hội có giai cấp xuất hiện kéo theo sự đối kháng giai cấp trong 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com xã hội xuất hiện vì vậy Nhà nƣớc của chế độ tƣ hữu xuất hiện để bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị. Nhà nƣớc thiết lập trật tự trong quan hệ sở hữu tài sản và điều chỉnh quan hệ thừa kế thông qua những quy phạm pháp luật. Thừa kế và sở hữu luôn tồn tại song song và gắn bó chặt chẽ với nhau trong mọi hình thái kinh tế xã hội. Nếu thừa kế phản ánh tài sản nào trong xã hội thuộc về ai thì thừa kế là sự phản ánh tài sản của ai đó sẽ dịch chuyển cho ai khi họ chết.
Thừa kế là tiếp nối, là hệ luận của sở hữu [44, tr. Quan hệ thừa kế tài sản chỉ hình thành và phát triển khi trong xã hội xuất hiện chế độ tƣ hữu về tài sản, nó gắn chặt với nhau, không thể tách rời. Mối quan hệ giữa sở hữu và thừa kế phát sinh trong xã hội rất mật thiết và đƣợc thể hiện ở chỗ: Nếu thừa kế là yếu tố tiền đề để thừa kế phát sinh thì ngƣợc lại, thừa kế là phƣơng tiện để duy trì, củng cố và phát triển sở hữu tài sản [30, tr. Thừa kế là một quan hệ xã hội, vì vậy không chỉ bị tác động bởi quy phạm pháp luật, thừa kế còn bị tác động bởi những quy tắc xã hội.
Quy tắc đó chính là phong tục, tập quán, đạo đức, quan niệm về gia đình trong từng thời kỳ. Từ những phân tích trên, có thể thấy thừa kế xuất hiện và tồn tại cùng với sự xuất hiện và phát triển của xã hội, đƣợc thể hiện ở sự dịch chuyển tài sản của ngƣời chết cho ngƣời còn sống (bao gồm cá nhân, tổ chức) theo các nguyên tắc, trình tự và thủ tục do pháp luật quy định. Về mặt ngôn ngữ, thừa kế đƣợc định nghĩa trong Từ điển tiếng Việt 1992 nhƣ sau: Thừa kế là hưởng của người khác để lại cho”. Theo Từ điển giải thích thuật ngữ luật học thì: “Thừa kế là sự chuyển dịch tài sản của người chết cho những người còn sống.
Thừa kế luôn gắn với chủ sở hữu, sở hữu là yếu tố quyết định thừa kế và là phương tiện để duy trì, củng cố quan hệ sở hữu” [42, tr. Nhƣ vậy, thừa kế chính là sự chuyển dịch tài sản từ ngƣời chết cho cá nhân, tổ chức có quyền hƣởng di sản thừa kế. Ngƣời đƣợc hƣởng tài sản của 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ngƣời chết để lại là ngƣời thừa kế. Ngƣời thừa kế trở thành chủ sở hữu của tài sản đƣợc hƣởng theo di chúc hoặc theo pháp luật.
* Khái niệm quyền thừa kế Thừa kế là sự chuyển dịch tài sản tồn tại ngay cả ở xã hội chƣa có luật pháp cũng nhƣ ở xã hội đã có luật pháp, sự ra đời của khái niệm thừa kế gắn với sự xuất hiện tƣ hữu về tài sản. Khi chƣa có Nhà nƣớc, thừa kế đƣợc dịch chuyển theo phong tục, tập quán của các thị tộc, bộ lạc. Khi Nhà nƣớc xuất hiện, giai cấp thống trị thông qua quyền lực nhà nƣớc, sử dụng pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội, làm cho các quan hệ đó phát sinh, phát triển theo hƣớng có lợi cho giai cấp mình. Quyền thừa kế là chế định pháp luật đƣợc các quy phạm pháp luật điều chỉnh phù hợp với những điều kiện, trình tự để lại di sản và nhận di sản của các chủ thể tham gia vào các quan hệ pháp luật đó.
Nếu thừa kế tồn tại trong mọi hình thái kinh tế- xã hội thì quyền thừa kế chỉ ra đời khi xã hội đã có pháp luật, hơn thế nữa nó ra đời trong bối cảnh pháp luật đã đạt đến một sự phát triển nhất định [18, tr. Quyền thừa kế là một trong những căn cứ xác lập quyền sở hữu đối với tài sản mà ngƣời đƣợc hƣởng di sản đƣợc hƣởng hợp pháp. Quyền thừa kế chỉ phát sinh khi ngƣời để lại di sản chết và tài sản của ngƣời đó vẫn còn. Nhƣ vậy, quyền sở hữu tài sản chi phối trực tiếp đến quyền thừa kế.
Là một bộ phận của chế định thừa kế nên quyền thừa kế chứa đựng những yếu tố, tính chất của một chế định pháp luật, bảo hộ quyền của cá nhân đối với tài sản thuộc quyền sở hữu của họ khi họ đƣợc hƣởng thừa kế. Quyền thừa kế không chỉ đƣợc xây dựng trên cơ sở quyền tài sản mà còn bị chi phối bởi những quan niệm về gia đình, lễ giáo, văn hóa, truyền thống, đạo đức. Vì vậy mà mỗi quốc gia có những quy định khác nhau về quyền thừa kế, thậm chí ở mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau, quyền thừa kế cũng 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đƣợc quy định khác nhau để phù hợp với tình hình phát triển của quốc gia đó. Cơ sở này chính là nền tảng của các quy định liên quan đến thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc, thể hiện trách nhiệm của cá nhân đối với gia đình, một số thành viên trong gia đình vẫn đƣợc hƣởng di sản của ngƣời chết để lại, bất chấp ý chí của ngƣời chết không muốn để lại tài sản cho gia đình.
Chính vì vậy, quyền thừa kế đƣợc nhìn nhận dƣới sự tổng hòa của hai phƣơng diện: - Phƣơng diện chủ quan: Quyền thừa kế là quyền dân sự cơ bản của mỗi công dân đƣợc pháp luật bảo vệ. Mọi công dân đều có quyền có quyền nhƣ nhau trong việc định đoạt tài sản của mình cho ngƣời khác sau khi chết cũng nhƣ quyền nhận di sản do ngƣời khác để lại. - Phƣơng diện khách quan: Quyền thừa kế là tổng hợp quy định của pháp luật điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong quá trình dịch chuyển di sản của ngƣời chết cho ngƣời còn sống nhƣ về điều kiện, trình tự, hình thức đồng thời bảo vệ quyền của ngƣời để lại di sản và quyền của ngƣời đƣợc hƣởng di sản. * Quan hệ pháp luật thừa kế Quan hệ pháp luật dân sự là nhóm các quan hệ xã hội đƣợc pháp luật dân sự điều chỉnh.
Có thể hiểu quan hệ pháp luật thừa kế là nhóm các quan hệ xã hội phát sinh trên cơ sở chuyển giao tài sản của ngƣời chết để lại cho những ngƣời còn sống do pháp luật thừa kế điều chỉnh [30, tr. Thừa kế nói chung là quá trình dịch chuyển tài sản từ ngƣời đã chết cho ngƣời còng sống. Nếu quá trình dịch chuyển này đƣợc thực hiện dựa trên ý chí ngƣời đã chết thể hiện trong di chúc thì đƣợc gọi là thừa kế theo di chúc. Nếu quá trình dịch chuyển này đƣợc thực hiện theo hàng thừa kế, điều kiện, trình tự pháp luật quy định thì đƣợc gọi là thừa kế theo pháp luật.
Ngƣời đƣợc hƣởng di sản thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật là ngƣời thừa kế trong quan hệ pháp luật thừa kế. Ngƣời thừa kế theo pháp luật 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chỉ có thể là các nhân và phải là ngƣời có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dƣỡng đối với ngƣời để lại di sản. Ngƣời thừa kế theo di chúc có thể là cá nhân hoặc tổ chức hoặc Nhà nƣớc. Cá nhân là ngƣời thừa kế phải còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc đã thành thai vào thời điểm mở thừa kế và sinh ra mà còn sống.
Tổ chức là ngƣời thừa kế thì phải còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế. Căn cứ phát sinh một quan hệ thừa kế là sự chết của một cá nhân và chỉ khi ngƣời chết đó có tài sản, có ngƣời thuộc diện thừa kế hay có cá nhân, tổ chức đƣợc chỉ định hƣởng di sản theo di chúc mới phát sinh quan hệ thừa kế. Để xác lập quan hệ thừa kế thì tài sản của ngƣời chết để lại phải còn vào thời điểm mở thừa kế, những ngƣời thừa kế phải thực hiện quyền thừa kế của họ. Thừa kế là sự chuyển dịch tài sản của ngƣời chết cho ngƣời còn sống, do đó quan hệ pháp luật thừa kế chỉ phát sinh từ thời điểm ngƣời để lại di sản chết.
Nếu cái chết của họ là cái chết thực tế (còn gọi là chết sinh học) thì thời điểm mở thừa kế đối với di sản của họ chính là thời điểm họ chết, thời điểm này đƣợc ghi nhận trong giấy khai tử.