Chương 1: Khái quát về thủ tục giám đốc thẩm vụ án dân sự. 12 Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam hiện hành về thủ tục giám đốc thẩm vụ án dân sự. Chương 3: Thực tiễn thực hiện thủ tục giám đốc thẩm vụ án dân sự và kiến nghị. 13 CHƢƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ THỦ TỤC GIÁM ĐỐC THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ 1.
Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của thủ tục giám đốc thẩm vụ án dân sự 1. Khái niệm và đặc điểm thủ tục giám đốc thẩm vụ án dân sự Ở Việt Nam hiện nay, việc xét xử các vụ án dân sự được tiến hành theo nguyên tắc thực hiện chế độ hai cấp xét xử. Điều này được hiểu là một vụ án dân sự có thể được xét xử qua cả hai cấp sơ thẩm và phúc thẩm. Khi vụ án được xét xử sơ thẩm, bản án chưa có hiệu lực pháp luật ngay, trong thời hạn luật định nếu thấy bản án, quyết định của Tòa án không phù hợp với thực tế khách quan hoặc đúng pháp luật thì, các đương sự có quyền kháng cáo hoặc Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
Việc ghi nhận nguyên tắc này nhằm mục đích đảm bảo tính đúng đắn và tuân theo pháp luật của hoạt động xét xử, qua đó bảo đảm tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Tuy nhiên, hết thời hạn luật định, nếu bản án, quyết định sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm thì đương nhiên có hiệu lực pháp luật, trong khi đó khác với cấp sơ thẩm, bản án, quyết định phúc thẩm của Tòa án có tính chất chung thẩm và được thi hành ngay. Từ thực tiễn xét xử của ngành Tòa án trong nhiều năm đã chứng minh một thực tế rằng nhiều vụ án, kể cả những vụ đã qua hai cấp xét xử và bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng vẫn phát hiện có những sai lầm trong quá trình giải quyết làm tổn hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Vì vậy, cần thiết phải xây dựng một cơ chế để kiểm tra, giám đốc việc xét xử của Tòa án nhằm khắc phục tình trạng nói trên.
Thủ tục giám đốc thẩm dân sự là một thủ tục đặc biệt của tố tụng dân sự do Tòa án có thẩm quyền thực hiện để xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp 14 luật bị kháng nghị do phát hiện có sai lầm hoặc vi phạm pháp luật trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án. Giám đốc thẩm dân sự không phải là một cấp xét xử thứ ba và khác biệt với tái thẩm dân sự ở căn cứ kháng nghị. Theo đó, kháng nghị giám đốc thẩm được tiến hành trên cơ sở phát hiện những sai lầm, vi phạm của Tòa án, trong khi đó kháng nghị tái thẩm được dựa trên việc phát hiện những tình tiết làm thay đổi về cơ bản nội dung vụ án. Đến thời điểm hiện tại, do cách tiếp cận khác nhau nên cũng có nhiều quan điểm khác nhau về thủ tục giám đốc thẩm vụ án dân sự.
Có thể nêu ra đây một số quan điểm tiêu biểu như sau: Quan điểm thứ nhất: Dựa vào đối tượng, căn cứ của việc xét lại bản án, quyết định theo thủ tục giám đốc thẩm, Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội đã đưa ra khái niệm như sau: “Giám đốc thẩm dân sự là việc xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án bị kháng nghị do phát hiện có sai lầm, vi phạm pháp luật trong giải quyết vụ án” [36, tr. Quan điểm này về cơ bản đã thể hiện được tính chất của thủ tục giám đốc thẩm, nhưng chưa xác định rõ giám đốc thẩm là một loại thủ tục tố tụng đặc biệt, mà không phải là một cấp xét xử thứ ba. Quan điểm thứ hai: Giáo trình Luật tố tụng dân sự của Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội đã đưa ra khái niệm như sau: “Giám đốc thẩm dân sự là thủ tục tố tụng đặc biệt mà Tòa án có thẩm quyền xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án bị kháng nghị do phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ việc dân sự.303] Quan điểm này về cơ bản đã làm rõ được tính chất, đặc điểm của thủ tục giám đốc thẩm. Tuy nhiên, việc sử dụng thuật ngữ “Tòa án” trong khái niệm này dễ gây nhầm lẫn, người đọc không thể xác định Tòa án có thẩm quyền và Tòa án ra bản án, quyết định bị kháng nghị là một hay là hai Tòa án cấp khác nhau.
15 Quan điểm thứ ba: Căn cứ vào mục đích của việc xét lại bản án, quyết định theo thủ tục giám đốc thẩm, trong Luận án tiến sĩ của mình về “Thủ tục xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật trong tố tụng kinh tế, dân sự ở Việt Nam”, tác giả Đào Xuân Tiến đã cho rằng: “Thủ tục xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật là thủ tục đặc biệt nhằm kiểm tra, xem xét, xác định bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật được xét xử đúng pháp luật và xét xử lại đối với bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng có sai lầm nghiêm trọng hoặc có tình tiết mới làm thay đổi nội dung hoặc kết quả giải quyết vụ án” [34, tr. Với quan điểm này, tác giả Đào Xuân Tiến đã khẳng định thủ tục xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật (trong đó bao gồm thủ tục giám đốc thẩm) là loại thủ tục tố tụng đặc biệt, qua đó đã gián tiếp phân biệt với thủ tục xét xử sơ thẩm và phúc thẩm vụ án dân sự. Tòa án có thẩm quyền tiến hành thủ tục đặc biệt này nhằm hai mục đích: thứ nhất là để kiểm tra, xem xét tính đúng đắn của các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật; thứ hai là để xét xử lại đối với các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng có sai lầm nghiêm trọng hoặc có tình tiết mới làm thay đổi nội dung, kết quả giải quyết vụ án. Như vậy, thủ tục xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật nói chung và thủ tục giám đốc thẩm nói riêng được hiểu theo nghĩa rộng hơn, trong đó bao gồm cả hoạt động giám đốc việc xét xử.
Tuy nhiên, khái niệm trên lại không đề cập đến căn cứ để xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật là phải dựa trên kháng nghị của người có thẩm quyền theo quy định pháp luật. Quan điểm thứ tư: Dựa vào mục đích, căn cứ và đối tượng của việc xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm, tiến sĩ Khuất Văn Nga với bài viết “Thủ tục giám đốc thẩm trong Bộ luật Tố tụng dân sự” đã đưa ra khái niệm như sau: “Thủ tục giám đốc thẩm là một 16 trình tự đặc biệt của tố tụng tư pháp nhằm xét lại những bản án và quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì có vi phạm ở mức độ nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án”[16]. Theo quan điểm này, giám đốc thẩm cũng được khẳng định là một trình tự tố tụng đặc biệt, được tiến hành dựa trên sự kháng nghị của những người có thẩm quyền nhằm mục đích xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật. Đồng thời, khái niệm này đã chi tiết hơn khi đưa ra căn cứ để kháng nghị giám đốc thẩm là các bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật nhưng có vi phạm ở mức độ nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án.
Từ những phân tích trên đây có thể rút ra khái niệm về thủ tục giám đốc thẩm vụ án dân sự như sau: Thủ tục giám đốc thẩm vụ án dân sự là một trình tự tố tụng đặc biệt được tiến hành trên cơ sở kháng nghị của người có thẩm quyền nhằm xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhưng phát hiện có sai lầm, vi phạm pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án dân sự. Nhìn chung, các quan điểm về thủ tục giám đốc thẩm nêu trên tuy khác nhau về cách thức tiếp cận nhưng vẫn thể hiện được những đặc điểm, tính chất cơ bản của loại thủ tục tố tụng đặc biệt này như sau: - Thứ nhất, về tính chất thì thủ tục giám đốc thẩm dân sự là một loại thủ tục tố tụng đặc biệt, chứ không phải là cấp xét xử thứ ba. Theo quy định của pháp luật, mọi bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật đều phải được các cá nhân, đơn vị, tổ chức trong xã hội tôn trọng và nghiêm chỉnh chấp hành. Cơ quan, tổ chức được giao nhiệm vụ thi hành bản án, quyết định phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thi hành đó.
Tuy nhiên, nếu bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực nhưng vẫn không đảm bảo đầy đủ tính có căn cứ và hợp pháp thì bản án, quyết định đó cần phải được xét lại theo thủ tục đặc biệt. Giám đốc thẩm không phải một cấp xét xử 17 như xét xử sơ thẩm hay phúc thẩm, mà thực chất nó là một trong số những hoạt động giám đốc xét xử của Tòa án cấp trên đối với Tòa án cấp dưới. Nội dung của nó là việc Tòa án kiểm tra lại tính có căn cứ và hợp pháp của bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật thông qua hoạt động “xét” chứ không “xử”. Sự khác biệt này thể hiện rõ nét nhất qua các quy định về phiên tòa xét xử sơ thẩm, phúc thẩm vụ án dân sự và phiên xét lại vụ án dân sự theo trình tự giám đốc thẩm, thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm, phúc thẩm và Hội đồng giám đốc thẩm.
Tòa án sau khi tiến hành thủ tục giám đốc thẩm sẽ ban hành một trong các quyết định sau: Không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật; giữ nguyên bản án, quyết định đúng pháp luật của Tòa án cấp dưới đã bị hủy hoặc bị sửa; hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật để xét xử sơ thẩm lại hoặc xét xử phúc thẩm lại; hủy bản án, quyết định của Tòa án đã xét xử vụ án và đình chỉ giải quyết vụ án.